Sông Lô là phụ lưu tả ngạn (bên trái) của sông Hồng, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), chảy vào Việt Nam tại xã Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Sông Lô là phụ lưu tả ngạn (bên trái) củ.
Trang 1Sông Lô là phụ lưu tả ngạn (bên trái) của sông Hồng, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung
Quốc), chảy vào Việt Nam tại xã Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Điểm cuối là ngã ba Việt Trì, còn gọi là ngã ba Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, nơi sông
Lô đổ vào sông Hồng Phần đầu nguồn tại Trung Quốc có tên là Bàn Long
Giang[cần dẫn nguồn], còn phần chảy tại Việt Nam có tên là sông Lô
Theo sách Kiến Văn Lục của Lê Quý Đôn sông Lô còn có tên là "Mã Giang"[1]
Tổng diện tích lưu vực: 39.000 km², trong đó phần ở Việt Nam là 22.600 km²
Đoạn sông Lô chảy ở Việt Nam có chiều dài 274 km (các sách khác nhau ghi từ 264 km tới 277 km)
Đoạn dài 156 km từ ngã ba Việt Trì đến cảng Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, các loại tàu thuyền có tải trọng 100 đến 150 tấn vận tải có thể hoạt động được cả 2 mùa
Đoạn từ thị xã Tuyên Quang đến thị xã Hà Giang, các tàu thuyền có tải trọng nhỏ có thể tham gia vận tải được vào mùa mưa
Phụ lưu
Sông Lô có hai phụ lưu lớn là:
Sông Chảy, chi lưu phía hữu ngạn, hợp lưu tại thị trấn Đoan Hùng, huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
Sông Gâm, chi lưu phía tả ngạn, đổ vào sông Lô ở Khe Lau, tỉnh Tuyên Quang.Ngoài ra còn có các phụ lưu nhỏ khác như:
Sông Phó Đáy, chi lưu phía tả ngạn, hợp lưu gần Việt Trì
Sông Con, chi lưu phía hữu ngạn, hợp lưu tại thị trấn Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quangtỉnh Hà Giang
Các cây cầu bắc ngang sông Lô
Cầu Tân Quang (huyện Bắc Quang- cầu lớn nhất bắc qua sông Lô trên địa phận Việt Nam)
Cầu Tân Hà (thành phố Tuyên Quang)
Cầu Bình Ca (huyện Sơn Dương)
Cầu Nông Tiến (thành phố Tuyên Quang)
Cầu Việt Trì (thành phố Việt Trì)
Cầu Yên Biên (thị xã Hà Giang)
Trang 2Sông Đà
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sông Đà
Sông Đà, nhìn từ trên đập thủy điện Hòa Bình.
Các quốc gia lưu
Thượng nguồn Vân Nam , Trung Quốc
Cửa sông Ngã ba Hồng Đà, Tam Nông , Phú
Thọ
Sông Đà
Sông Đà, còn gọi là sông Bờ hay Đà Giang là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng Sông bắt
nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc - đông nam để rồi nhập vớisông Hồng ở Phú Thọ
Trang 3Sông Đà dài 910 km (có tài liệu ghi 983 km), diện tích lưu vực là 52.900 km² Ở Trung Quốc, sông có tên là Lý Tiên Giang, do hai nhánh Bả Biên Giang và A Mặc Giang hợp thành Trong một số tiếng châu Âu, sông Đà được dịch là sông Đen (tiếng Anh: Black River; tiếng Pháp: rivière Noire).
Đoạn ở Trung Quốc dài khoảng 400 km từ núi Nguy Bảo (巍巍巍) ở huyện tự trị người Di người Hồi Nguy Sơn phía nam châu tự trị châu tự trị dân tộc Bạch Đại Lý chảy theo hướng tây bắc-đông nam qua Phổ Nhĩ
Đoạn ở Việt Nam dài 527 km (có tài liệu ghi 543 km) Điểm đầu là biên giới Việt Trung Quốc tại huyện Mường Tè (Lai Châu) Sông chảy qua các tỉnh Tây Bắc Việt Nam
Nam-là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ (phân chia huyện Thanh Thủy, Phú Thọ với Ba Vì, Hà Nội) Điểm cuối là ngã ba Hồng Đà, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
Đoạn đầu sông trên lãnh thổ Việt Nam, sông Đà còn được gọi là Nậm Tè Các phụ lưu trên lãnh thổ Việt Nam gồm Nậm Na (ở tả ngạn), Nậm Mốc (ở hữu ngạn).[1]
Sông có lưu lượng nước lớn, cung cấp 31% lượng nước cho sông Hồng và là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệp điện Việt Nam Năm 1994, khánh thành Nhà máy Thủy điện Hoà Bình có công suất 1.920 MW với 8 tổ máy Năm 2005, khởi công công trình thủy điện Sơn La với công suất theo thiết kế là 2.400 MW Dự kiến sắp xây dựng nhà máy thủy điện Lai Châu ở thượng nguồn con sông này
Lưu vực có tiềm năng tài nguyên to lớn với nhiều loại khoáng sản quý hiếm, các hệ sinh thái đặc trưng bao gồm các nguồn sinh vật với mức đa dạng sinh học cao
Sông Lục Nam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
- tả ngạn sông Bò, sông Lê Ngạc, sông Chỉ Tác, sông Đan Hộ
- hữu ngạn sông Căn, sông Gốm, sông Cỏ Mạt
Nguồn [1]
- Vị trí Núi Nham, Đình Lập , Lạng Sơn
Trang 4Sông Lục Nam (còn gọi là sông Lục, sông Minh Đức) là một phụ lưu của hệ thống sông
Thái Bình, chảy qua hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang
Sông bắt nguồn từ độ cao khoảng 700 m trên vùng núi Kham thuộc địa phận huyện Đình Lập (Lạng Sơn) theo hướng Tây Nam chảy qua các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam (thuộc tỉnh Bắc Giang) và kết thúc tại địa phận xã Đan Hội (Lục Nam) và xã Trí Yên (Yên Dũng) sau khi giao nhau với sông Thương từ hướng Tây Bắc chảy tới tại Ngã
ba Nhãn (cách Phả Lại 10 km) Sông Lục Nam có các phụ lưu là sông Bò, sông Lê Ngạc, sông Chỉ Tác, sông Đan Hộ (bên tả ngạn) và sông Căn, sông Gốm, sông Cỏ Mạt (bên hữungạn)
Tổng chiều dài của sông gần 200 km, đoạn trên địa phận Lạng Sơn dài 15 km, đoạn trên địa phận Bắc Giang dài khoảng 175 km Tổng diện tích lưu vực của sông Lục Nam khá lớn, vào khoảng 3.070 km², độ cao bình quân lưu vực là 207 m, độ dốc bình quân lưu vực
là 16,5% Khoảng 45 km cuối hạ lưu (từ Chũ đến ngã ba Nhãn), sông rộng thuận tiên chogiao thông đường thủy
Sông Hồng
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xin xem các mục từ khác có tên tương tự ở Sông Hồng (định hướng)
Trang 5Mặt nước sông Hồng về mùa lũ (chụp gần Hà Nội)
Các quốc gia Trung Quốc , Việt Nam
Tỉnh
Cửa sông Cửa Ba Lạt
- vị trí biển ĐôngHải và Giao Thủy (ranh giới hai huyện ) Tiền
Trang 6Sông Hồng và lưu vực
Sông Hồng có tổng chiều dài là 1.149[1] km bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Việt Nam
và đổ ra biển Đông Đoạn chảy trên đất Việt Nam dài 510 km[2]
Mục lục
1 Tên gọi
2 Dòng chảy và lưu lượng
3 Lợi ích và nguy cơ
4 Khai thác thuỷ điện
Quốc được gọi là Nguyên Giang (巍巍, bính âm yuan2 jiang1), đoạn đầu nguồn có tên là
Lễ Xã Giang (巍巍巍) Đoạn từ chảy qua Phú Thọ gọi là Sông Thao, đoạn qua Hà Nội còn
gọi là Nhĩ Hà hoặc Nhị Hà Sử Việt còn ghi sông với tên Phú Lương.
Dòng chảy và lưu lượng
Trang 7Dòng chính (chủ lưu) của sông Hồng bắt
nguồn từ vùng núi thuộc huyện Nguy Sơn,
tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ở độ cao 1.776
m Chi lưu phía đông bắt nguồn từ vùng núi
huyện Tường Vân Chủ yếu nó chảy theo
hướng tây bắc-đông nam, qua huyện tự trị
Nguyên Giang của người Thái (巍 Dăi), Di
(巍), Cáp Nê (巍巍 Hani, ở Việt Nam gọi là
người Hà Nhì) Đến biên giới Việt - Trung,
sông Hồng chạy dọc theo biên giới khoảng
80 km; đoạn thì sang bên lãnh thổ Việt Nam,
đoạn thì sang bên lãnh thổ Trung Quốc Điểm
tiếp xúc đầu tiên của sông Hồng với lãnh thổ
Việt Nam tại xã A Mú Sung (huyện Bát Sát),
chính giữa sông là điểm phân chia lãnh thổ
hai nước Đến thành phố Lào Cai, sông Hồng
chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam qua phía
đông thủ đô Hà Nội trước khi đổ ra biển
Đông ở cửa Ba Lạt (ranh giới giữa hai tỉnh
Thái Bình và Nam Định)
Ở Lào Cai sông Hồng cao hơn mực nước
biển 73 m Đến Yên Bái cách Lào Cai 145 km thì sông chỉ còn ở cao độ 55 m Giữa hai tỉnh đó là 26 ghềnh thác, nước chảy xiết[3] Đến Việt Trì thì triền dốc sông không còn mấy nên lưu lượng chậm hẳn lại Đồng bằng sông Hồng nằm ở hạ lưu con sông này
Các phụ lưu chính của sông Hồng trên lãnh thổ Việt Nam có thể kể đến là sông Đà, sông
Lô (với phụ lưu là sông Chảy và sông Gâm) Sông Hồng có phân lưu phía tả ngạn là sôngĐuống chảy từ Hà Nội đến Phả Lại thuộc Hải Dương và sông Luộc chảy từ Hưng Yên đến Quý Cao (huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) Hai sông này nối sông Hồng với
hệ thống sông Thái Bình Phân lưu phía hữu ngạn là sông Đáy và sông Đài (còn gọi là Lạch Giang hay Ninh Cơ), nối sông Hồng và sông Đáy là hai sông Phủ Lý và sông Nam Định Ở Trung Quốc, các sông như sông Lý Tiên (tức sông Đà), sông Đăng Điều (tức sông Nậm Na), sông Bàn Long (tức sông Lô) và sông Phổ Mai (tức sông Nho Quế) cùng một số sông nhỏ khác như sông Mễ Phúc, sông Nam Khê chảy qua biên giới hai nước vào Việt Nam
Sông Hồng có lưu lượng nước bình quân hàng nǎm rất lớn, tới 2.640 m³/s (tại cửa sông) với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 tỷ m³, tuy nhiên lưu lượng nước phân bổ không đều Về mùa khô lưu lượng giảm chỉ còn khoảng 700 m³/s, nhưng vào cao điểm mùa mưa
Trang 8Nước sông Hồng về mùa lũ có màu đỏ-hồng do phù sa mà nó mang theo, đây cũng là nguồn gốc tên gọi của nó Lượng phù sa của sông Hồng rất lớn, trung bình khoảng 100 triệu tấn trên nǎm tức là gần 1,5 kg phù sa trên một mét khối nước.
Sông Hồng góp phần quan trọng trong sinh hoạt đời sống cũng như trong sản xuất Phù
sa giúp cho đồng ruộng thêm màu mỡ, đồng thời bồi đắp và mở rộng vùng châu thổ ở vùng duyên hải thuộc hai tỉnh Thái Bình, Nam Định Nguồn cá bột của sông Hồng đã cung cấp giống đáng kể cho nghề nuôi cá nước ngọt ở đồng bằng Bắc Bộ
Do lượng phù sa lớn mà lòng sông luôn bị lấp đầy khiến cho lũ lụt thường xuyên xảy ra,
vì thế mà từ lâu hai bên bờ sông người ta đã đắp lên những con đê to nhỏ để tránh lũ lụt ngăn nước
Khai thác thuỷ điện
Hoàng hôn trên sông Hồng, nhìn từ cầu Long Biên
Nguồn thuỷ năng trong lưu vực sông Hồng tương đối dồi dào, điều kiện khai thác thuận lợi nhất là công trình trên sông nhánh, cho đến nay đã xây dựng các trạm thuỷ điện sau:
Các trạm phát điện có công suất lắp máy dưới 10.000 kW tổng cộng là 843 với tổng côngsuất lắp đặt là 99.400 kW và 1 trạm thuỷ điện loại vừa ở Lục Thuỷ Hà có công suất 57.500 kW, như vậy mới khai thác chưa đến 5% khả năng thuỷ điện có thể khai thác trong lưu vực Tổng công suất các trạm thuỷ điện trong lưu vực có thể khai thác đạt 3.375triệu kW trong đó dòng chính sông Hồng chỉ chiếm 23% còn 77% tập trung ở các sông nhánh
Nét nổi bật về khai thác thuỷ điện lưu vực sông Hồng là:
Tập trung khai thác thuỷ điện trên các sông nhánh có đầu nước cao lưu lượng nhỏ,kiểu đường dẫn chuyển nước sang lưu vực địa hình thấp là kinh tế nhất
Dòng chính sông Hồng chảy theo đường thẳng, ít gấp khúc và chêch lệch thuỷ đầu tập trung không nhiều vì vậy phần lớn khai thác kiểu thuỷ điện sau đập, có nhiều khó khăn vì núi cao khe sâu phải làm đập cao để tạo đầu nước sẽ không kinh tế
Trang 9 Các thuỷ điện trên sông nhánh thường xa khu dân cư và đất canh tác rất phân tán, làm thế nào để công trình thuỷ điện đồng thời kết hợp cấp nước cho sản xuất và đời sống của nông dân là vấn đề cần nghiên cứu giải quyết đạt hiệu ích kinh tế.Nhưng do lượng phù xa lớn, làm nông dòng sông và lưu lượng chảy sẽ kém nên sẽ làm giảm hiệu quả hay phá hủy các công trình thủy điện trong tương lai gần.
[ sửa ] Lưu lượng
Trên lãnh thổ Việt Nam (theo thứ tự từ bắc đến nam)
Kim Thành, tỉnh Lào Cai
Cốc Lếu, tỉnh Lào Cai
Phố Mới, tỉnh Lào Cai
cầu Trái Hút (đang xây dựng), tỉnh Yên Bái
cầu Mậu A, tỉnh Yên Bái
cầu Yên Bái, tỉnh Yên Bái
cầu Văn Phú, tỉnh Yên Bái
Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Phong Châu, tỉnh Phú Thọ
Thăng Long, Hà Nội
Trang 10 Nhật Tân (dự án), Hà Nội.
Tứ Liên (dự án), Hà Nội
Long Biên, Hà Nội
Chương Dương, Hà Nội
Vĩnh Tuy, Hà Nội
Thanh Trì, Hà Nội
Yên Lệnh, Hưng Yên-Hà Nam
Tân Đệ, Nam Định-Thái Bình
Trang 11Sông Thái Bình
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sông Thái Bình
Sông Thái Bình đoạn chảy qua thành phố Hải Dương
Các quốc gia lưu vực Việt Nam
Độ dài 100 km (62 dặm)
Thượng nguồn Hợp lưu sông Cầu và sông Thương
Cửa sông Biển Đông
Sông Thái Bình là tên gọi của hai đoạn sông chính trong hệ thống sông Thái Bình:
Đoạn sông ở phía thượng lưu có chiều dài khoảng 64 km được bắt đầu từ địa phận
xã Đồng Phúc (huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang), nơi giao nhau của hai con sôngCầu và sông Thương (còn có tên gọi là Ngã ba Lác), chảy ngoằn ngoèo theo hướng bắc-nam, đi qua và làm ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bắc Ninh và các huyệnChí Linh, Nam Sách của Hải Dương Từ địa phận xã Minh Tân (huyện Nam Sách) đổi hướng chảy theo hướng tây-đông Tới xã Nam Đồng thuộc thành phố Hải Dương nó đổi hướng chảy theo hướng tây bắc-đông nam Đoạn sông này làm thành ranh giới tự nhiên giữa các địa phương của ba tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương; bao gồm các huyện, thị như thành phố Hải Dương, huyện Nam Sách, Cẩm Giàng, Thanh Hà, Tứ Kỳ (tỉnh Hải Dương), Yên Dũng (tỉnh Bắc Giang) và Quế Võ, Gia Bình, Lương Tài (tỉnh Bắc Ninh) Tại địa phận thành phố Hải Dương
nó nhận thêm nước của sông Sặt và sau đó tại ngã ba Mũi Gươm nó nhận nước từ sông Gùa (dài khoảng 4 km, nối sông Thái Bình với sông Văn Úc) Đoạn này của sông Thái Bình kết thúc tại ngã ba Mía (ranh giới giữa bốn xã Vĩnh Lập (huyện Thanh Hà), An Thanh, Quang Trung (huyện Tứ Kỳ), Đại Thắng (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng)) Tại đây nó gặp sông Mía (tên gọi của đoạn sông dài khoảng 3
km nối sông Thái Bình với sông Văn Úc) và sông Cầu Xe
Đoạn sông ở phía hạ lưu cũng có tên gọi là Thái Bình, được bắt đầu từ Quý Cao, điểm tiếp giáp của xã Giang Biên (huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) với các xã QuangTrung, Nguyên Giáp (huyện Tứ Kỳ), nơi được tính là điểm cuối của sông Luộc Sông chảy theo hướng tây-đông khoảng 3 km để nhận thêm nước của sông Kênh Khê (đoạn sông dài khoảng 3 km nối sông Thái Bình với sông Văn Úc), đổi
Trang 12hướng thành bắc-nam, đến địa phận xã Kiến Thiết (Tiên Lãng) uốn vòng cung đổihướng chảy sang hướng tây bắc-đông nam và đổ ra biển Đông tại cửa Thái Bình Cách cửa sông khoảng 7 km nó tiếp nhận nước từ sông Hóa Đoạn sông Thái Bìnhthứ hai này có chiều dài khoảng 36 km và làm ranh giới tự nhiên giữa các huyện Tiên Lãng và Vĩnh Bảo, giữa huyện Tiên Lãng và một phần đông bắc của huyện Thái Thụy (tỉnh Thái Bình).
Ngày trước, hai đoạn sông Thái Bình ở thượng lưu và hạ lưu đều thông với nhau, tuy nhiên về sau do bồi đắp nên dòng chảy bị thu hẹp lại và không thuận lợi cho giao thông cũng như thoát nước Đoạn bị bồi đắp này dài khoảng 5 km theo hướng bắc-nam, hiện nay nó đã được kè lại làm thành một đoạn đập ngăn nước giữa hai đoạn sông Thái Bình
Các sông nhánh và phân lưu
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bài này nói về một con sông, về huyện cùng tên thuộc tỉnh Sơn La, xem bài Sông Mã
Sông Mã
Sông Mã đoạn qua thị trấn Sông Mã
Các quốc gia lưu vực Việt Nam và Lào
Độ dài 512 km
Trang 13Cao độ cửa sông 0 m
Lưu lượng trung bình 52,6m³/s
Diện tích lưu vực 28.400 km²
Thượng nguồn Điện Biên
Cửa sông Cửa Hới (Lạch Hới)
Sông Mã chảy Điện Biên qua Sơn La, Lào, Thanh Hóa ra biển Đông
Sông Mã là một con sông của Việt Nam và Lào có chiều dài 512 km, trong đó phần trên
lãnh thổ Việt Nam dài 410 km và phần trên lãnh thổ Lào dài 102 km
- Đông Nam chảy qua các huyện phía Bắc của tỉnh, hội lưu với sông Chu rồi đổ ra vịnh
Trang 14Bắc Bộ ở cửa Hới nằm giữa huyện Hoằng Hóa và thị xã Sầm Sơn cùng hai cửa phụ là Lạch Trường và cửa Lèn.
Lưu vực của sông Mã rộng 28.400 km², phần ở Việt Nam rộng 17.600 km², cao trung bình 762 m, độ dốc trung bình 17,6%, mật độ sông suối toàn lưu vực 0,66 km/km².[1] Lưu lượng nước trung bình năm 52,6 m³/s
Sông Mã chủ yếu chảy giữa vùng rừng núi và trung du Phù sa sông Mã là nguồn chủ yếutạo nên đồng bằng Thanh Hóa lớn thứ ba ở Việt Nam
Hệ thống sông Mã
Hệ thống sông Mã gồm dòng chính là sông Mã và 2 phụ lưu lớn là sông Chu, sông Bưởi
Hệ thống sông này có tổng chiều dài là 881 km, tổng diện tích lưu vực là 39.756 km², trong đó có 17.520 km² nằm trong lãnh thổ Việt Nam Tổng lượng nước trung bình hàng năm của toàn bộ hệ thống sông là 19,52 tỉ m³[2]
Các phụ lưu lớn của sông Mã là sông Chu, sông Bưởi, sông Cầu Chày đều hợp lưu với sông Mã trên địa phận Thanh Hóa Ngoài ra còn có các phụ lưu nhỏ như sông Lũng, sôngSơn Trà, sông Nậm Soi
Tiềm năng thủy điện lý thuyết của hệ thống sông Mã là 12 tỷ kWh, tiềm năng có thể khai thác là 4.732 triệu kWh và tiềm năng kinh tế là 2,43 tỷ kWh Cùng với nhiệm vụ phát điện, hệ thống này còn có nhiệm vụ thủy lợi: cấp nước cho nông nghiệp, chống lũ hạ du[2]
Sông Mã có độ dốc nhỏ, các công trình thủy điện chủ yếu tập trung vào phụ lưu của nó làsông Chu[2]
Tên gọi
Theo dân gian, sông có tên gọi "Mã" vì dòng nước chảy xiết như ngựa phi Tuy nhiên, theo nghiên cứu về từ nguyên học thì Mã là âm một chữ Hán để ghi tên thật: "sông Mạ", trong đó "mạ" là một từ tiếng Việt cổ còn lưu lại trong phương ngữ miền Trung có nghĩa
là "mẹ" Và tên gốc con sông có nghĩa là "sông lớn"[3]
Ở Lào, sông Mã được gọi là nậm Mã với nậm nghĩa là sông thường dùng ở miền Trung
Lào
Sử Việt còn gọi sông Mã là Lỗi Giang.
Hình ảnh
Trang 15Sông Mã khi chảy qua cầu Hàm Rồng
Chú thích
1 ^ song-ngoi-vi%E1%BB%87t-nam
http://www.scribd.com/doc/40303968/H%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-2 ^ a b c Lưu vực sông Mã
3 ^ Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo Dục, 2006, tr 132
Liên kết ngoài
Bài Lên miền Tây xứ Thanh trên website của Tổng cục Du lịch.
Bài Sông Mã mùa xuân của Thủy Trần trên báo Tuổi Trẻ Online
Bài Buôn bè trên sông Mã của Hà Đồng trên báo Tuổi Trẻ Online
Nghe trực tuyến bài Chào sông Mã anh hùng củaXuân Giao Lời
Mời bạn đóng góp ý kiến về Độ nổi bật liên quan đến các trường trung học phổ thông
Việt Nam
Sông Lam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trang 16Độ dài 513 km (319 dặm)
Cao độ cửa sông 0 m
Lưu lượng trung bình 688 m³/s
Diện tích lưu vực 27.200 km² (10.506 dặm²)
Thượng nguồn Lào
Cửa sông Cửa Hội, biển Đông
Sông Lam, (tên gọi khác ở Việt Nam là Ngàn Cả hay Sông Cả, ở Lào là Nam Khan), là
một trong 2 con sông lớn nhất ở Bắc Trung Bộ Việt Nam
Tổng cộng chiều dài của sông theo Bách khoa toàn thư Việt Nam là khoảng 513 km,[1]
đoạn chảy trong nội địa Việt Nam khoảng 361 km Tuy nhiên có nguồn khác thì cho rằng dòng sông này có hai nguồn chính, nếu tính theo đầu nguồn từ Nậm Mơn (từ dãy Pu Lôi) thì Sông Lam dài 530 km, nếu tính đầu nguồn bắt đàu từ Nậm Mô (cao nguyên Trấn Ninh) thì chiều dài sông là 432 km.[2] Diện tích lưu vực của con sông này là 27.200 km², trong số đó 17.730 km² thuộc Việt Nam Tính trung bình của cả triền sông thì sông Lam nằm ở cao độ 294 m và độ dốc trung bình là 18,3% Mật độ sông suối là 0,60 km/km² Từbiên giới Việt-Lào đến Cửa Rào, lòng sông dốc nhiều với hơn 100 ghềnh thác Từ Cửa Rào trở về xuôi, tàu thuyền nhỏ có thể đi lại được trên sông vào mùa nước Tổng lượng nước 21,90 km³ tương ứng với lưu lượng trung bình năm 688 m³/s và môđun dòng chảy
Trang 17năm 25,3 l/s.km² Lưu lượng trung bình mỗi năm tại Cửa Rào là 236 m³/s, tại Dừa: 430 m³/s Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11 cũng là mùa mưa, góp khoảng 74-80% tổng lượng nước cả năm.
Cầu Bến Thủy
Sông chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, khi gần tới biển chảy ngược lên hướng Bắc
Có một số nhánh sông nhân tạo lấy nước từ Sông Lam như sông Đào
Sách Đại Nam nhất thống chí viết: sông Lam Giang, tục gọi sông Cả, có hai nguồn:
Một nguồn chảy ra từ các núi phủ Trấn Biên xứ Nghệ (nay là đất huyện Samtay tỉnh Hủa
đến phủ Tương Dương xứ Nghệ qua núi Thành Nam gọi là nguồn Tương Nguồn kia bắt đầu từ vùng núi huyện Thúy Vân xứ Nghệ chảy về phía Đông Nam vào phủ Quỳ Châu gọi
là nguồn Hiếu Hai nguồn hợp nhau chảy về Đông đến các huyện Thanh Chương, Nam Đường (nay là Nam Đàn) gặp sông Dương và sông Vũ từ phía Tây đổ vào, sông Cương
từ phía Bắc chảy vào, rồi chảy đến phía Nam núi Lam Thành thì hội với sông La thành sông Tam Chế và đổ ra biển Đông tại cửa Hội.[3]
Tên gọi
Sông Lam, đoạn qua Nghi Xuân, Hà Tĩnh
Ngàn Cả hay sông Cả là tên cũ của sông Lam Ngày nay, sông Cả chỉ phần nhánh chính
từ Nghệ An của sông Lam Nhánh này hợp với nhánh lớn thứ hai là sông La, từ Hà Tĩnh,
Trang 18để tạo thành phần hạ nguồn của sông Lam Tiếng Cả vừa hàm nghĩa là "lớn", vừa có hàm
nghĩa là "mẹ", mẹ của những con sông nhỏ đổ về như Nậm Nơm, Nậm Mộ, sông Giăng,
và sông La Còn tên "sông Lam" có lẽ do màu nước xanh Sông còn có các tên như Lam Giang, Thanh Long Giang, Lam Thủy.
Núi Hồng-Sông Lam
Thương về sông Lam
Đôi bờ Lam Giang
Du lịch sông Lam
Ghi chú
1 ^ Bách khoa toàn thư Việt Nam
2 ^ song-ngoi-vi%E1%BB%87t-nam
http://www.scribd.com/doc/40303968/H%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-3 ^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 26, phụ lục-Các sông lớn của nước ta, trang 254-255
Trang 19Sông Nhật Lệ
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sông Nhật Lệ
Sông Nhật Lệ đoạn qua Đồng Hới
Các quốc gia lưu vực Việt Nam
Độ dài 85 km
Cao độ cửa sông ?
Lưu lượng trung bình ?m³ nước/năm
Diện tích lưu vực ? km²
Thượng nguồn Quảng Bình , Việt Nam
Cửa sông Cửa Nhật Lệ
Xin xem các mục từ khác có tên tương tự ở Nhật Lệ
Sông Nhật Lệ chảy qua địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn từ núi U Bò, Co Roi(Trường Sơn) chảy ra Biển Đông tại cửa Nhật Lệ
Trang 20Sông có chiều dài 85 km với hai nhánh chính: sông Long Đại (hay Đại Giang) chảy qua huyện Quảng Ninh và sông Kiến Giang chảy qua huyện Lệ Thủy, gặp nhau ở Trung Quán.
Sông Nhật Lệ trong lịch sử Việt Nam
Sông Nhật Lệ cùng sông Gianh, Hoành Sơn, Đèo Ngang là những địa danh nổi tiếng của tỉnh Quảng Bình trong dòng chảy lịch sử ,văn hoá của dân tộc Việt Sông Nhật Lệ còn có
tên là Đại Uyên được đổi thành sông Nhật Lệ khoảng năm 1069-1075 Theo Đại Nam
nhất thống chí,từ thời Văn Lang, Âu Lạc (năm 2879 đến 257 trước Công nguyên) thuở vua Hùng dựng nước thì nước ta đã có 15 bộ (xấp xỉ 15 tỉnh) Từ Hoành Sơn trở vào gọi
là bộ Việt Thường Đến các triều đại Tần, Hán, Đường bên Trung Quốc thì nước ta bị thôn tính và chia làm quận huyện để cai trị Thời nhà Tần (221-206 trước Công nguyên), vùng đất Quảng Bình thuộc quận Tượng Lâm, đến thời nhà Triệu (207-111 trước Công nguyên) đổi thành quận Cửu Chân, sang thời Tây Hán (111 trước Công nguyên -39 sau Công nguyên)thuộc quận Nhật Nam Cuối thời Động Hán, bộ tộc Khu Liên lợi dựng nhà Đông Hán suy yếu đã nổi dậy chiếm Tượng Quận và Nhật Nam lập nên Lâm Ấp (sau nàygọi là Chiêm Thành) Quảng Bình là vùng ranh giới thời Đại Việt và Chiêm Thành sau khi người Việt giành được độc lập (939) và trước thời kỳ Nam Tiến của người Việt (1069)
Vua Lý Thánh Tông năm 1054 đã đổi tên nước thành Đại Việt Do Chiêm Thành thường
ra quấy nhiễu, năm 1063 vua Lý Nhân Tông đã đích thân nam chinh Vua chọn thái uý LýThường Kiệt làm nguyên soái tiên phong chỉ huy 5 vạn quân theo đường thuỷ tiến vào cửa biển Nhật Lệ , đánh bại quân Chiêm, bắt sống Chế Củ Vua Chiêm đã chuộc mạng bằng cách tôn trọng chủ quyền của Đại Việt ở ba châu Bố Chính (Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch ngày nay), Địa Lý (Lệ Thuỷ và Quảng Ninh bây giờ), Ma Linh (Quảng Trị hiện tại) Năm 1074, Chế Củ chết, người kế vị lại đánh chiếm ba châu Năm 1075, vua Lý Nhân Tông cử Lý Thường Kiệt vào bình định lại, chính thức vẽ bản đồ cương giới ba châu, đổi lại tên của nhiều địa danh, giữ tên châu Bố Chính, đổi tên châu Điạ Lý thành châu Lâm Bình, châu Ma Linh thành châu Minh Linh, xuống chiếu mộ dân vào giữvùng đất mới và tổ chức việc cai trị Đây là đợt di dân đầu tiên để vào giữ đất và khai khẩn đất phương Nam Tên sông Nhật Lệ dường như được đặt lại trong dịp đó
Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh (1570-1786) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672) giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài thì chiến trường chính là miền Bố Chính,
từ đèo Ngang đến Nhật Lệ Trong cuộc chiến Trịnh Nguyễn, quân Trịnh án ngữ ở đèo Ngang đến bờ bắc sông Gianh Bờ nam sông Gianh đến sông Nhật Lệ là tuyến phòng thủ của quân Nguyễn với những thành lũy chắc chắn do Đào Duy Từ tổ chức xây đắp, luỹ Thầy dài 18 km, luỹ Trường Dục dài 10 km Di tích Lũy Thầy, Quảng Bình quan, thành quách của thời Trịnh Nguyễn nay vẫn còn
Trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), không lực Hoa Kỳ đã đánh phá miền Bắc Việt Nam ác liệt nhất tại tỉnh Quảng Bình Những trọng điểm nổi tiếng ác liệt, lưu dấu nhiều chứng tích chiến tranh là phà Long Đại (nay là cầu Long Đại), phà Xuân Sơn, phà sông
Trang 21Gianh (nay là cầu Sông Gianh), đèo Ngang, quốc lộ 1, đường 15, hệ thống đường 559 (đường Trường Sơn, đường mòn Hồ Chí Minh), thành phố Đồng Hới, cửa biển Nhật Lệ.
Sông Nhật Lệ là thắng cảnh du lịch
Cầu Nhật Lệ bắc qua sông Nhật Lệ
Nhật Lệ là dòng sông tuyệt đẹp của vùng đất miền Trung Tên sông có nghĩa là "sự rực rỡcủa ánh sáng mặt trời" đã được ngợi ca trong câu thơ cổ của Hồ Thiên Du "nhật chi lệ bất
vô chi chúc giả" nghĩa là "sự rực rỡ của ánh sáng mặt trời thì không nơi nào là nó không chiếu đến được" Khi mặt trời nhô lên khỏi cồn cát Bảo Ninh, đứng ở bờ nam sông Nhật
Lệ nhìn về hướng đông sẽ thấy con sông lấp lánh sáng rực rỡ suốt dọc chiều dài hàng trăm mét "Người Đồng Hới vẫn có cái thú ra bờ sông ngắm mặt trời mọc Dẫu có đến ngàn lần thì cứ vẫn háo hức như mới thấy lần đầu"
Ngay tại thành phố Đồng Hới du khách dễ dàng tham quan thành Đồng Hới, Quảng Bình quan, lũy Thầy Trong một bán kính không xa từ thành phố Đồng Hới, về hướng đông nam là bãi tắm Nhật Lệ và di tích Bàu Tró,làng du lịch Bảo Ninh; về hướng tây là khu di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, các di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh, khu thương mại cửa khẩu quốc tế Cha Lo-Nà Phàu; về phía bắc là các khu danh thắng LýHoà, xa hơn một chút là sông Gianh, Đèo Ngang, vũng Chùa, đảo Yến; về hướng nam dukhách có thể tham quan nhà lưu niệm Võ Nguyên Giáp, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, suối nước khoáng nóng Bang (nguồn nước khoáng duy nhất tại Việt Nam có nhiệt độ sôi tại lỗphun là 105 độ C), tham quan hồ An Mã với cảnh đẹp nên thơ và nhiều di tích văn hoá, lịch sử khác
Trang 22 đường Hồ Chí Minh
Sông Bến Hải
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải
Sông Bến Hải hay Rào Thanh[1] là một con sông tại miền Trung Việt Nam Sông này bắt nguồn từ núi Động Chân[1] thuộc dãy Trường Sơn và chảy dọc theo vĩ tuyến 17° Bắc từ tây sang đông rồi đổ ra biển ở Cửa Tùng Bến Hải là một địa danh ở thượng lưu sông, nêntên sông Bến Hải lấy từ địa danh này Sông Bến Hải chảy cách biển khoảng 20 km thì nhận một phụ lưu là sông Sa Lung bên tả ngạn Hai con sông hợp lưu chảy tiếp ra Biển Đông, qua một làng ở bờ bắc có tên là Minh Lương nên được gọi là sông Minh Lương.Sông có tổng chiều dài chừng 100 km, nơi rộng nhất khoảng 200 m, là ranh giới giữa hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh thuộc tỉnh Quảng Trị
Về tên sông, có thuyết nói là địa danh nguyên gọi là "Bến Hói" "Hói" là tiếng địa
phương nghĩa là dòng sông nhỏ Vì vậy "Bến Hải" là đọc trại từ "Bến Hói"
Trang 23Triều Minh Mạng nhà Nguyễn, do phải kiêng húy của vua nên cả tên làng và tên sông
"Minh Lương" đều đổi thành Hiền Lương Sau đó khi có cây cầu bắc ngang sông không
mấy xa ngã ba sông Sa Lung và sông Bến Hải cũng mang tên cầu Hiền Lương
Sông Bến Hải được biết đến nhiều nhất vì vị trí chia cắt hai miền Nam và Bắc Việt Nam trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam Về mặt địa lý thì sông nằm nhích xuống phía nam
vĩ tuyến 17 Hiệp định Genève quy định đây là giới tuyến phi quân sự tạm thời vào năm 1954
Ngày 4 tháng 10 năm 1957 báo chí Việt Nam Cộng hòa loan tin có ba người vượt tuyến
từ miền Bắc bơi qua sông Bến Hải vào Nam.[2]
Trang 24 Sông Đa Krông
Sông Xê Pôn
Sông Sê Păng Hiêng
Sông Thạch Hãn
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sông Thạch Hãn trên bản đồ
Trang 25Sông Đa Krông, một phụ lưu cấp 2 của sông Thạch Hãn
Hoàng hôn trên sông Thạch Hãn
Sông Hiếu, một phụ lưu cấp 1 của sông Thạch Hãn
Sông Thạch Hãn (hay còn gọi là sông Quảng Trị) là con sông lớn nhất tỉnh Quảng Trị
Sông có lưu lượng dòng chảy trung bình năm khoảng 130 m³/giây Sông có 37 phụ lưu, diện tích lưu vực 2.660 km² Ba phụ lưu chính là sông Vĩnh Phước, sông Rào Quán (phầnthượng nguồn gọi là sông Đa Krông[1]), sông Cam Lộ (phần hạ nguồn gọi là sông Hiếu).[2]
Sông có chiều dài 155 km, bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn ở phía Tây tỉnh Quảng Trị
và đổ ra biển Đông qua Cửa Việt Sông Thạch Hãn chảy qua phía Tây Nam thị xã Quảng Trị (thị xã được hình thành từ làng Thạch Hãn), đoạn rẽ nhánh của dòng Thạch Hãn là sông Vĩnh Định chảy qua phía Bắc thị xã, tại đây, sông bị chặn bởi đập An Tiêm nên lượng nước không lớn Đoạn qua thị xã Quảng Trị sông rộng 150-200 m, là đường thủy nối liền Quảng Trị lên Ba Lòng, về biển Đông (Cửa Việt) Từ khi công trình thủy lợi NamThạch Hãn hoàn thành (cuối thập niên 1970) thì dòng sông Thạch Hãn mùa hè cạn trơ đáy, có thể lội bộ qua sông đoạn thị xã Quảng Trị và nhiều đoạn khác; mùa lũ thì nước dâng cao ngập toàn thị xã do bờ kênh thủy lợi đồng thời là con đập chắn lũ làm ngập chỉ một phía bắc bờ kênh Để giải quyết tình trạng này, năm 2006 chính quyền sở tại cho xây dựng các điểm tràn trên bờ đập kênh để chia lũ dòng sông
Về tên gọi Thạch Hãn, có thể được lý giải rằng do ở giữa nguồn có một mạch đá ngầm chắn ngang sông, tên sông đặt theo đặc điểm này nên mới có tên là Thạch Hãn Theo Đại Nam nhất thống chí sông Thạch Hãn dài khoảng 170 dặm bao gồm cả đầu nguồn Với độ dài như vậy nên lượng phù sa do sông tải đến không nhiều, trừ những ngày lũ lụt, nước thường trong xanh nhìn thấy đáy