1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giáo trình luật quốc tế full

121 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Luật Quốc Tế
Tác giả Ts. Trần Văn Thắng, Ts. Nguyễn Trung Tín
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại giáo trình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 668,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o §¹i häc huÕ trung t©m ®µo t¹o tõ xa ts TrÇn v¨n th¾ng ts nguyÔn trung tÝn (§ång chñ biªn) Gi¸o tr×nh LuËt Quèc TÕ Nhµ XuÊt b¶n C«ng an nh©n d©n 1 MỤC LỤC Ch−¬ng I Lý luËn chung.

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Đại học huế trung tâm đào tạo từ xa

ts Trần văn thắng - ts nguyễn trung tín

(Đồng chủ biên)

Giáo trình Luật Quốc Tế

Nhà Xuất bản Công an nhân dân

1

Trang 2

MỤC LỤC

Chương I: Lý luận chung về Luật quốc tế 10

I Khái niệm Luật quốc tế 10

1 Sự xuất hiện Luật quốc tế 10

2- Định nghĩa Luật quốc tế 11

3- Thuật ngữ "Luật quốc tế" 12

II Những đặc điểm cơ bản của Luật quốc tế 13

1 Đặc điểm về đối tượng điều chỉnh 14

2 Đặc điểm về chủ thể 15

3 Về trình tự xây dựng và ban hành quy phạm Luật quốc tế 15

4 Về phương thức đảm bảo thi hành Luật quốc tế 16

III Lịch sử hình thành và phát triển của Luật quốc tế trước cách mạng tháng mười nga năm 1917 17

1 Khái quát chung 17

2 Luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ (Luật quốc tế cổ đại) 18

3 Luật quốc tế thời kỳ phong kiến 19

4 Luật quốc tế thời kỳ Tư bản chủ nghĩa 21

IV Luật quốc tế hiện đại 24

1 Sự hình thành và phát triển của Luật quốc tế hiện đại 24

2 Bản chất và vai trò của Luật quốc tế hiện đại 26

3 Hệ thống Luật quốc tế hiện đại 28

V Nguồn của Luật quốc tế hiện đại 31

1 Khái niệm nguồn của Luật quốc tế 31

2 Điều ước quốc tế 33

3 Tập quán quốc tế 34

4 Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế 36

5 Các phương tiện bổ trợ nguồn của Luật quốc tế 38

VI Mối quan hệ giữa Luật quốc tế và pháp Luật quốc gia 40

1 Các học thuyết về hệ thống pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia 41

2 Sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai hệ thống pháp luật 42

3 Vấn đề hiệu lực của Luật quốc tế và Luật quốc gia 45

2

Trang 3

4 Thực hiện Luật quốc tế ở các quốc gia 47

Câu hỏi hướng dẫn học tập 50

Chương II: Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế 51

I Khái niệm 51

1 Những đặc trưng của các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế 51

2 Quá trình hình thành các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế 52

II nội dung các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế 53

1 Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia 53

2 Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau 54

3 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc 55

4 Nguyên tắc không được dùng vũ lực và đe doạ sử dụng nó 56

5 Nguyên tắc hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 58

6 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau 59

7 Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế 61

Câu hỏi hướng dẫn học tập 63

Chương III: Khái niệm và các loại chủ thể 64

I Khái niệm và các loại chủ thể 64

1 Khái niệm 64

2 Phân loại chủ thể 64

3 Quyền năng chủ thể của Luật quốc tế 65

II Địa vị pháp lý của các chủ thể 65

1 Quốc gia 65

2 Các dân tộc đấu tranh thực hiện quyền tự quyết 67

3 Các thực thể mang tính chất quốc gia 69

4 Tổ chức quốc tế 70

III Công nhận trong Luật quốc tế 70

1 Khái niệm 70

2 Các thể loại công nhận 71

3 Các hình thức công nhận 73

IV kế thừa trong Luật quốc tế 74

1 Khái niệm 74

2 Cách giải quyết vấn đề thừa kế của quốc gia 76

Câu hỏi hướng dẫn học tập 80

Chương IV: Luật điều ước quốc tế 81

I Khái niệm và nguồn của Luật điều ước quốc tế 81

3

Trang 4

1 Khái niệm 81

2 Nguồn của Luật điều ước quốc tế 83

II Khái niệm điều ước quốc tế 83

1 Định nghĩa điều ước quốc tế 83

2 Tên gọi và cơ cấu của điều ước quốc tế 84

3 Phân loại và ngôn ngữ của điều ước quốc tế 85

III Thủ tục và trình tự ký kết điều ước quốc tế 86

1 Khái niệm 86

2 Các giai đoạn ký kết điều ước quốc tế 86

3 Đàm phán và thông qua văn bản 87

4 Các phương thức công nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế 89

IV Hiệu lực của điều ước quốc tế 92

1 Điều kiện có hiệu lực của điều ưỡc quốc tế 92

2 Thời gian và không gian có hiệu lực của điều ước 93

3 Điều ước quốc tế không hợp pháp hết hiệu lực và bị đình chỉ hiệu lực 94

V Thực hiện điều ước 95

1 Giải thích điều ước 95

2 Đăng ký và công bố điều ước quốc tế 97

3 Thi hành và bảo đảm thực hiện điều ước 98

Câu hỏi hướng dẫn học tập 99

Chương V: Dân cư trong Luật quốc tế 100

I Khái niệm dân cư trong Luật quốc tế hiện đại 100

II Quốc tịch 101

1 Khái niệm quốc tịch 101

2 Hưởng quốc tịch 103

3 Mất quốc tịch 109

4 Vấn đề hai hay nhiều quốc tịch và không quốc tịch 111

5 Địa vị pháp lý của người nước ngoài 113

III Luật quốc tế và vấn đề bảo vệ quyền con người 114

1 Vấn đề quyền con người trong Luật quốc tế 114

2 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người 116

3 Việt Nam và vấn đề bảo vệ quyền con người 118

Câu hỏi hướng dẫn học tập 121

Chương VI: Lãnh thổ quốc gia 122

I Khái niệm lãnh thổ quốc gia trong Luật quốc tế 122

4

Trang 5

1 Khái quát chung 122

2 Xác định lãnh thổ quốc gia 123

II Quy chế pháp lý về lãnh thổ quốc gia 124

1 Quyền tối cao của các quốc gia đối với lãnh thổ 124

2 Các chủ quyền của quốc gia đối với lãnh thổ 126

III Những hình thức thủ đắc lãnh thổ trong luật pháp quốc tế 128

1 Các hình thức thủ đắc lãnh thổ trong lịch sử 128

2 Hình thức thủ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu 129

IV Nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia 131

1 Khái niệm bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ 131

2 Cấm có lãnh thổ quốc gia bằng cách dùng vũ lực và đe doạ sử dụng nó 132

V Biên giới quốc gia 134

1 Khái niệm và các loại biên giới 134

2 Chế độ pháp lý của biên giới quốc gia 135

3 Các tranh chấp biên giới 136

Câu hỏi hướng dẫn học tập 139

Chương VII: Luật biển quốc tế 140

I Quá trình hình thành và phát triển Luật biển quốc tế 140

II Chế độ pháp lý quốc tế của các vùng biển 147

Câu hỏi hướng dẫn học tập 164

Chương VIII: Luật hàng không quốc tế 165

I Khái niệm, quá trình phát triển và các nguyên tắc cơ bản của Luật hàng không quốc tế 165

1 Khái niệm 165

2 Quá trình phát triển Luật hàng không quốc tế 167

3 Các nguyên tắc cơ bản của Luật hàng không quốc tế 168

II Chế độ pháp lý các chuyến bay quốc tế 170

1 Chế độ pháp lý về máy bay và phi hành đoàn 170

2 Chế độ pháp lý của các chuyến bay quốc tế trên không phận quốc gia 171

3 Chế độ pháp lý các chuyến bay trên không phận quốc tế 172

4 Các thương quyền trong hàng không quốc tế 173

III Sự điều chỉnh pháp lý quốc tế về chống tội phạm trong hàng không174 1 Khái niệm các hành vi can thiệp vào hoạt động hàng không dân dụng 174

5

Trang 6

2 Dẫn độ và trừng phạt tội phạm 175

IV Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) 175

1 Mục đích hoạt động của ICAO 175

2 Các cơ quan của ICAO 176

Câu hỏi hướng dẫn học tập 177

Chương IX: Luật ngoại giao và lãnh sự 178

I Khái niệm, nguồn của luật ngoại giao và lãnh sự 178

1 Khái niệm 178

2 Nguồn của Luật ngoại giao và lãnh sự 179

II Hệ thống các cơ quan quan hệ đối ngoại của Nhà nước 180

1 Các cơ quan quan hệ đối ngoại trong nước 180

2 Các cơ quan quan hệ đối ngoại ở nước ngoài 181

III Các cơ quan quan hệ đối ngoại ở trong nước 181

1 Nguyên thủ quốc gia (người đứng đầu Nhà nước) 181

2 Quốc hội 181

3 Chính phủ 182

4 Người đứng đầu Chính phủ 182

5 Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Bộ Ngoại giao 182

IV Các cơ quan quan hệ đối ngoại ở nước ngoài 183

A Các cơ quan đại diện ngoại giao 183

1 Khái niệm và phân loại cơ quan đại diện ngoại giao 183

2 Chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao 184

3 Cấp bậc và hàm đại diện ngoại giao 184

4 Trình tự bổ nhiệm đại diện ngoại giao 185

5 Khởi đầu và kết thúc chức vụ đại diện ngoại giao 186

6 Thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao 186

7 Đoàn ngoại giao 187

8 Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao 188

B Phái đoàn thường trực của các quốc gia tại các tổ chức quốc tế 189

C Cơ quan lãnh sự 191

1 Khái niệm về cơ quan lãnh sự 191

2 Chức năng của cơ quan lãnh sự 192

3 Cấp lãnh sự và người đứng đầu cơ quan lãnh sự 193

4 Thành viên của cơ quan lãnh sự 193

5 Bổ nhiệm lãnh sự 194

6 Kết thúc chức năng lãnh sự 194

6

Trang 7

7 Khu vực lãnh sự 195

8 Đoàn lãnh sự 195

9 Quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự 195

Câu hỏi hướng dẫn học tập 197

Chương X: Luật kinh tế quốc tế 198

I Khái niệm, nguồn và các nguyên tắc Luật kinh tế quốc tế 198

1 Khái niệm 198

2 Nguồn của Luật kinh tế quốc tế 199

3 Các nguyên tắc của Luật kinh tế quốc tế 202

II Sự điều chỉnh của pháp Luật kinh tế quốc tế đối với các loại quan hệ kinh tế quốc tế 203

1 Sự điều chỉnh của pháp Luật kinh tế quốc tế trong một số lĩnh vực203 2 Sự điều chỉnh của pháp Luật kinh tế quốc tế đối với sự hợp tác kinh tế trong các khu vực 206

Câu hỏi hướng dẫn học tập 212

Chương XI: Luật quốc tế về xung đột vũ trang 213

I Khái niệm và nguồn 213

1 Khái niệm 213

2 Nguồn của Luật quốc tế về chiến tranh 214

II Luật quốc tế về tiến hành chiến tranh 215

1 Bắt đầu chiến sự và hậu quả của nó 215

2 Các bên tham chiến 216

3 Luật quốc tế về công cụ và biện pháp tiến hành chiến tranh 217

4 Chế độ pháp lý về việc chiếm đóng 218

5 Kết thúc chiến tranh và hậu quả của nó 218

III Luật quốc tế về bảo vệ thương binh, bệnh binh, tù binh và di tích văn hoá 219

1 Luật quốc tế về bảo vệ thương binh và tù binh 219

2 Bảo vệ các di sản văn hoá 220

Câu hỏi hướng dẫn học tập 222

Chương XII: Các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế 223

I Khái niệm các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế 223

II Phân loại các biện pháp hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 225 III Các biện pháp cụ thể giải quyết tranh chấp 226

7

Trang 8

1 Đàm phán trực tiếp 226

2 Biện pháp hỗ trợ: môi giới và trung gian 228

3 Các ủy ban điều tra và hoà giải 230

4 Các biện pháp xét xử 232

5 Giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế tại các tổ chức quốc tế 236 Câu hỏi hướng dẫn học tập 240

Chương XIII: Hội nghị và tổ chức quốc tế 241

Phần I - Hội nghị quốc tế 241

I Khái niệm và phân loại 241

1 Khái niệm 241

2 Phân loại hội nghị quốc tế 241

II Thể thức triệu tập và các công việc của hội nghị 242

1 Triệu tập hội nghị 242

2 Quy chế và trật tự thông qua quyết định tại hội nghị 243

3 Các đoàn đại biểu 245

4 Các cơ quan của hội nghị 245

5 Các văn bản thông qua tại hội nghị 247

Phần II - Tổ chức quốc tế 248

I Khái niệm tổ chức quốc tế 248

1 Định nghĩa 248

2 Phân loại các tổ chức quốc tế 249

3 Trật tự thành lập của tổ chức quốc tế 249

4 Cơ sở pháp lý của tổ chức quốc tế 250

5 Thẩm quyền, quyền hạn và chức năng của tổ chức quốc tế 253

6 Các cơ quan của tổ chức quốc tế 254

7 Việc thông qua quyết định của tổ chức quốc tế 255

II Liên Hợp Quốc 256

1 Lịch sử hình thành Liên Hợp Quốc 256

2 Các cơ quan chính của Liên Hợp Quốc 257

Câu hỏi hướng dẫn học tập 261

Chương XIV: Trách nhiệm pháp lý quốc tế 262

I Khái niệm, nguồn và chủ thể 262

1 Khái niệm 262

2 Nguồn của chế định trách nhiệm pháp lý quốc tế 263

3 Chủ thể trách nhiệm pháp lý quốc tế 264

II Các hành vi vi phạm pháp luật 264

8

Trang 9

1 C¸c dÊu hiÖu vi ph¹m LuËt quèc tÕ 264

2 C¸c d¹ng vi ph¹m ph¸p luËt quèc tÕ 265

III c¸c thÓ lo¹i, h×nh thøc vµ c¬ së truy cøu tr¸ch nhiÖm ph¸p lý quèc tÕ 267

1 C¸c thÓ lo¹i vµ h×nh thøc truy cøu tr¸ch nhiÖm ph¸p lý quèc tÕ 267

2 C¬ së truy cøu tr¸ch nhiÖm ph¸p lý quèc tÕ 269

3 C¬ së miÔn truy cøu tr¸ch nhiÖm ph¸p lý quèc tÕ 271

C©u hái h−íng dÉn häc tËp 273

9

Trang 10

Chương I

lý luận chung về Luật quốc tế

I Khái niệm Luật quốc tế

1 Sự xuất hiện Luật quốc tế

Lý luận về Nhà nước và pháp luật đã chứng minh rằng sự phân chia xã hội thành giai cấp dẫn đến sự ra đời của Nhà nước; rằng sự xuất hiện Nhà nước là hiện tượng khách quan, là sản phẩm của xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước đã dùng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong nội bộ quốc gia mình, nhằm làm cho xã hội tồn tại

và phát triển trong vòng trật tự mà giai cấp thống trị duy trì

Theo thời gian, Nhà nước xuất hiện ở từng khu vực khác nhau trên thế giới

và, từ đó, từng bước phát sinh các mối quan hệ giữa các quốc gia trong từng lĩnh vực nhất định Đó là các mối quan hệ phát sinh trong chiến tranh giữa các nước nhằm tranh giành lãnh thổ, chiếm đoạt tài sản và cướp nô lệ của nhau; là việc các nước cử đến nhau sứ giả để thương thuyết về lãnh thổ, về đình chiến hoặc tạo

ra mối quan hệ thân thiết, hoà bình; là việc hai hay nhiều nước liên minh với nhau để chống lại nước khác hoặc để bảo vệ mình chống lại sự xâm lăng của nước khác v.v Những mối quan hệ này, về mặt khách quan, đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật tương ứng - những quy phạm được gọi là những quy phạm pháp Luật quốc tế Từ đó Luật quốc tế ra đời và từng bước đáp ứng nhu cầu điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh giữa các quốc gia với nhau trong từng lĩnh vực của đời sống quốc tế

Nếu tìm về cội nguồn của Nhà nước Hy Lạp và La Mã cổ đại chúng ta thấy, trong thời cổ đại ở Hy Lạp ban đầu xuất hiện các quốc gia tỉnh thành nhỏ bé rồi sau đó các quốc gia này liên minh với nhau tạo nên quốc gia thành bang, trong đó

có hai quốc gia thành bang hùng mạnh nhất là Aten và Spác Trong mấy chục năm (431 - 409 trước Công nguyên) giữa hai quốc gia này có chiến tranh nhằm tranh giành quyền thống trị toàn Hy Lạp cổ đại

10

Trang 11

Trong thế kỷ II trước Công nguyên đã xảy ra chiến tranh giữa Hy Lạp và

La Mã với sự thắng trận của La Mã về quân sự, nhưng rồi chính La Mã lại bị

Hy Lạp chinh phục về văn hoá

Các quốc gia dù liên minh để tồn tại và phát triển hay tiến hành chiến tranh

để thôn tính lẫn nhau, thì trong quá trình đó, dù ít, dù nhiều cũng đều cần phải

có quy phạm để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh giữa các Nhà nước cổ đại Các quy phạm này chính là quy phạm pháp Luật quốc tế

Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của Luật quốc tế cho thấy Luật quốc tế xuất hiện do hai nguyên nhân khách quan, đó là:

- Có sự xuất hiện những Nhà nước đầu tiên ở từng khu vực địa lý khác nhau trên thế giới;

- Có các mối quan hệ phát sinh giữa các quốc gia do nhu cầu tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của mình

Như vậy, Luật quốc tế chỉ ra đời sau khi xuất hiện các Nhà nước đầu tiên ở từng khu vực nhất định Luật quốc tế xuất hiện không phải do ý muốn chủ quan của con người mà do kết quả khách quan của sự tồn tại và phát triển của cộng

đồng các quốc gia

Cũng như Nhà nước và pháp luật nói chung, Luật quốc tế là một hiện tượng lịch sử, được hình thành và phát triển cùng với lịch sử phát triển của xã hội loài người Việc nghiên cứu sự xuất hiện Luật quốc tế chỉ có thể thành công khi nó nằm trong việc nghiên cứu chung về sự ra đời của Nhà nước và pháp luật

2- Định nghĩa Luật quốc tế

ở những thời gian khác nhau, trong sách báo pháp lý của Việt Nam và nước ngoài đã có nhiều định nghĩa về Luật quốc tế Các định nghĩa được đề cập đến với mức độ khái quát ở phạm vi rộng hẹp khác nhau, nhưng nhìn chung đều đã thể hiện nội dung pháp lý của nó, đưa ra những dấu hiệu cơ bản của Luật quốc tế, phân biệt ranh giới giữa nó với các ngành luật trong hệ thống pháp Luật quốc gia

Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra định nghĩa như sau:

"Luật quốc tế hiện đại là hệ thống những nguyên tắc, những quy phạm pháp lý

được các quốc gia và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp lý quốc tế xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng, nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể của Luật quốc tế với nhau (trước tiên và chủ yếu là giữa các quốc gia) và trong những trường hợp cần thiết được bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp

11

Trang 12

cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể của Luật quốc tế thi hành,

và bằng sức đấu tranh của nhân dân và dư luận tiến bộ thế giới"1

Các học giả Liên Xô (cũ), trong công trình nghiên cứu của mình từ những năm 80 đã định nghĩa Luật quốc tế là "Hệ thống các quy phạm và nguyên tắc

điều ước và tập quán điều chỉnh các quan hệ quốc tế, thể hiện ý chí thoả thuận của các quốc gia, phù hợp với sự tác động có tính quy luật của sự phát triển xã hội trong từng thời kỳ nhất định"1

Như vậy, có thể định nghĩa Luật quốc tế một cách tỉ mỉ, cụ thể và cũng có

thể định nghĩa theo hướng khái quát hơn Theo cách này, chúng ta hiểu: "Luật quốc tế là tổng thể những nguyên tắc và quy phạm pháp lý, do các quốc gia và chủ thể khác thoả thuận xây dựng nên nhằm điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa họ với nhau trong các lĩnh vực của đời sống quốc tế" 2

Theo định nghĩa này chúng ta thấy:

- Thứ nhất, Luật quốc tế bao gồm những nguyên tắc và quy phạm pháp lý

Đây có thể là những nguyên tắc và quy phạm chung áp dụng cho tất cả các quốc gia trên thế giới và có thể chỉ áp dụng cho từng nhóm nước nhất định;

- Thứ hai, các quy phạm và nguyên tắc của Luật quốc tế chủ yếu do các quốc

gia xây dựng nên thông qua thoả thuận, bằng cách ký kết các điều ước quốc tế hoặc cùng chấp nhận những tập quán pháp lý quốc tế liên quan

Ngoài quốc gia còn có các chủ thể khác của Luật quốc tế cũng tham gia xây dựng nên những nguyên tắc và quy phạm của nó;

- Thứ ba, Luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia

với nhau hoặc với các chủ thể khác của Luật quốc tế (các tổ chức quốc tế liên chính phủ, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết) Đó là các mối quan

hệ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học v.v…

3- Thuật ngữ "Luật quốc tế"

Trong từng thời gian khác nhau, ở các nước trên thế giới, ngoài thuật ngữ

"Luật quốc tế" người ta còn sử dụng một số thuật ngữ khác để chỉ Luật quốc tế, như "Luật các dân tộc", "Luật giữa các quốc gia", "Luật đối ngoại", Tuy nhiên, những tên gọi này ngày nay đều không được thừa nhận trong lý luận và thực tiễn quốc tế

Bên cạnh thuật ngữ "Luật quốc tế", thuật ngữ được dùng nhiều nhất là

"Công pháp quốc tế" Thông thường "Công pháp quốc tế" được dùng để phân biệt

1 Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật quốc tế Nxb Công an nhân dân - Hà Nội, 1998, tr.6

1 Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật quốc tế Nxb Công an nhân dân - Hà Nội, 1998, tr.6

2 Từ điển Luật quốc tế, Nxb Mat-xcơ-va, 1982, tr 91 (tiếng Nga)

12

Trang 13

với "tư pháp quốc tế" Thuật ngữ "Công pháp quốc tế" xuất hiện do có những

quan điểm cho rằng Luật quốc tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả Công pháp

quốc tế và tư pháp quốc tế

ở Việt Nam, thuật ngữ "Luật quốc tế" được sử dụng thống nhất trong các

giáo trình và sách báo pháp lý Chúng ta có thể gọi ngành luật đang nghiên cứu

này là "Luật quốc tế" hoặc "Công pháp quốc tế" Tuy nhiên, điều đó không có

nghĩa Luật quốc tế bao gồm hai bộ phận cấu thành là Công pháp quốc tế và tư

pháp quốc tế Tư pháp quốc tế không là một bộ phận của Luật quốc tế

Về mặt lý luận "Luật quốc tế" hay "Công pháp quốc tế" là hai thuật ngữ

đồng nhất, chỉ có một nội dung thống nhất mà thôi

Ngoài ra, trong sách báo pháp lý chúng ta còn thấy các thuật ngữ khác, như:

Luật quốc tế hiện đại, Luật quốc tế chung, Luật quốc tế khu vực, Luật biển quốc

tế, Luật hàng không quốc tế, Luật điều ước quốc tế, Luật ngoại giao và lãnh sự

v.v

Luật quốc tế hiện đại là Luật quốc tế của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản

lên chủ nghĩa xã hội, bắt đầu từ sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917

Luật quốc tế chung được áp dụng cho tất cả các nước trên thế giới

Luật quốc tế khu vực bao gồm các nguyên tắc và quy phạm pháp lý điều

chỉnh quan hệ giữa một số nước nhất định có chung khu vực địa lý hoặc có xu

hướng chính trị, kinh tế gần gũi nhau Ví dụ: Luật quốc tế của các nước EU, Luật

quốc tế của các nước ASEAN; Luật quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa trước

đây, v.v

"Luật biển quốc tế", "Luật hàng không dân dụng quốc tế", "Luật điều ước

quốc tế" hay "Luật ngoại giao và lãnh sự" là những thuật ngữ dùng để chỉ tên gọi

các ngành luật khác nhau trong hệ thống Luật quốc tế

II Những đặc điểm cơ bản của Luật quốc tế

Luật quốc tế là một hệ thống pháp luật đặc biệt, mang trong mình những

đặc điểm cơ bản khác biệt so với tất cả các ngành luật trong hệ thống pháp Luật

quốc gia Đặc điểm cơ bản của Luật quốc tế xuất phát từ tính chất và đặc thù của

những mối quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh - những quan hệ quốc tế ở cấp chính

phủ Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế là đặc điểm xuất phát kéo

theo những đặc điểm khác về chủ thể, về phương pháp xây dựng quy phạm và về

phương thức bảo đảm thi hành

13

Trang 14

1 Đặc điểm về đối tượng điều chỉnh

Nếu như đối tượng điều chỉnh của các ngành Luật quốc nội là các mối quan

hệ xã hội phát sinh giữa thể nhân, pháp nhân và cơ quan nhà nước trong phạm

vi nội bộ mỗi quốc gia thì đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế là các mối quan

hệ xã hội phát sinh trong sinh hoạt quốc tế ở từng lĩnh vực cụ thể như: chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học v.v giữa các quốc gia với nhau, giữa quốc gia với các

tổ chức quốc tế liên chính phủ (liên quốc gia), với các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập Các mối quan hệ quốc tế này được gọi là quan hệ liên quốc gia (liên chính phủ) theo nghĩa rộng, trong đó quan hệ giữa các quốc gia với nhau là những quan hệ chủ yếu thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế là các mối quan hệ xã hội liên quốc gia phát sinh trong từng lĩnh vực nhất định của đời sống quốc tế

Các quan hệ xã hội mà Luật quốc tế điều chỉnh được gọi là quan hệ liên quốc gia Đó là những quan hệ quốc tế ở cấp chính phủ theo nghĩa chung nhất Ví dụ: quan hệ giữa các quốc gia trong việc sử dụng, khai thác biển và đại dương vì lợi ích chung của loài người; quan hệ phát sinh giữa hai quốc gia có chung đường biên giới trên đất liền hoặc trên biển; quan hệ giữa chính phủ các nước trong các lĩnh vực tài chính-tiền tệ, nông-lâm nghiệp, giáo dục-đào tạo, khoa học, văn hoá,

y tế, v.v trong khuôn khổ của các tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc; quan

hệ giữa các nước ASEAN trong lĩnh vực thương mại; quan hệ giữa các nước EU trong lĩnh vực công nghiệp, v.v

Khi nghiên cứu đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế cần nắm vững rằng trong đời sống quốc tế phát sinh rất nhiều loại quan hệ xã hội khác nhau, ở nhiều cấp độ khác nhau, trong các lĩnh vực khác nhau và giữa các chủ thể khác nhau

Tất cả các loại quan hệ xã hội ấy được gọi là quan hệ quốc tế theo nghĩa rộng của

tế này được gọi là tổ chức quốc tế phi chính phủ, vì chúng không phải do chính phủ

của các nước lập ra, mà do các tổ chức, cá nhân của các nước thành viên tự nguyện lập ra

14

Trang 15

Trong đời sống quốc tế còn có các mối quan hệ phát sinh giữa thể nhân, pháp nhân của các nước khác nhau trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia

đình, thương mại, đầu tư, lao động, tố tụng dân sự, v.v… gọi chung là quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Các quan hệ này thuộc đối tượng

điều chỉnh của tư pháp quốc tế mà chúng ta sẽ nghiên cứu trong một môn học riêng

đẳng với quốc gia khác Các quốc gia là chủ thể chủ yếu của Luật quốc tế vì quan

hệ quốc tế trước hết và chủ yếu là quan hệ giữa các quốc gia;

- Các dân tộc đang đấu tranh thực hiện quyền dân tộc tự quyết là chủ thể

đặc biệt của Luật quốc tế, là quốc gia đang trong quá trình hình thành;

- Các tổ chức quốc tế liên chính phủ (liên quốc gia) do các quốc gia thoả thuận thành lập cũng là chủ thể của Luật quốc tế, nhưng là chủ thể hạn chế Khi nghiên cứu chủ thể của Luật quốc tế cần phân biệt sự khác nhau giữa chủ thể và khách thể của Luật quốc tế Khách thể của Luật quốc tế là những lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế, những bộ phận riêng lẻ của tự nhiên và xã hội của cả cộng đồng quốc tế hoặc của từng quốc gia, là những gì mà chủ thể của Luật quốc tế có quan hệ với nhau và hướng tới điều chỉnh thông qua các nguyên tắc và quy phạm pháp lý quốc tế Đó có thể là khách thể vật chất hoặc phi vật chất (ví dụ như biển và đại dương, lãnh thổ và biên giới quốc gia trên bộ, trên không, hoà bình, an ninh hoặc chiến tranh giữa các nước v.v…)

3 Về trình tự xây dựng và ban hành quy phạm Luật quốc tế

ở mỗi quốc gia, các quy phạm pháp luật của các ngành luật khác nhau chủ yếu do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng và ban hành Các cơ quan

đó có thể là quốc hội (nghị viện), chính phủ hay các bộ quản lý chuyên ngành, v.v Điều đó có nghĩa là pháp luật của mỗi nước do chính Nhà nước đó đặt ra và

15

Trang 16

các chủ thể liên quan chỉ có quyền và nghĩa vụ thực hiện, áp dụng chứ không có quyền đặt ra pháp luật

Việc xây dựng và ban hành quy phạm Luật quốc tế được tiến hành theo những trình tự hoàn toàn khác

Trong quan hệ quốc tế liên chính phủ, các quốc gia là những thực thể độc lập, có chủ quyền và bình đẳng với nhau Vì thế, không một quốc gia nào có quyền đặt ra pháp luật buộc quốc gia khác tuân theo, cũng như không có một cơ quan nào đứng trên các quốc gia có chủ quyền để xây dựng nên các quy phạm Luật quốc tế

Các nguyên tắc và quy phạm pháp Luật quốc tế nằm trong điều ước quốc tế

do các quốc gia cùng nhau xây dựng nên, thông qua đàm phán, trên cơ sở thương lượng nhằm đạt được thoả thuận chung Các quy phạm tập quán quốc tế cũng do chính các quốc gia thoả thuận cùng nhau chấp nhận áp dụng

Như vậy, trong Luật quốc tế, chủ thể xây dựng nên quy phạm pháp Luật quốc tế cũng chính là chủ thể thực hiện, áp dụng quy phạm đó Điều này càng làm rõ nét thêm đặc điểm của việc xây dựng và ban hành quy phạm pháp lý quốc

tế

4 Về phương thức đảm bảo thi hành Luật quốc tế

Để đảm bảo thi hành pháp luật của Nhà nước, từng quốc gia tiến hành tổ chức bộ máy có các chức năng khác nhau, như: Cảnh sát, Toà án, Viện kiểm sát

và các cơ quan tư pháp khác

Trong sinh hoạt quốc tế không có cơ quan nào đứng trên quốc gia xây dựng nên các nguyên tắc và quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, vì thế cũng không có một bộ máy siêu quốc gia nào đứng ra áp dụng các biện pháp cưỡng chế khi cần thiết để đảm bảo thi hành Luật quốc tế Các quốc gia cùng nhau thoả thuận xây dựng nên Luật quốc tế thì họ cũng cùng nhau thoả thuận quy định và áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo thi hành các nguyên tắc và quy phạm Luật quốc tế Ví dụ, khi một quốc gia nào đó xâm lược quốc gia khác, vi phạm một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện

đại thì trước hết quốc gia bị xâm lược có quyền dùng vũ lực chống lại quốc gia xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền của mình, gọi là biện pháp cá thể Các quốc gia cũng có thể áp dụng biện pháp tập thể, thông qua Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, như sử dụng lực lượng không quân, hải quân, lục quân để duy trì hoặc lập lại hoà bình, an ninh quốc tế, tức là các biện pháp cưỡng chế thi hành các nguyên tắc và quy phạm Luật quốc tế

16

Trang 17

Như vậy, các phương thức đảm bảo thi hành Luật quốc tế do chính các quốc gia - chủ thể của Luật quốc tế tổ chức thực hiện mà không phải thông qua một tổ

chức nào đó đứng trên quốc gia Một lực lượng nào đó của Liên Hợp Quốc đứng

ra thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với quốc gia khác cũng do chính các quốc gia thoả thuận tổ chức, thể hiện ý chí của các quốc gia chứ không phải là tổ chức siêu quốc gia

Ngoài các đặc điểm cơ bản được trình bày trên đây Luật quốc tế còn mang trong mình các đặc điểm về nguồn và về bản chất Những đặc điểm này sẽ được trình bày cụ thể, riêng biệt ở mục IV của chương này

III Lịch sử hình thành và phát triển của Luật quốc tế trước cách mạng tháng mười nga năm 1917

1 Khái quát chung

Vấn đề về sự hình thành và phát triển của Luật quốc tế cũng như sự phân

kỳ của nó được giải quyết khác nhau ở các nhóm nước trên thế giới

ở Việt Nam, khoa học Luật quốc tế khẳng định rằng, lịch sử Luật quốc tế là một bộ phận không thể tách rời của toàn bộ lịch sử Nhà nước và pháp luật, đồng thời được bắt đầu từ sau khi hình thành các quốc gia đầu tiên ở các khu vực khác nhau trên thế giới Xã hội loài người được phân chia thành các thời kỳ lịch sử phát triển khác nhau gắn với từng hình thái kinh tế-xã hội nhất định Căn cứ theo sự phân kỳ của lịch sử thế giới, chúng ta có thể phân chia Luật quốc tế thành các thời kỳ phát triển dưới đây:

- Luật quốc tế thời kỳ Chiếm hữu nô lệ;

- Luật quốc tế thời kỳ Phong kiến;

- Luật quốc tế thời kỳ Tư bản chủ nghĩa;

- Luật quốc tế từ sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đến nay (Luật quốc tế hiện đại)

Theo quy luật, xã hội loài người phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, vì thế Luật quốc tế và khoa học Luật quốc tế cũng vận động theo xu hướng này, cũng phát triển từ sơ khai đến từng bước hoàn thiện hơn

Luật quốc tế phản ánh thực trạng quan hệ quốc tế trong từng thời kỳ lịch sử của nhân loại, mang theo dấu ấn của từng thời kỳ đó Điều đó cho phép chúng ta khẳng định rằng, từ khi có Nhà nước và pháp luật, xã hội loài người tồn tại và phát triển ở thời kỳ nào thì đều có Luật quốc tế của thời kỳ đó Vì thế, việc nghiên cứu lịch sử Luật quốc tế ở từng thời kỳ lịch sử không thể tách rời việc nghiên cứu lịch sử Nhà nước và pháp luật của thời kỳ ấy

17

Trang 18

2 Luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ (Luật quốc tế cổ đại)

a Khái quát chung

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ lực lượng sản xuất mới ở mức độ hết sức thấp kém, quan hệ kinh tế giữa các Nhà nước nô lệ còn vô cùng yếu ớt và rời rạc, phương tiện thông tin liên lạc còn hết sức thô sơ, lạc hậu nên Luật quốc tế chỉ mới hình thành trong từng khu vực, mang đậm tính khép kín, chưa có điều kiện xã hội cho việc hình thành Luật quốc tế chung Luật quốc tế khu vực là đặc trưng của Luật quốc tế từ khi nó hình thành cho đến khi tan rã Đế chế La Mã cổ đại vào cuối thế kỷ thứ V Trước Công nguyên

Thời đó, Luật quốc tế khu vực được hình thành trước tiên ở Ai Cập, ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp và La Mã cổ đại

Các nguyên tắc và quy phạm Luật quốc tế khu vực xuất hiện đầu tiên ở dạng tập quán quốc tế, sau đó từng bước xuất hiện các điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia với nhau

Một trong các điều ước quốc tế quan trọng trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ là Hiệp ước được ký kết giữa Vua Ai Cập Romdec II và Vua Hattusile III vào năm

1278 Trước Công nguyên Trong Hiệp ước này, hai bên thoả thuận liên minh quân sự với nhau trong việc chống lại các cuộc khởi nghĩa cũng như trả lại nô lệ cho nhau

Luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ chủ yếu điều chỉnh các quan hệ về chiến tranh và về ngoại giao do thời đó chiến tranh xảy ra liên miên giữa các nước láng giềng với nhau

Mặc dù có sự cách biệt đáng kể với nhau giữa các trung tâm khu vực quốc gia trong xã hội chiếm hữu nô lệ nhưng vào thời kỳ đó vẫn có sự tương đồng của các chế định Luật quốc tế, như luật lệ và tập quán về chiến tranh, về quyền bất khả xâm phạm của đại diện ngoại giao

b Những nội dung chính của Luật quốc tế cổ đại

Lịch sử ghi nhận hàng loạt chế định Luật quốc tế hiện đại được ra đời từ thời cổ đại Hầu như trong mỗi khu vực đều hình thành các chế định này hay chế

định khác của Luật quốc tế, và chúng đã vượt qua thử thách của thời gian để rồi một số lượng đáng kể các chế định đó được chuyển hoá và cuối cùng đã đi vào

Luật quốc tế hiện đại Trong số đó chúng ta có thể kể đến tính nhân đạo của luật

lệ và tập quán chiến tranh được ghi nhận trong các Đạo luật Manu ở ấn Độ vào

thế kỷ IV đến thế kỷ II Trước Công nguyên Các đạo luật này đã quy định cấm dùng vũ khí tẩm thuốc độc hoặc vũ khí gây ra sự đau đớn quá mức cho đối phương, quy định các bên tham chiến phải dừng tay khi đối phương bị thương,

18

Trang 19

đối xử nhân đạo với tù binh bị thương, Tính nhân đạo của các chế định trong các đạo luật Manu đã thể hiện trong hàng loạt công ước của Liên Hợp Quốc về luật lệ và tập quán chiến tranh, như các Công ước Giơnevơ năm 1949 về Bảo hộ nạn nhân chiến tranh, sau đó được bổ sung bằng các Nghị định thư vào năm

1977

Trong thời cổ đại các chế định về Luật ngoại giao cũng được hình thành và

từng bước phát triển Các Đạo luật Manu của ấn Độ cổ đại, Luật của các dân tộc ở

La Mã cổ đại, Hy Lạp cổ đại đã quy định quyền bất khả xâm phạm đối với đại diện ngoại giao nước ngoài là các sứ giả được nhà Vua cử đi đàm phán

Ngoài luật lệ điều chỉnh quan hệ chiến tranh, quan hệ ngoại giao trong thời

kỳ chiếm hữu nô lệ đã bắt đầu xuất hiện các chế định về bảo hộ người nước ngoài

ở các nước Trung Hoa cổ đại, Phương Đông cổ đại, Hy Lạp, La Mã, ấn Độ cổ đại

Tóm lại, Luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ có ba đặc điểm cơ bản sau

đây:

- Chủ yếu tồn tại dưới dạng tập quán quốc tế Các quy phạm điều ước quốc

tế đã xuất hiện nhưng với số lượng còn ít ỏi

- Chủ yếu điều chỉnh các quan hệ về chiến tranh, về ngoại giao và về chế độ bảo hộ người nước ngoài

- Mang đậm tính khu vực, khép kín Chưa hình thành khoa học về Luật quốc tế

3 Luật quốc tế thời kỳ phong kiến

Xã hội loài người trong thời kỳ phong kiến được khái quát ở những nét nổi bật là:

- Thứ nhất, thời kỳ phong kiến là thời kỳ phân quyền, cát cứ, chiến tranh

kéo dài liên miên Xuất hiện các Nhà nước phong kiến mạnh chuyên xâm lược các nước yếu, áp đặt họ trong chế độ phụ thuộc, chư hầu Các nhà sử học thường gọi

giai đoạn đầu tiên của thời kỳ phong kiến là "đêm trường trung cổ" Quan hệ giữa

các quốc gia thời đó đồng nhất với quan hệ giữa các vua chúa phong kiến vì vua chúa là người nắm giữ chủ quyền quốc gia, là chủ thể của Luật quốc tế Vua chúa

có quyền tặng, cho, trao đổi, mua bán, thừa kế lãnh thổ của mình;

- Thứ hai, trong thời kỳ phong kiến, tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Hồi

giáo) phát triển rất mạnh và có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội phong kiến ở từng nước cũng như từng khu vực trên thế giới Vì thế, pháp luật nói chung và Luật quốc tế nói riêng mang theo màu sắc tôn giáo; các hình phạt thường rất hà khắc nên người ta thường gọi pháp luật thống trị trong xã hội

phong kiến là "Pháp luật quả đấm";

19

Trang 20

- Thứ ba, xã hội phong kiến đã phát triển cao hơn xã hội chiếm hữu nô lệ về

mọi mặt, nhất là về lực lượng sản xuất Cùng với lực lượng sản xuất, giao thông liên lạc phát triển, kéo theo sự hình thành và từng bước phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước, thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia vượt ra khỏi phạm vi khu vực, hình thành quan hệ quốc gia liên khu vực, đa khu vực

Những đặc điểm trên đây của xã hội loài người thời trung cổ đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của Luật quốc tế Có thể khái quát sự phát triển của Luật quốc tế thời kỳ phong kiến ở những điểm sau đây:

- Một là, các chế định và quy phạm Luật quốc tế được hình thành từ thời kỳ

chiếm hữu nô lệ nay từng bước được hoàn thiện và phát triển Đó là các chế định

và quy phạm điều chỉnh quan hệ chiến tranh, về địa vị pháp lý của người nước ngoài, về sứ quán và lãnh sự;

- Hai là, xuất hiện các chế định và quy phạm mới của Luật quốc tế vừa

mang đậm màu sắc tôn giáo vừa phản ánh sự phát triển vượt bậc của xã hội phong kiến so với xã hội chiếm hữu nô lệ:

+ Các chế định và quy phạm mang theo ảnh hưởng của tôn giáo như "Hoà bình của thượng đế", "Đình chiến theo ý chúa" hoặc về trung gian, hoà giải, trong đó nhà

thờ giữ vai trò quyết định

+ Xuất hiện các quy phạm và chế định về Luật biển quốc tế, về địa vị pháp

lý của người nước ngoài Các quy phạm Luật biển được ghi nhận bắt đầu từ thế

kỷ XII và phát triển trong thế kỷ XIII, và chủ yếu dưới dạng tập quán pháp Đến

cuối thế kỷ XIII, lần đầu tiên ở châu Âu xuất hiện bộ "Quy tắc tập quán biển thiện chí"

+ Năm 1455 lần đầu tiên xuất hiện cơ quan đại diện ngoại giao thường trực

ở nước ngoài và sau đó trở thành phổ biến ở các nước Xuất hiện các quy phạm về quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao, về bất khả xâm phạm cơ quan đại diện ngoại giao;

- Ba là, hình thành các trung tâm sinh hoạt quốc tế và cũng là trung tâm

Luật quốc tế ở Tây Âu, Nga, Tây - Nam Địa Trung Hải, ấn Độ, Trung Hoa

- Bốn là, khoa học Luật quốc tế được hình thành và từ thế kỷ XVI đã trở thành

ngành khoa học độc lập Tuy nhiên, khoa học Luật quốc tế khi đó chưa phát triển thành một hệ thống trong phạm vi toàn thế giới mà mới chỉ hình thành và phát triển lẻ tẻ ở phạm vi từng khu vực và ở từng tác giả về từng vấn đề riêng biệt

Trong chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế thế kỷ XVI - XVII lần đầu tiên xuất hiện những Luật gia - Học giả tiêu biểu của thời kỳ đó đã có công đóng góp

đáng kể, thúc đẩy việc hình thành những nguyên tắc mới của Luật quốc tế và khoa học Luật quốc tế tư bản chủ nghĩa sau này Trong số họ phải kể đến Gugô

20

Trang 21

Grôsi (1583 - 1645), Fransixkô Đơ Victoria (1492 - 1546), Fransixkô Xuares (1548 - 1617), Vattele (1714 - 1767), Alberikô Đzentili (1552 - 1608) Họ là những

ông tổ của khoa học Luật quốc tế tư bản chủ nghĩa vì đã đưa ra các quan điểm mới chống sự bất bình đẳng của chế độ phong kiến, xây dựng trường phái Luật quốc tế mới theo hướng bình đẳng giữa các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, đấu tranh bảo vệ quyền lợi của người nước ngoài và quyền ưu đãi miễn trừ của nhân viên cơ quan đại diện ngoại giao v.v Gugô Grosi là học giả tiêu biểu của Hà Lan và thế giới ở đầu thế kỷ XVII, là nhà sáng lập khoa học pháp lý thời bấy giờ không chỉ đối với châu Âu mà còn đối với toàn

thế giới Trong những tác phẩm của ông còn để lại đến ngày nay, có tác phẩm "Tự do biển cả" xuất bản năm 1609, trong đó có tư tưởng tiến bộ về quyền bình đẳng của tất

cả các nước trong tự do hàng hải ở biển và đại dương

Tác phẩm về "Luật chiến tranh và hoà bình" năm 1625 đã có đóng góp lớn vào Luật quốc tế với việc phân biệt rõ việc "Chiến tranh chính nghĩa" và "Chiến tranh phi nghĩa"

4 Luật quốc tế thời kỳ Tư bản chủ nghĩa

a Đặc điểm của thời kỳ tư bản chủ nghĩa và ảnh hưởng của nó đến Luật quốc tế

Xã hội loài người thời kỳ tư bản chủ nghĩa có nhiều biến đổi sâu sắc về nhận thức tự nhiên và xã hội, có những bước phát triển nhảy vọt về khoa học- kỹ thuật, xuất hiện những cuộc cách mạng xã hội trong lòng chế độ phong kiến còn mang theo ý nghĩa cho đến ngày nay Cũng trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện các ngành khoa học khác nhau về tự nhiên và xã hội, thể hiện quá trình vận động, phát triển theo chiều hướng tiến bộ của trí tuệ con người Có thể khái quát xã hội tư bản thế kỷ XVIII - XIX ở những đặc điểm dưới đây:

- Thứ nhất, do thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản, giai cấp tư sản lên

nắm quyền ở giai đoạn đầu đã trịnh trọng tuyên bố trong Hiến pháp của mình quyền bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, quyền của các dân tộc thuộc địa tách khỏi các quyền của nước chính quốc, Các nguyên tắc này lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp của Pháp năm 1793 sau thắng lợi của cách mạng tư sản Pháp

và trong Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 Những nguyên tắc hiến định này ở các nước tư bản đã ảnh hưởng đến sự phát triển của Luật quốc

tế, vì từ đó nhiều nước bắt đầu coi đó như nguyên tắc tập quán trong quan hệ giữa các quốc gia

21

Trang 22

- Thứ hai, sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nhiều nước đã dẫn đến

tất yếu khách quan của sự phát triển nhiều mối quan hệ giữa các quốc gia trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, văn hoá, khoa học,

- Thứ ba, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội phát triển sôi động, có tính

hệ thống, đã góp phần làm thay đổi bộ mặt của xã hội tư bản, đồng thời ảnh hưởng quan trọng đến bước phát triển của Luật quốc tế

- Thứ tư, tư tưởng về Nhà nước và pháp luật của các học giả S.Monteskiơ, Z

Russô (Pháp), đã ảnh hưởng tiến bộ đến sự phát triển của học thuyết Luật quốc

tế, nhất là các tư tưởng, quan điểm về chiến tranh, về sự cần thiết của trật tự tiến hành chiến tranh, về tính nhân đạo của các quy phạm pháp lý về chiến tranh v.v

b Những nội dung cơ bản của Luật quốc tế thời kỳ Tư bản chủ nghĩa

Do sự phát triển vượt bậc của thời kỳ tư bản chủ nghĩa so với các thời kỳ trước đó của lịch sử xã hội loài người nên Luật quốc tế thời kỳ này cũng có bước phát triển mới mang đậm màu sắc của xã hội tư bản

Một là, xuất hiện những nguyên tắc tiến bộ của Luật quốc tế, như nguyên tắc

bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau v.v Tuy vậy, các nguyên tắc này mới chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp của một vài nước tư bản hoặc trong các điều ước quốc tế song phương và được coi là nguyên tắc tập quán trong quan hệ giữa các nước chứ chưa

được coi là một nguyên tắc chung và chưa được ghi nhận trong bất kỳ một điều ước quốc tế đa phương nào Các nguyên tắc mới này được giai cấp tư sản đưa ra để bảo

vệ lợi ích của chúng trong quan hệ quốc tế và duy trì sự thống trị của mình đối với xã hội Đến khi giai cấp tư sản lớn mạnh và chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc thì các nước tư bản lại gây ra chiến tranh nhằm phân chia lại thị trường thế giới, chà đạp thô bạo lên các nguyên tắc mà chúng đã đề ra sau khi giành được chính quyền từ tay giai cấp phong kiến

Hai là, xuất hiện các chế định mới của Luật quốc tế, như chế định công

nhận quốc gia mới, kế thừa của quốc gia trong quan hệ giữa các nước châu Âu lục

địa Ví dụ, tại Hội nghị Berlin năm 1878, các nước châu Âu đã ra nghị quyết công nhận tập thể đối với Sec, Bỉ và Rumani, công nhận nền độc lập của Bungari

Ba là, khoa học Luật quốc tế phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều trường

phái, quan điểm về các vấn đề khác nhau của Luật quốc tế, trong đó đáng chú ý nhất là vào nửa đầu thế kỷ XIX đã diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng giữa trường phái bảo vệ chế độ chuyên chế phong kiến và trường phái bảo vệ chế độ tư bản và kết thúc bằng thắng lợi của tư tưởng tư sản

22

Trang 23

Bốn là, đã xuất hiện các hội nghị quốc tế để bàn về những vấn đề liên quan

đến chiến tranh trên bộ, trên không, trên biển Điển hình là Hội nghị Paris năm

1856 đã thông qua Tuyên bố Paris về chiến tranh trên biển, trong đó bao gồm nhiều vấn đề mà các quốc gia ven biển và cả cộng đồng quốc tế quan tâm, như: cấm phong toả trên biển, cấm sử dụng vũ khí hoá học trên biển, củng cố nguyên tắc "treo quốc kỳ trên tàu" để đảm bảo quyền lợi của các nước trung lập trong thời gian chiến tranh

Hội nghị quốc tế Lahaye đã thông qua các công ước bao gồm các quy phạm

về trình tự tiến hành chiến tranh, đó là các Công ước Lahaye năm 1899 và năm

1907 về Luật lệ và Tập quán chiến tranh

Năm là, Luật quốc tế ngày càng mang rõ nét tính chất quốc tế ở phạm vi

rộng hơn, phá vỡ hẳn tính khu vực của thời kỳ phong kiến Cùng với nó là sự ra

đời các tổ chức quốc tế đầu tiên, đánh dấu sự ràng buộc lẫn nhau của cộng đồng quốc tế, đó là: Liên minh điện tín quốc tế (1865), Liên minh bưu chính thế giới (1879), v.v

Mặc dù đã có bước phát triển mạnh mẽ, đã có sự thay đổi về chất, Luật quốc

tế thời kỳ tư bản chủ nghĩa vẫn còn nhiều hạn chế do yếu tố khách quan của xã hội tư bản mang lại Những hạn chế đó là:

- Luật quốc tế thời kỳ tư bản chủ nghĩa là Luật quốc tế của những quốc gia mạnh mà không được coi là của cả cộng đồng thế giới, vì giai cấp tư sản chỉ công nhận các quốc gia "Văn minh" mới là chủ thể của Luật quốc tế, mới có quyền tham gia vào quan hệ pháp lý quốc tế

- Trong Luật quốc tế thời kỳ tư bản chủ nghĩa còn có các chế độ pháp lý phản động, bất bình đẳng trong quan hệ giữa các quốc gia, như: chế độ trị ngoại pháp quyền, chế độ tô giới, chế độ bảo hộ, thuộc địa, uỷ trị v.v

- Trong thế kỷ XIX còn có các học thuyết về Luật quốc tế mang nặng sự kích

động hận thù dân tộc, kích động chiến tranh, ảnh hưởng xấu đến quan hệ giữa các quốc gia, như việc khẳng định vai trò của chiến tranh, coi chiến tranh là phương pháp giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia Khi chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc thì các cường quốc đế quốc thường xuyên vi phạm các nguyên tắc và quy phạm Luật quốc tế và dẫn đến trong sách báo pháp

lý ở Đức trường phái phủ nhận tính chất pháp lý của các quy phạm Luật quốc tế Tóm lại, tuy còn những hạn chế nhất định về mặt lịch sử, Luật quốc tế và khoa học Luật quốc tế thời kỳ tư bản chủ nghĩa đã có bước phát triển vượt bậc, tiến bộ xa so với thời kỳ phong kiến, trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã có trước đây và phát triển tương xứng với những đổi thay của xã hội tư bản, phù hợp với những quan hệ quốc tế của thời kỳ tư bản chủ nghĩa ở phạm vi rộng lớn

23

Trang 24

Iv Luật quốc tế hiện đại

1 Sự hình thành và phát triển của Luật quốc tế hiện đại

Luật quốc tế hiện đại bắt đầu hình thành từ sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và không ngừng phát triển cho đến ngày nay Có thể phân chia sự phát triển của Luật quốc tế hiện đại thành hai giai đoạn dưới đây:

a Luật quốc tế từ sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đến hết chiến tranh thế giới lần thứ hai

Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga đã làm thay đổi sâu sắc quan

hệ quốc tế và Luật quốc tế Từ sau cuộc cách mạng xã hội này Nhà nước Xô Viết Nga đã đưa ra những nguyên tắc mới của Luật quốc tế, là cơ sở cho việc ghi nhận chúng trong các văn bản pháp lý quốc tế quan trọng có tính chất toàn cầu, được coi là những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và dân tộc tự quyết lần đầu tiên được nhắc

đến trong Sắc lệnh hoà bình của Lênin năm 1918 và sau đó được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp của Nhà nước Nga Xô- Viết năm 1918

Bình đẳng chủ quyền quốc gia và dân tộc tự quyết lần đầu tiên trở thành nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa nước Nga Xô-Viết với các quốc gia láng giềng ở phương Đông, như: áp-Ga–Ni-Stan năm 1921, Thổ Nhĩ Kỳ năm 1921, Trung Quốc năm 1928 v.v

Một nguyên tắc khác của Luật quốc tế là nguyên tắc cấm chiến tranh xâm lược do Nhà nước Nga Xô-Viết đưa ra và ghi nhận trong các điều ước quốc tế giữa

Nga với các nước láng giềng Trong các điều ước quốc tế này các bên coi chiến tranh xâm lược là tội ác chống loài người

Năm 1927, Hội quốc liên đã chuẩn bị dự thảo Tuyên bố về chiến tranh xâm lược, một năm sau điều ước quốc tế nhiều bên là Công ước Paris 1928 về cấm

chiến tranh xâm lược đã được ký kết trong phạm vi Hội quốc liên

Đặc điểm nổi bật của Luật quốc tế hiện đại nửa đầu thế kỷ XX là các quy phạm của nó chủ yếu điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia về những vấn đề liên quan đến chiến tranh, còn các quan hệ hợp tác đa phương mới chỉ được điều chỉnh trong lĩnh vực hàng không dân dụng

Để điều chỉnh quan hệ về chiến tranh đã có các Nghị định thư Giơ-Ne-Vơ năm 1925 về cấm vũ khí hơi độc hóa học và vi trùng, Nghị định thư Luân Đôn năm 1936 về hoạt động của tàu ngầm

Trong lĩnh vực hàng không dân dụng, ngày 7/12/1944, tại Chicagô (Mỹ), 52 quốc gia đã ký kết Công ước Chicagô về hàng không dân dụng quốc tế đánh dấu

24

Trang 25

bước đi ban đầu của sự hợp tác về kinh tế, khoa học - kỹ thuật trong phạm vi toàn thế giới

b Luật quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

Xã hội loài người từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay có những

- Lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ cao hơn bao giờ hết, dẫn

đến tính tất yếu khách quan của xu hướng quốc tế hoá sâu rộng mọi mặt của đời sống xã hội;

- Nhiều thách thức lớn có tính chất toàn cầu liên quan đến sự sống còn của toàn thể nhân loại được coi là sự quan tâm của tất cả các quốc gia, dẫn đến nhu cầu bức xúc là các quốc gia phải cùng nhau hợp tác vì tương lai chung của cả cộng

Trong nửa sau của thế kỷ XX hàng loạt điều ước quốc tế đa phương được ký kết, như: Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, năm 1963 về quan hệ lãnh sự, các Công ước về Luật biển năm 1958; Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế, v.v… Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế lần đầu tiên được ghi nhận trong văn bản điều ước toàn cầu là Hiến chương Liên Hợp Quốc cũng như trong tuyên

bố của Liên Hợp Quốc năm 1970 Như vậy, nếu như trước đây các nguyên tắc của Luật quốc tế chỉ được công nhận riêng lẻ trong quan hệ giữa từng nhóm nước và chủ yếu ở dạng tập quán pháp hoặc ở các điều ước quốc tế song phương thì từ khi

25

Trang 26

có Hiến chương Liên Hợp Quốc những nguyên tắc này đã trở thành nguyên tắc có tính chất bắt buộc chung (Jus cogens) cho mọi quốc gia

Do thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở các châu Âu, Phi, Mỹ - La Tinh nên các chế định và quy phạm có nội dung phản động của Luật quốc tế thời

kỳ tư bản chủ nghĩa đã bị bãi bỏ, như quyền tiến hành chiến tranh, chế độ trị ngoại pháp quyền, chế độ thuộc địa, uỷ trị v.v

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai hàng loạt chủ thể mới của Luật quốc tế xuất hiện càng làm phong phú thêm thành phần chủ thể Giờ đây ngoài các quốc gia - chủ thể chủ yếu của Luật quốc tế - còn có dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết, các tổ chức quốc tế liên chính phủ với số lượng ngày càng gia tăng Các chủ thể đã đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng và ký kết các điều

ước quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa họ với nhau trong nhiều lĩnh vực của đời sống quốc tế

Luật quốc tế hiện đại của cộng đồng thế giới vừa thể hiện sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia trong hầu hết các lĩnh vực, vừa mang trong mình nội dung nhân đạo mới Đó là các chế định và quy phạm về cấm chiến tranh, cấm sử dụng

vũ khí hoá học, vũ khí hạt nhân, về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền thông qua 23 công ước quốc tế về quyền con người được ký kết trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc

Cùng với sự phát triển Luật quốc tế chung của cả cộng đồng thế giới còn có Luật quốc tế khu vực cũng phát triển sôi động ở châu Âu, châu á, châu Mỹ - La Tinh

Chưa bao giờ khoa học Luật quốc tế có bước tiến nhảy vọt như ngày nay Người ta thấy xuất hiện nhiều trường phái Luật quốc tế khác nhau ở các nước, các khu vực thế giới và ở từng quốc gia riêng biệt, càng làm cho Luật quốc tế hiện

đại trở thành hệ thống pháp luật độc lập trong hệ thống thế giới của chúng ta

2 Bản chất và vai trò của Luật quốc tế hiện đại

a Bản chất

Luật quốc tế hiện đại mang bản chất mới khác hẳn Luật quốc tế của các thời

kỳ lịch sử trước đó, trước hết ở chỗ nó không phải là pháp luật của sức mạnh, bạo lực của các quốc gia mạnh Các quy phạm của Luật quốc tế hiện đại được xây dựng nên từ sự thoả thuận của các quốc gia Vì thế, Luật quốc tế hiện đại đã mang nội dung mới, thay đổi cơ bản, thể hiện theo chiều hướng phát triển ngày càng tiến bộ, dân chủ

- Thứ nhất, Luật quốc tế hiện đại là của cả cộng đồng quốc tế, của tất cả các

quốc gia, dân tộc, không phân biệt giàu hay nghèo, lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu

26

Trang 27

Nếu như trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa chỉ những quốc gia "Văn minh" mới được

coi là chủ thể của Luật quốc tế thì ngày nay mọi quốc gia trên thế giới đều được công nhận là chủ thể của Luật quốc tế

- Thứ hai, Luật quốc tế hiện đại thể hiện sự dung hoà về lợi ích của các quốc

gia trên cơ sở tương quan lực lượng trong quan hệ quốc tế Các chế định, các quy phạm của Luật quốc tế có được là kết quả của quá trình đàm phán lâu dài trên cơ

sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh giữa các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, giữa những lực lượng có quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau

- Thứ ba, Luật quốc tế hiện đại có các nguyên tắc, các quy phạm ngày càng

tiến bộ hơn, đó là quy phạm về cấm chiến tranh xâm lược, coi chiến tranh xâm lược là tội ác nghiêm trọng đe dọa hoà bình và an ninh thế giới v.v

- Thứ tư, Luật quốc tế hiện đại thể hiện nguyện vọng của các quốc gia hợp

tác để bảo vệ sự sống trên trái đất, hợp tác để chống đói nghèo, dịch bệnh, thiên tai, vì sự phát triển trong hoà bình, vì văn minh của các quốc gia dân tộc ở tất cả các châu lục

b Vai trò

Với tư cách là hệ thống pháp luật của cả cộng đồng thế giới, Luật quốc tế hiện đại ngày càng giữ vai trò thiết thực trong đời sống quốc tế và là yếu tố cấu thành không thể thiếu được của hệ thống quốc tế ngày nay

Trước hết, Luật quốc tế hiện đại là phương tiện, là công cụ để các quốc gia

đấu tranh cho hoà bình và an ninh thế giới

Các quốc gia thông qua quy phạm Luật quốc tế đã hạn chế đến mức cao nhất các lực lượng đế quốc muốn đạt được lợi ích của mình bằng cách tiến hành chiến tranh xâm lược hoặc kích động chiến tranh xâm lược Dù rằng, ở các khu vực khác nhau trên thế giới, ở những thời gian khác nhau vẫn còn xảy ra xung

đột vũ trang, vẫn còn có chiến tranh xâm lược do sự vi phạm thô bạo Luật quốc tế của chủ nghĩa đế quốc, nhưng nhìn chung Luật quốc tế đã đóng góp vai trò tích cực vào việc làm dịu tình hình căng thẳng, tránh được nhiều nguy cơ chiến tranh

ở nhiều nơi trong mấy thập kỷ qua

Luật quốc tế hiện đại là công cụ hữu hiệu để các dân tộc thuộc địa đứng lên

đấu tranh giành độc lập Nguyên tắc dân tộc tự quyết được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc cùng với Tuyên bố của Liên Hợp Quốc năm 1960 về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa là những cơ sở pháp lý vững chắc để nhân dân các nước thuộc địa đứng lên đấu tranh giành độc lập cho mình Luật quốc tế hiện đại không chỉ là công cụ của cộng đồng thế giới để đấu tranh cho hoà bình mà còn là phương tiện thúc đẩy quá trình hợp tác giữa các quốc gia trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống quốc tế

27

Trang 28

Với các điều ước quốc tế về Luật biển, Luật hàng không dân dụng, các quốc gia có cơ sở pháp lý hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc sử dụng, khai thác, bảo

vệ biển cả, đại dương cùng bầu trời bên trên lãnh thổ quốc gia và vùng biển quốc

tế

Có các điều ước quốc tế về kinh tế-thương mại, các quốc gia hợp tác với nhau trong phạm vi các tổ chức quốc tế đa phương, khu vực hoặc song phương trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng, thương mại, tài chính trong xu thế ngày càng hoà nhập và xích lại gần nhau

Như vậy, Luật quốc tế hiện đại giữ vai trò tích cực trong việc thúc đẩy hợp tác kinh tế vì sự tiến bộ của mỗi quốc gia và sự phồn vinh của toàn nhân loại

Do tương quan lực lượng trên thế giới từng bước thay đổi theo hướng mọi quốc gia đều có quyền tham gia vào sinh hoạt quốc tế, các nước đế quốc lớn ngày càng mất đi cơ hội để thực hiện ý đồ và vai trò sen đầm của mình nên Luật quốc

tế ngày càng phát triển theo xu hướng tiến bộ, dân chủ hơn Và như vậy, các quy phạm của Luật quốc tế hiện đại là cơ sở pháp lý vững chắc để các quốc gia, các lực lượng tiến bộ đấu tranh bảo vệ nền hoà bình thế giới, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế, xây dựng thế giới mới trong vòng trật tự

để ổn định và phát triển về tất cả các lĩnh vực của đời sống quốc tế phong phú và

đa dạng

3 Hệ thống Luật quốc tế hiện đại

Luật quốc tế hiện đại là hệ thống pháp luật đặc biệt cùng song song tồn tại với hệ thống pháp luật của từng quốc gia Luật quốc tế không chỉ đơn thuần là tổng thể các quy phạm mà là hệ thống các yếu tố cấu thành cuả nó và có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Hệ thống Luật quốc tế bao gồm Luật quốc tế chung, Luật quốc tế khu vực; các nguyên tắc, chế định và quy phạm Luật quốc tế; các ngành luật trong hệ thống Luật quốc tế v.v

Luật quốc tế là hệ thống pháp luật đặc biệt bởi vì nó bao gồm những đặc

điểm riêng biệt khác hẳn với các ngành luật trong hệ thống pháp Luật quốc gia a- Các nguyên tắc của Luật quốc tế hiện đại

Luật quốc tế hiện đại được tạo nên trước tiên bởi hệ thống các nguyên tắc, bao gồm: các nguyên tắc cơ bản, các nguyên tắc chuyên ngành, các nguyên tắc của Luật quốc tế khu vực và nguyên tắc trong quan hệ song phương

Trong hệ thống nguyên tắc này, các nguyên tắc cơ bản được coi là hạt nhân của cả hệ thống Luật quốc tế hiện đại Vì thế trong giáo trình này các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế được trình bày trong một chương riêng biệt (Chương II) Các nguyên tắc chuyên ngành được đề cập đến trong từng lĩnh vực khác nhau của Luật quốc tế, Ví dụ: nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh

28

Trang 29

thổ trong lĩnh vực lãnh thổ và biên giới quốc gia; nguyên tắc tự do biển cả trong lĩnh vực biển; nguyên tắc bất khả xâm phạm trụ sở cơ quan đại diện ngoại giao trong lĩnh vực ngoại giao và lãnh sự, v.v

Trong quan hệ song phương hoặc quan hệ giữa các quốc gia cùng khu vực

địa lý có các nguyên tắc riêng điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia này và chỉ

có giá trị bắt buộc đối với họ

Tuy nhiên, dù là nguyên tắc chuyên ngành hay nguyên tắc của Luật quốc tế khu vực thì một yêu cầu đặt ra là chúng phải được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và không trái với những nguyên tắc này

b Các quy phạm của Luật quốc tế hiện đại

Về mặt cơ cấu, các quy phạm của Luật quốc tế được chia thành: quy phạm chung và quy phạm riêng; quy phạm mệnh lệnh và quy phạm tuỳ nghi; quy phạm điều ước và quy phạm tập quán

Quy phạm chung là quy phạm trong các điều ước quốc tế toàn cầu và là cơ sở của toàn bộ hệ thống Luật quốc tế Ví dụ: Các quy phạm của Công ước Viên về Luật biển năm 1982, của các Công ước Viên năm 1961 về quan hệ Ngoại giao và năm 1963 về quan hệ Lãnh sự, v.v Các điều ước quốc tế có tính chất toàn cầu này có sự tham gia của đại đa số quốc gia nên các quy phạm của nó trở thành bắt buộc chung cho mọi quốc gia, dù là thành viên hoặc không là thành viên

Quy phạm riêng (quy phạm không phổ biến) là quy phạm chỉ có giá trị bắt buộc đối với các quốc gia thành viên ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế trong

đó có các quy phạm này Đó là các quy phạm trong điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương ở phạm vi khu vực

Quy phạm mệnh lệnh của Luật quốc tế là quy phạm bắt buộc đối với các quốc gia liên quan Các quốc gia không được quyền thoả thuận để không áp dụng loại quy phạm này nếu như nó quy định nghĩa vụ của quốc gia phải áp dụng Ví

dụ, Điều 17 Công ước Luật biển năm 1982 quy định: "Tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải" Như vậy, qua lại vô hại trong lãnh hải là quyền của tàu thuyền tất cả các nước, và quốc gia ven biển phải có nghĩa vụ đảm bảo quyền qua lại này

mà không được có quy định khác nhằm ngăn cản tàu thuyền nước ngoài thực hiện quyền của mình theo Công ước

Quy phạm tuỳ nghi của Luật quốc tế là quy phạm theo đó các quốc gia liên quan có quyền thoả thuận áp dụng hoặc không áp dụng, nhưng không

được làm thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia khác Ví

dụ, theo Luật biển quốc tế, lãnh hải là một phần của lãnh thổ quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia và tàu thuyền nước ngoài không được đánh

29

Trang 30

bắt cá trong vùng biển này Tuy nhiên, hai quốc gia có thể ký kết điều ước quốc tế, trong đó quốc gia này cho phép tàu thuyền của quốc gia kia đánh bắt cá trong lãnh hải của mình

Cũng cần nhận rõ rằng việc phân biệt giữa nguyên tắc và quy phạm Luật quốc tế chỉ mang tính ước lệ, bởi vì có hàng loạt quy phạm được gọi là các nguyên tắc của Luật quốc tế Ví dụ, Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc đã đưa ra các nguyên tắc bắt buộc đối với mọi quốc gia trong quan hệ quốc tế như: không dùng

vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế, v.v Các nguyên tắc này có tính quy phạm rõ ràng, vì nó làm phát sinh hiệu lực pháp lý bắt buộc các chủ thể có nghĩa vụ phải tuân theo

Học thuyết Luật quốc tế và thực tiễn của các quốc gia chỉ rõ rằng, các nguyên tắc của Luật quốc tế là những quy phạm khác với các quy phạm thông thường của Luật quốc tế ở chỗ nó mang tính chất chung và chỉ đụng chạm đến những vấn đề chính của quan hệ quốc tế mà không trực tiếp điều chỉnh từng vấn

đề cụ thể Vì thế, những nguyên tắc của Luật quốc tế chính là những quy phạm

có tính nguyên tắc

c Về thứ bậc của quy phạm Luật quốc tế

Về mặt lý luận, không phải tất cả các quy phạm Luật quốc tế đều có giá trị pháp lý như nhau Chính vì thế, chúng ta có thể nói đến thứ bậc (đẳng cấp) của các loại quy phạm này

Việc phân thành thứ bậc các loại quy phạm Luật quốc tế là cần thiết, vì rằng trong quan hệ quốc tế có những trường hợp để điều chỉnh một quan hệ xã hội cụ thể giữa các quốc gia lại có thể bắt gặp các loại quy phạm khác nhau Vì thế, vấn đề đặt ra là phải ưu tiên áp dụng quy phạm nào trong từng trường hợp

cụ thể này

Trước tiên có sự phân biệt thứ bậc giữa quy phạm mệnh lệnh và quy phạm tuỳ nghi, trong trường hợp này quy phạm mệnh lệnh có giá trị pháp lý cao hơn Tiếp theo là sự phân chia thứ bậc giữa quy phạm trong Hiến chương Liên Hợp Quốc với các quy phạm của các điều ước quốc tế khác nhau Theo Điều 13 của Hiến chương thì trong trường hợp mà nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc được quy định trong Hiến chương mâu thuẫn với nghĩa vụ của các quốc gia này theo quy định tại điều ước quốc tế nào đó thì nghĩa vụ theo Hiến chương Liên Hợp Quốc có hiệu lực pháp lý ưu tiên hơn

Trong thực tế chúng ta còn thấy sự phân chia thứ bậc của các quy phạm điều

ước quốc tế căn cứ vào cơ quan ký kết Theo thứ tự, điều ước quốc tế cấp chính phủ

30

Trang 31

có giá trị ưu tiên hơn so với điều ước quốc tế cấp bộ, ngành, vì nó được ký kết ở cấp cao hơn

d Các ngành luật trong hệ thống Luật quốc tế hiện đại

Luật quốc tế là tổng thể những nguyên tắc và quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác nhau tham gia vào quan hệ quốc tế liên chính phủ Các quy phạm này điều chỉnh từng lĩnh vực riêng biệt của đời sống quốc tế và nằm trong một thể thống nhất, tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh,

gọi là hệ thống Luật quốc tế

Hệ thống Luật quốc tế được tạo nên bởi các ngành luật có mối liên hệ gắn bó mật thiết với nhau Không có từng ngành Luật quốc tế riêng biệt thì không thể có một hệ thống Luật quốc tế độc lập tách khỏi hệ thống pháp Luật quốc gia Và như vậy, hệ thống Luật quốc tế được cấu thành bởi hệ thống các ngành luật riêng biệt của Luật quốc tế

Trong học thuyết về Luật quốc tế ở các nước không có sự phân chia giống nhau

về các ngành luật của Luật quốc tế hiện đại

ở Việt Nam, quan điểm truyền thống cho rằng Luật quốc tế hiện đại bao gồm các ngành luật chủ yếu, như: Luật biển quốc tế, Luật hàng không dân dụng quốc tế, Luật điều ước quốc tế, Luật Ngoại giao và lãnh sự, luật lãnh thổ và biên giới quốc gia, Luật tổ chức quốc tế, dân cư trong Luật quốc tế, Luật về hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế, Luật an ninh quốc tế và giải trừ quân bị, Luật

lệ và tập quán quốc tế về chiến tranh, trách nhiệm pháp lý quốc tế

Ngoài ra, trong hệ thống Luật quốc tế còn bao gồm các ngành luật mới xuất hiện trong mấy thập niên gần đây, như: Luật kinh tế quốc tế, Luật vũ trụ quốc

tế, Luật quốc tế về bảo vệ môi trường

Như vậy, hệ thống Luật quốc tế bao gồm các ngành luật khác nhau, trong đó mỗi ngành luật lại bao gồm các chế định, các quy phạm cùng điều chỉnh loại quan hệ xã hội trong từng lĩnh vực cụ thể của đời sống quốc tế

V Nguồn của Luật quốc tế hiện đại

1 Khái niệm nguồn của Luật quốc tế

Hiểu theo nghĩa rộng của từ thì nguồn của Luật quốc tế là những điều kiện vật chất của cuộc sống xã hội tác động và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ chính trị, kinh tế, giữa các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế

Theo nghĩa pháp lý thì nguồn của Luật quốc tế là hình thức biểu hiện của các quy phạm pháp lý quốc tế, là kết quả của quá trình thoả thuận ý chí của các chủ thể Luật quốc tế

31

Trang 32

Về mặt lý luận, thoả thuận ý chí là biện pháp duy nhất để xây dựng hay công nhận quy phạm pháp lý quốc tế Chỉ có thông qua thoả thuận các chủ thể mới đạt được kết quả xây dựng quy phạm điều ước hoặc cùng công nhận các quy phạm tập quán có ý nghĩa pháp lý ràng buộc mình

Vấn đề nguồn của Luật quốc tế hiện đại có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, vì trong mọi trường hợp các chủ thể liên quan hoặc các cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền đều phải trả lời câu hỏi rằng, đối với quan hệ xã hội cụ thể này thì cần phải được điều chỉnh bằng quy phạm nào của Luật quốc tế? Và cuối cùng câu hỏi cần phải có lời giải đáp rõ ràng là, những hình thức biểu hiện nào được coi là nguồn của Luật quốc tế, những hình thức nào không phải là nguồn của nó? Hay nói theo cách khác thì nguồn của Luật quốc tế được ghi nhận trong hình thức biểu hiện nào?

Để có được chính xác danh mục các loại nguồn của Luật quốc tế hiện đại chúng ta phải xuất phát từ lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và áp dụng quy phạm pháp lý quốc tế, trên cơ sở phân tích các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng liên quan đến việc khẳng định nội dung của khái niệm này

Điều 38 Quy chế Toà án quốc tế Liên Hợp Quốc quy định Toà án trên cơ sở Luật quốc tế có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp theo yêu cầu của các bên,

- Các nguyên tắc pháp lý được các dân tộc văn minh thừa nhận;

- Với điều kiện nêu ở Điều 59, các quyết định của Toà án và học thuyết của chuyên gia các nước khác nhau có chuyên môn cao nhất về Công pháp quốc tế

được coi là phương tiện để xác định quy phạm pháp luật

Điều 38 Quy chế Toà án Liên Hợp Quốc được giải thích khác nhau trong sách báo pháp lý quốc tế ở các nước Có tác giả cho rằng nguồn của Luật quốc tế hiện đại là tất cả các hình thức được nêu trong Điều 38 của Quy chế, bao gồm:

điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, án lệ của Toà án quốc tế Liên Hợp Quốc và học thuyết của các luật gia danh tiếng về Công pháp quốc tế 1 Ngược lại, có quan điểm lại xuất phát từ chỗ cho rằng nguồn của Luật quốc tế hiện đại chỉ bao gồm điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

Chúng ta sẽ lần lượt xem xét về các loại nguồn của Luật quốc tế hiện đại theo quan điểm của các tác giả giáo trình này

32

Trang 33

2 Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế do các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quy phạm gọi là quy phạm Luật quốc tế

Điều ước quốc tế có thể là đa phương toàn cầu hoặc khu vực, hoặc cũng có thể là điều ước song phương

Điều ước quốc tế đa phương toàn cầu là văn bản pháp lý quốc tế có sự ký kết hoặc tham gia của hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới, Ví dụ: Hiến chương Liên Hợp Quốc, Công ước của Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển, Công ước Chicagô năm 1944 về hàng không dân dụng quốc tế, v.v

Điều ước quốc tế đa phương khu vực là văn bản pháp lý quốc tế có sự ký kết hoặc tham gia của từ ba quốc gia trở lên, thường được ký kết trong phạm vi các quốc gia hoặc có cùng chung khu vực địa lý, hoặc có chế độ chính trị, kinh tế-xã hội gần gũi nhau, Ví dụ: các điều ước quốc tế được ký kết giữa các nước thuộc Liên minh châu Âu, giữa các nước khối ASEAN, giữa các nước thuộc khối NATO hoặc khối VARSAVA trước đây

Điều ước quốc tế song phương là văn bản pháp lý quốc tế được hai quốc gia trực tiếp ký kết, như: Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ngày 18/7/1977; Hiệp định về Vùng nước lịch sử chung Việt Nam - Cămpuchia ngày 7/7/1982; Hiệp định về Hợp tác và Hữu nghị giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên Xô năm 1978; Hiệp định về Biên giới giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ngày 30/12/1999; v.v

Điều ước quốc tế được coi là nguồn cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, vì tuyệt

đại bộ phận quy phạm Luật quốc tế hiện đại đều nằm trong điều ước quốc tế và

do các quốc gia xây dựng nên Nếu như từ những năm 70 về trước hầu như chỉ có

điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia thì ngày nay xuất hiện điều ước quốc tế giữa các tổ chức quốc tế liên chính phủ với nhau, cũng như điều ước quốc

tế giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế liên chính phủ

Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của Luật quốc tế, nhưng về mặt lý luận không phải mọi điều ước quốc tế đã có hiệu lực đều được coi là nguồn của Luật quốc tế

Một điều ước quốc tế được coi là nguồn của Luật quốc tế nếu nó đáp ứng đợc các yêu cầu sau đây:

33

Trang 34

- Một là, điều ước quốc tế phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và bình

đẳng giữa các chủ thể Tự nguyện và bình đẳng không phải là nguyên tắc đặc thù của điều ước quốc tế mà là nguyên tắc chung của các ngành luật, của việc ký kết các loại hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng

Điều ước quốc tế được ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng thì các chủ thể của nó mới thể hiện được ý chí của mình, và khi ấy họ mới tự nguyện thực hiện những cam kết đã thoả thuận Với ý nghĩa đó, chỉ khi ấy các điều ước quốc tế này mới phát sinh hiệu lực thực tế, mới được coi là nguồn của Luật quốc tế

- Hai là, điều ước quốc tế được ký kết phải có nội dung phù hợp với những

nguyên tắc cơ bản và các quy phạm có giá trị pháp lý cao nhất của Luật quốc tế

Ví dụ, các điều ước quốc tế có những quy định trái với Hiến chương Liên Hợp Quốc, trái với các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, như nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia được coi là trái với pháp Luật quốc tế và không thể là nguồn của nó được

Lập luận này được coi là có cơ sở, vì cũng giống như trong mỗi hệ thống pháp Luật quốc gia Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản, trong đó bao gồm các quy phạm có tính nguyên tắc và các quy phạm về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quyền và nghĩa vụ của công dân, được coi là cơ sở, nền tảng cho tất cả các đạo luật và các văn bản pháp quy khác của tất cả các ngành luật trong

hệ thống pháp Luật quốc gia

Nếu như trong hệ thống pháp Luật quốc gia các quy phạm có tính nguyên tắc, các quy phạm hiến pháp là cơ sở cho cả hệ thống pháp luật thì trong hệ thống Luật quốc tế các quy phạm nguyên tắc, các quy phạm trong điều ước quốc

tế toàn cầu được coi là cơ sở nền tảng cho toàn bộ hệ thống Và như vậy, các điều

ước quốc tế đa phương hoặc song phương khác có nội dung trái với những nguyên tắc và quy phạm cơ bản của Luật quốc tế hiện đại thì hiển nhiên không có giá trị pháp lý và không thể là nguồn của Luật quốc tế

3 Tập quán quốc tế

Tập quán quốc tế là quy tắc xử sự chung được hình thành trong thực tiễn quốc tế và được các quốc gia thừa nhận là quy phạm pháp lý ràng buộc mình Trong thực tiễn quan hệ quốc tế có rất nhiều loại tập quán khác nhau, trong

đó có những tập quán là nguồn của tư pháp quốc tế, như các tập quán thương mại quốc tế, tập quán hàng hải quốc tế, tập quán về tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia v.v Trong giáo trình này chỉ đề cập đến tập quán quốc tế với tư cách là nguồn của Luật quốc tế

34

Trang 35

Vậy, những tập quán quốc tế nào được công nhận là quy phạm Luật quốc tế,

là nguồn của Luật quốc tế?

Một tập quán quốc tế trở thành quy phạm Luật quốc tế phải là tập quán có các dấu hiệu dưới đây:

- Thứ nhất, phải là quy tắc xử sự chung hình thành trong quan hệ giữa các

quốc gia và được các quốc gia tuân thủ và áp dụng một cách tự nguyện

Thông thường trong quan hệ quốc tế có rất nhiều tập quán với tính chất là quy tắc xử sự chung, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại giao và hàng hải quốc tế bằng

đường biển Ví dụ: Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lần thứ hai trở lại nhận công tác

sẽ được đại diện Bộ Ngoại giao nước nhận đại diện đón tiếp (thường là Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) Trong thực tiễn quốc tế, đây chỉ là quy tắc xử sự

mà chưa phải là quy phạm pháp lý, nhưng lại được các quốc gia tuân thủ và áp dụng một cách tự nguyện

- Thứ hai, quy tắc xử sự được coi là tập quán quốc tế và phải lặp đi lặp lại

nhiều lần, trải qua quá trình dài lâu và được các quốc gia thoả thuận thừa nhận tập quán đó là có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với mình Kể từ đó tập quán quốc

tế trở thành quy phạm pháp lý quốc tế và là nguồn của Luật quốc tế

Như vậy, quá trình hình thành quy phạm tập quán của Luật quốc tế bao gồm hai giai đoạn:

- Giai đoạn 1: các quốc gia thoả thuận tuân thủ quy tắc xử sự chung trong

quan hệ giữa họ với nhau;

- Giai đoạn 2: Các quốc gia thoả thuận thừa nhận tập quán đó là quy phạm

Luật quốc tế

Tập quán quốc tế được hình thành trong quan hệ giữa các quốc gia với nhau, lúc đầu được thể hiện thành những quy tắc xử sự chung do một hay một số quốc gia đưa ra, có thể thông qua tuyên bố của các cơ quan nhà nước hoặc những người lãnh đạo cao nhất của quốc gia, thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói, sau đó

được các quốc gia cùng áp dụng, cùng thừa nhận và trở thành tập quán pháp quốc tế Rõ ràng là, quá trình hình thành tập quán pháp quốc tế là rất dài lâu và liên tục Cũng giống như quy phạm điều ước quốc tế, quy phạm tập quán quốc tế thể hiện ý chí của các quốc gia trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện

Cũng như điều ước quốc tế, tập quán quốc tế bao gồm: tập quán quốc tế có tính nguyên tắc, tập quán quốc tế chung, tập quán quốc tế khu vực

Tập quán quốc tế khu vực được áp dụng trong quan hệ của một nhóm nước hoặc thậm chí hai nước và chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc các nước đó

35

Trang 36

Tập quán quốc tế chung là tập quán được nhiều nước ở các châu lục khác nhau trên thế giới thừa nhận và áp dụng rộng rãi, phổ cập trong quan hệ giữa quốc gia

Tập quán quốc tế có tính nguyên tắc là những tập quán liên quan đến chủ quyền quốc gia, đến quyền bình đẳng giữa các quốc gia, là cơ sở cho quan hệ giữa các quốc gia Loại tập quán quốc tế này có giá trị pháp lý bắt buộc tất cả các quốc gia trên thế giới, dù có thừa nhận hoặc không thừa nhận

4 Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

Khi phân tích các loại nguồn của Luật quốc tế, có một vấn đề quan trọng cần thiết phải được làm sáng tỏ, đó là mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế Chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ này dưới các khía cạnh sau đây:

- Một là, cần làm rõ vai trò, vị trí của hai loại nguồn này trong hệ thống

Luật quốc tế nói riêng, trong quan hệ quốc tế nói chung;

- Hai là, sự tác động qua lại giữa hai loại nguồn này;

- Ba là, so sánh hiệu lực pháp lý của hai loại nguồn này

Trong lịch sử quan hệ giữa các quốc gia, tập quán quốc tế với tính chất là nguồn của Luật quốc tế xuất hiện sớm hơn nhiều so với điều ước quốc tế Trong thời kỳ cổ đại và trung đại, quan hệ giữa các quốc gia chủ yếu được điều chỉnh bằng tập quán quốc tế Ngày nay quy phạm điều ước lại là nguồn cơ bản của Luật quốc tế, dù rằng tập quán quốc tế vẫn giữ vai trò nhất định trong việc điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, giữa từng nhóm quốc gia hoặc giữa hai quốc gia cụ thể

Về mặt lịch sử, tập quán quốc tế ra đời sớm hơn điều ước quốc tế, nhưng giữa hai loại nguồn này lại có mối quan hệ gắn bó với nhau, tác động qua lại đến nhau, bổ sung cho nhau, cùng thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ liên quốc gia phát sinh trong đời sống quốc tế Cơ sở của mối liên hệ qua lại giữa tập quán quốc tế và điều ước quốc tế thể hiện ở quá trình hình thành quy phạm của chúng Cả quy phạm điều ước, cả quy phạm tập quán đều là kết quả của sự thoả thuận ý chí giữa các chủ thể liên quan

Mối quan hệ qua lại giữa tập quán quốc tế và điều ước quốc tế thể hiện trước

hết ở chỗ tập quán quốc tế tác động đến sự hình thành và phát triển của điều ước quốc tế

Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của Luật quốc tế cho phép chúng ta khẳng định rằng nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ quy phạm tập quán quốc tế Theo sự phát triển ngày càng tiến bộ của Luật quốc tế, nhiều quy phạm tập quán quốc tế dần dần bị huỷ bỏ và được thay thế hoặc phát

36

Trang 37

triển thành quy phạm điều ước Trong quá trình soạn thảo điều ước quốc tế, hàng loạt quy phạm tập quán quốc tế được các nhà làm luật nghiên cứu để tập hợp, và

ở mức độ nào đó đã pháp điển hoá thành các quy phạm của điều ước quốc tế Các quy định về Luật biển quốc tế trong Công ước Luật biển năm 1982, như chế độ qua lại vô hại cuả tàu thuyền nước ngoài trong vùng lãnh hải, quyền tài phán của quốc gia trong nội thuỷ của mình, nhiều quy định trong quy chế pháp lý vùng trời của Luật hàng không dân dụng hoặc quy định của luật ngoại giao, của lãnh thổ và biên giới quốc gia trong các điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương có nguồn gốc, cơ sở từ quy phạm tập quán quốc tế

Sự tác động qua lại giữa hai loại nguồn của Luật quốc tế thể hiện tiếp theo ở

việc điều ước quốc tế tác động trở lại đến sự hình thành và phát triển của tập quán quốc tế Sự tác động này thường xuất hiện chủ yếu từ các điều ước quốc tế

có tính phổ cập toàn cầu Ví dụ minh chứng cho lập luận này là việc có những

điều ước quốc tế như Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước

về Luật biển năm 1982 có sự ký kết và tham gia của đa số các quốc gia trên thế giới, dù rằng vẫn không phải là mọi quốc gia Không nghi ngờ gì nữa các quy phạm của các Công ước này là quy phạm của Luật quốc tế chung có hiệu lực pháp

lý bắt buộc không chỉ đối với các quốc gia thành viên mà còn đối với tất cả các quốc gia không phải là thành viên của chúng

Thực tiễn cho thấy, các quốc gia dù không ký kết hoặc tham gia những Công

ước này cũng đều công nhận chúng là điều ước quốc tế chung, trong đó có các quy phạm pháp lý ràng buộc mình với tính chất là tập quán quốc tế Trong những trường hợp này, quy phạm điều ước có tính phổ cập toàn cầu lại trở thành quy phạm tập quán quốc tế để điều chỉnh nhiều mối quan hệ phát sinh giữa các quốc gia với nhau trong đời sống quốc tế ngày càng thêm sôi động của chúng ta

Khi đề cập về mối quan hệ qua lại giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế cũng cần làm rõ việc so sánh hiệu lực pháp lý của hai loại nguồn này trong Luật quốc tế nói chung và trong việc điều chỉnh từng quan hệ xã hội cụ thể nói riêng

Về mặt lý luận, các quy phạm Luật quốc tế dù là quy phạm điều ước hay quy phạm tập quán cũng đều có giá trị pháp lý như nhau Việc áp dụng loại quy phạm nào của Luật quốc tế là tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể, từng phạm vi quan hệ cụ thể, từng mục đích và nhu cầu cụ thể của các chủ thể để điều chỉnh các quan hệ có liên quan đến mình chứ không phải là tuỳ thuộc vào sự phân chia thứ bậc về giá trị pháp lý của hai loại nguồn này

Thông thường, trong giao lưu giữa các quốc gia những mối quan hệ này được

điều chỉnh bằng quy phạm điều ước còn những mối quan hệ kia lại được điều chỉnh bằng quy phạm tập quán Hai loại nguồn này luôn bổ sung cho nhau, thay

37

Trang 38

thế nhau và trong thế giới hiện đại thì quy phạm điều ước là loại nguồn chủ yếu

và quy phạm tập quán vẫn có vai trò nhất định với tính chất là một loại nguồn của Luật quốc tế

Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia đôi khi xuất hiện trường hợp cùng một quan hệ xã hội cụ thể lại có cả quy phạm điều ước và quy phạm tập quán cùng tham gia điều chỉnh Gặp trường hợp như vậy các quốc gia

sẽ áp dụng loại quy phạm nào? Trong khoa học Luật quốc tế từ trước đến nay chưa có quan điểm thống nhất về vấn đề này Các quan điểm chung nhất ở Việt Nam và nhiều nước thường thiên theo hướng ưu tiên áp dụng quy phạm điều ước quốc tế Lý lẽ để bảo vệ quan điểm này là ở chỗ dù rằng cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đều là kết quả thoả thuận ý chí của các quốc gia, nhưng ý chí đó lại

được thể hiện trong điều ước quốc tế rõ ràng hơn, minh bạch hơn, và ở mức độ ràng buộc trách nhiệm cao hơn so với ý chí trong tập quán quốc tế

Tóm lại, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là hai loại nguồn của Luật

quốc tế đã tồn tại từ thời cổ đại cho đến ngày nay ở mỗi thời kỳ lịch sử hai loại nguồn nay luôn tác động đến sự hình thành và phát triển của nhau, bổ sung cho nhau, cùng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ muôn hình, muôn vẻ giữa các quốc gia và cùng thúc đẩy sự phát triển của Luật quốc tế

ở các khu vực khác nhau cũng như trong phạm vi toàn thế giới

5 Các phương tiện bổ trợ nguồn của Luật quốc tế

a Quyết định của Toà án quốc tế Liên Hợp Quốc

Trong học thuyết Luật quốc tế tư sản thường có các quan điểm đề cao quá mức vai trò của các quyết định của Toà án quốc tế Liên Hợp Quốc Điều này cũng

dễ hiểu, bởi lẽ ở các nước thuộc hệ thống luật Anh - Mỹ (hệ thống Common law) thì án lệ được coi là nguồn cơ bản của pháp luật; các quy phạm pháp luật chủ yếu nằm trong các quyết định của Toà án và trọng tài, còn các quy phạm ở văn bản pháp quy lại không phải là chủ yếu

Thực tiễn pháp Luật quốc gia ở các nước thuộc hệ thống Common law đã

ảnh hưởng đến quan điểm của nhiều luật gia phương Tây, trong khi xuất phát

từ việc đề cao vai trò của án lệ đã kiên trì quan điểm cho rằng quyết định của Toà án quốc tế là nguồn của Luật quốc tế, vì trong đó có các quy phạm pháp luật

Cách lập luận này của các học giả phương Tây trái với Điều 38 Quy chế Toà

án quốc tế, trong đó ghi nhận rằng "Quyết định của Toà án được coi là phương tiện bổ trợ để xác định quy phạm pháp luật"

38

Trang 39

Nghiên cứu lý luận về nguồn của Luật quốc tế cho phép chúng ta khẳng

định rằng: quyết định của Toà án quốc tế không phải là nguồn của Luật quốc tế, vì tự bản thân chúng không sinh ra quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc các bên chủ thể phải tuân theo Các quyết định này chỉ là phương tiện hỗ trợ cần thiết để xác định sự đúng, sai của các quốc gia khi áp dụng quy phạm Luật quốc

tế cụ thể nào đó Nói cách khác, quyết định của Toà án quốc tế Liên Hợp Quốc chỉ

là phương tiện giải thích một cách chính xác và bảo vệ sự đúng đắn của quy phạm Luật quốc tế

b Nghị quyết, khuyến nghị của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế liên chính phủ

Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế liên chính phủ là văn kiện quốc tế trong đó đề ra các định hướng chủ trương, biện pháp giải quyết từng vấn đề nhất định, mang tính thời sự của đời sống quốc tế, hoặc tuyên bố về nguyên tắc giải quyết những vấn đề nào đó trong quan hệ quốc

tế v.v

Tự bản thân, nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế liên chính phủ không sinh ra quy phạm pháp lý và vì thế không được coi

là nguồn của Luật quốc tế Tuy vậy, nhiều nghị quyết, khuyến nghị của Đại hội

đồng Liên Hợp Quốc giữ vai trò nhất định trong quá trình hình thành và phát triển của quy phạm Luật quốc tế, đồng thời được công nhận là phương tiện để xác nhận hoặc giải thích quy phạm pháp lý quốc tế hiện hành

Trong thực tiễn quốc tế, khi xác định hoặc giải thích quy phạm Luật quốc tế các quốc gia thường viện dẫn đến nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Các nghị quyết được viện dẫn đến nhiều hơn cả và có vai trò quan trọng trong đời sống quốc tế là: Tuyên bố của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1960 về trao trả

độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa; Tuyên bố về việc cấm can thiệp vào công việc nội bộ, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các quốc gia năm 1965; Tuyên

bố của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1970 về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc; Tuyên bố về củng cố an ninh quốc tế năm 1972; Tuyên bố về định nghĩa xâm lược năm 1974; v.v

c Học thuyết về Luật quốc tế

Theo Điều 38 Quy chế Toà án quốc tế thì khi quyết định công việc Toà án

có thể áp dụng "Học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về Công pháp quốc tế" Như vậy, học thuyết về Luật quốc tế được chính thức thừa nhận là phương tiện bổ trợ để xác định hoặc giải thích quy phạm Luật quốc tế

39

Trang 40

Học thuyết về Luật quốc tế là các quan điểm, công trình nghiên cứu, các tác phẩm và kết luận của các học giả - chuyên gia về Luật quốc tế đưa ra những lời giải đáp về điều ước quốc tế và tập quán quốc tế để làm sáng tỏ nội dung của nó, giúp cho việc áp dụng một cách đúng đắn quy phạm pháp lý cụ thể vào từng trường hợp cụ thể

Học thuyết về Luật quốc tế có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng thực tế đến việc hình thành nhận thức của con người về Luật quốc tế, và qua đó đến quan

điểm của quốc gia về các vấn đề pháp lý quốc tế Học thuyết của các chuyên gia danh tiếng về Công pháp quốc tế có vai trò khác nhau, trong đó có thể là vai trò tích cực và có thể là vai trò tiêu cực, phản động, tuỳ thuộc vào nội dung của từng học thuyết cụ thể

Như vậy, học thuyết về Luật quốc tế chỉ là phương tiện bổ trợ nguồn mà không phải là nguồn của Luật quốc tế, bởi lẽ:

- Thứ nhất, học thuyết về Luật quốc tế không phải là văn bản pháp lý,

không thể hiện ý chí của các quốc gia được nâng lên thành luật;

- Thứ hai, tự bản thân học thuyết không sinh ra quy phạm pháp lý quốc tế,

không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc các bên;

- Thứ ba, học thuyết về Luật quốc tế không có sự công nhận hay không

công nhận từ phía các quốc gia và không được thực hiện trong quan hệ quốc

tế Nó chỉ được coi là phương tiện bổ trợ cho quá trình thực hiện Luật quốc tế, giúp cho việc hiểu đúng và thực hiện đúng Luật quốc tế trong thực tiễn

VI mối quan hệ giữa Luật quốc tế và pháp Luật quốc gia

Mối quan hệ giữa Luật quốc tế và pháp Luật quốc gia là vấn đề luôn gây ra nhiều tranh luận trong khoa học pháp lý quốc tế, bởi vì nó đụng chạm trực tiếp

đến quá trình thực hiện Luật quốc tế ở từng quốc gia nói riêng và ở cả cộng đồng quốc tế nói chung Các ý kiến khác nhau, đối lập nhau không những chỉ xuất hiện ở các tác giả thuộc chế độ chính trị - xã hội khác nhau, và còn với cả những tác giả ở ngay trong cùng một chế độ, cùng một quốc gia với nhau Từ trước đến nay các quan điểm thường tập trung vào các vấn đề:

- Luật quốc tế và pháp Luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật riêng biệt hay cùng trong một hệ thống;

- Sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai hệ thống pháp luật này;

- "Ưu tiên" Luật quốc tế hay "Ưu tiên" Luật quốc gia;

- Bảo đảm thực hiện Luật quốc tế ở các quốc gia

40

Ngày đăng: 23/09/2022, 08:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w