1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXHNV BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ (Nhân ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26 4 2018) Hà Nội,.1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXHNV BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ (Nhân ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26 4 2018) Hà Nội,.
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV
(Nhân ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26.4.2018)
Hà Nội, ngày 21 tháng 4 năm 2018
Trang 22
Trang 33
MỤC LỤC
1 Trần Việt Anh 3917 Trường
Đại học Luật Hà Nội
Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
PGS.TS
Vũ Thị Hải Yến
Ứng dụng sáng chế số WO2004098301
“Procedure for the preservation of bananas”
để bảo quản chuối ngự Đại Hoàng
PGS.TS Trần Văn Hải
sự
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
Xử lý dân sự về hành
vi xâm phạm đối với nhãn hiệu dược phẩm
ThS Đỗ Thị Diện
61
4 Nhữ Thảo Linh Luật
kinh doanh K57
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Giải quyết tranh chấp
về tên thương mại và nhãn hiệu hàng hóa thông qua vụ Taisun Việt Nam
PGS.TS Trần Văn Nam
83 Hoàng Thị Linh
Chu Việt Hà
5 Hoàng Thùy Linh K60A Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Nhận diện rào cản trong việc xây dựng thư viện số để bảo vệ tri thức truyền thống tại Việt Nam (nghiên cứu trường hợp Y dược học cổ truyền)
PGS.TS Trần Văn Hải
109
6 Võ Thị Khánh Lựu Luật
K38B Dân
sự
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
Xung đột giữa bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý theo pháp luật
sở hữu trí tuệ
ThS Đỗ Thị Diện
125
7 Đào Ngọc Minh 4002 Trường
Đại học Luật Hà Nội
Xử lí vi phạm quyền tác giả ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
ThS Phạm Minh Huyền
157 Đặng Thị Vân Anh
Đỗ Minh Anh
Trang 44
8 Phạm Thu Ngân K60B Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Nhận diện những bất cập trong bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm báo điện tử
tại Việt Nam (Nghiên cứu đối với trường hợp BÁO MỚI)
ThS Hoàng Lan Phương
175 Nguyễn Thị
Bích
Ngọc
9 Nguyễn Huy Phúc 4123 Trường
Đại học Luật Hà Nội
Website xem phim miễn phí dưới góc nhìn của pháp luật quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
PGS.TS
Vũ Thị Hải Yến
189 Đinh Thị
sự
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
Bảo hộ sáng chế quốc
tế theo Hiệp ước Hợp tác về sáng chế (PCT)
- các chiến lược trì hoãn chi phí và tối đa hoá giá trị sáng chế trong nước và quốc tế
ThS Đỗ Thị Diện
215
11 Nguyễn Thị Thanh K60B Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Áp dụng phương pháp bảo quản hoa hồng trong quá trình vận chuyển, lưu trữ và bộ dụng cụ vận chuyển
có chứa hoa hồng cắt
US20170000112A1
PGS.TS Trần Văn Hải
Vấn nạn xâm phạm quyền liên quan đối với chương trình phát sóng tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp các chương trình phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam VTV)
ThS Hoàng Lan Phương
261 Nguyễn Thị
Ảnh hưởng của công nghệ Blockchain tới việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối của các sản phẩm âm nhạc
PGS TS
Lê Thị Thu Hà
275
14 Hoàng Phương Thúy Luật
kinh
Trường Đại học
Pháp luật về nhãn hiệu hiện nay tại Việt Nam
ThS
Nguyễn
299
Trang 55
doanh Quốc
tế K56
Kinh tế Quốc dân
Thị Hồng Hạnh
15 Hà Hiền Thương Anh
17 – Khoá
52
Trường Đại học Ngoại thương
Hoạt động thương mại hóa sáng chế trong doanh nghiệp khoa học và côgn nghệ của Việt Nam
ThS Lữ Thị Thu Trang
325
16 Hà Thị Thu Trang 3907 Trường
Đại học Luật Hà Nội
Xác định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, liên hệ với pháp luật Nhật Bản và một số kiến nghị
ThS Phạm Minh Huyền
353
17 Trần Thị Trang Anh 5
KT K52
Trường Đại học Ngoại thương
Hoạt động đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
ThS Lữ Thị Thu Trang
377
18 Nguyễn Văn Túc Luật
K38B Dân
sự
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
Bảo hộ tri thức truyền thống trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế
ThS Đỗ Thị Diện
407
Trang 66
Trang 77
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC,
NGHỆ THUẬT DÂN GIAN MIỀN BIỂN
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Giáo viên hướng dẫn:
Trần Việt Anh
3917 Trường Đại học Luật Hà Nội
PGS.TS Vũ Thị Hải Yến
Trang 88
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 10
1 Lý do lựa chọn đề tài. 10
2 Tình hình nghiên cứu đề tài. 10
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài. 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 11
5 Phương pháp nghiên cứu. 11
6 Kết quả nghiên cứu. 11
7 Kết cấu của đề tài. 11
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT DÂN GIAN MIỀN BIỂN 11
1.1 Tổng quan về tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. 12
1.1.1 Khái niệm tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 12
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 12
1.1.3 Phân loại tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 14
1.2 Một số loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. 16
1.2.1 Đặc trưng văn hóa biển trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 16
1.2.2 Một số tác phẩm văn học dân gian miền biển. 16
1.2.3 Dân ca miền biển. 17
1.3 Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 19
1.3.1 Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 19
1.3.2 Khái niệm bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 19
1.3.3 Mục đích, ý nghĩa bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian 19
1.3.4 Khái quát pháp luật Việt Nam và quốc tế về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 21
2.1 Thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. 24
2.1.1 Thành tựu đạt được. 24
2.1.2 Một số bất cập còn tồn tại. 25
2.2 Những bất cập trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. 26
2.2.1 Những đặc điểm của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển tạo nên bất cập trong việc bảo hộ quyền tác giả. 26
2.2.2 Những hạn chế trong các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. 27
2.2.2.1 Bất cập trong việc xác định chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. 27
2.2.2.2 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 29
2.2.2.3 Xác lập quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 29
2.2.2.4 Mục đích bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 30
2.2.2.5 Nội dung bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. 30
Trang 99
2.2.2.6 Xác định các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian miền biển. 33
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA 34
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM
VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT DÂN GIAN MIỀN BIỂN 34
3.1 Một số vấn đề cần lưu ý khi xem xét việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian miền biển. 34
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền tác
giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. 35
3.3 Một số kiến nghị đối với việc thực thi các biện pháp bảo vệ quyền tác giả đối với
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. 37
KẾT LUẬN 39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 10Mặc dù Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản liên quan quy định việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Tuy nhiên trong thực tế hầu như ít ai quan tâm đến việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển Mặt khác, vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển vẫn còn những bất cập cần tiếp tục hoàn thiện Bên cạnh đó thì nhận thức của người dân về quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng vẫn còn thấp Việc tuân thủ và thi hành pháp luật
về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian vẫn chưa thực sự đi vào đời sống
xã hội của mọi người dân Thêm vào đó chúng ta còn chưa quen với việc trả một khoản chi phí cho những người có công sưu tầm, nghiên cứu, lưu giữ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ngoài
người bán các sản phẩm này Chính vì lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Bảo hộ
quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển” Đề tài sẽ khái quát các
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển, việc bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm này, nghiên cứu thực trạng việc bảo hộ và bất cập pháp luật đối với những tác phẩm đó Từ việc nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian tại Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng là những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu và khai thác Liên quan đến vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan tuy nhiên những nghiên cứu này vẫn còn khá sơ lược, chưa thực sự cụ thể và sâu sắc
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (2005) “Sở hữu trí tuệ - một công cụ đắc lực để phát
triển kinh tế” đã dành hẳn một chương để viết về tri thức truyền thống (chương 7) có đề cập đến
văn học, nghệ thuật dân gian nhưng chủ yếu nghiên cứu về các tri thức bản địa trong các lĩnh vực thuốc chữa bệnh, bảo tồn đa dạng sinh học, môi trường, lương thực và nông nghiệp mà chưa nghiên cứu sâu về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến như:
- ThS Vũ Thị Phương Lan (Giảng viên Khoa luật quốc tế - Trường Đại học Luật Hà Nội)
Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam – Một
số bất cập về lí luận và giải pháp Tạp chí luật học số 11/2006 Trang 24 – 31 Trong bài viết, tác
giả đã phân tích và đề ra giải pháp cho ba bất cập cơ bản về mặt lí luận của pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian: 1) Quyền sở hữu; 2) Mục đích bảo hộ; 3) Phạm vi bảo hộ
- Phan Tấn Phát, Nguyễn Nho Hoàng Quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm văn học nghệ
thuật dân gian Tạp chí dân chủ và pháp luật Số tháng 7/2012 cũng đã có những nghiên cứu về văn
học, nghệ thuật dân gian Việt Nam cùng những bất cập của luật vào giải pháp để nâng cao bảo hộ với đối tượng này
- TS.Vũ Mạnh Chu trong bài viết Bảo hộ di sản văn học nghệ thuật dân gian ở Việt Nam đã
đề cập đến vấn đề bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, một trong những di sản văn hóa của dân tộc
Trang 1111
Các bài báo, bài nghiên cứu đã chỉ ra được những vấn đề bất cập trong Luật Sở hữu trí tuệ
về quyền tác giả và quyền liên quan có đề cập đến tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Tuy nhiên các bài nghiên cứu chỉ nói đến các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian chung chung mà chưa đi vào cụ thể Vì vậy, đề tài này tác giả sẽ kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước, từ đó phát triển hoàn thiện, đi vào nghiên cứu cụ thể hơn vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và áp dụng thực tiễn đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề lý luận về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển Phân tích nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian từ đó chỉ ra những bất cập, tồn tại hạn chế của các quy định pháp luật và áp dụng đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển Chỉ ra thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm này Đồng thời sẽ đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Mục đích quan trọng hơn cả của
đề tài là góp phần nâng cao nhận thức của các cá nhân, tổ chức trong việc tôn trọng và thực thi pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng và Luật Sở hữu trí tuệ nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
- Phạm vi nghiên cứu: Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định là nghiên cứu các vấn đề lý luận để xác định tính đặc thù của quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; nghiên cứu các quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; nghiên cứu để đánh giá thực
trạng bảo hộ, những bất cập hiện nay từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Các phương pháp cụ thể: Phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp
6 Kết quả nghiên cứu
Đề tài đã khải quát các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển, việc bảo hộ đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển Nghiên cứu thực trạng việc bảo hộ và bất cập pháp luật đối với những tác phẩm đó Từ đó kiến nghị một số giải pháp liên quan và phương hướng hoàn thiện pháp luật Sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát chung về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian miền biển
Chương 2: Những bất cập trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian miền biển
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo
hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
Trang 1212
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI
TÁC PHẨM VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT DÂN GIAN MIỀN BIỂN
1.1 Tổng quan về tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
1.1.1 Khái niệm tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Theo từ điển “Thuận ngữ quyền tác giả và quyền liên quan” của Nhà xuất bản Thế giới Cục
bản quyền tác giả năm 2010 định nghĩa thì: “Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm người hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hóa và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm có truyện, thơ, câu đố, điệu hát, làn điệu âm nhạc, điệu múa, vở diễn nghi lễ và các trò chơi; sản phầm nghệ thuật đồ họa, hội họa, điêu khắc được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào”
Theo khái niệm này thì tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là sáng tạo trí tuệ của một cá nhân nào đó hay một tập thể cá nhân – những người mà đời sống hàng ngày của họ gắn liền với những giá trị văn hóa, tinh thần của cộng đồng Qua những sáng tác của mình, họ muốn gửi gắm những khát vọng của cộng đồng về lao động, sản xuất, con cái…
Có cách hiểu khác về tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đó là sự bao hàm các sản phẩm chứa đựng các yếu tố đặc thù của di sản nghệ thuật, được duy trì và phát triển bởi một cộng đồng trong nước, hoặc bởi các cá nhân phản ánh các tác phẩm văn học – nghệ thuật truyền thống của một cộng đồng.[1]
Khoản 1 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cũng đề cập đến khái niệm tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian như sau:
“1 Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hóa và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm:
a) Truyện, thơ, câu đố;
b) Điệu hạt, làn điệu âm nhạc;
c) Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi;
d) Sản phẩm nghệ thuật đồ họa, hội họa, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào.”
Khái niệm này tương tự như khái niệm mà UNESCO sử dụng trong các hoạt động liên quan tới văn học, nghệ thuật dân gian của mình Qua đó có thể hiểu văn học, nghệ thuật dân gian là những giá trị văn học, nghệ thuật được cộng đồng – có thể là cộng đồng sắc tộc hoặc cộng đồng dân cư sinh sống tại một địa phương – sáng tạo ra; nó tồn tại qua năm tháng và phản ánh những nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng hoặc địa phương mà khi thưởng thức nó, người được thưởng thức có thể nhận biết được ngồn gốc xuất xứ của những giá trị văn hóa, nghệ thuật đó
Như vậy, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là kết quả của hoạt động sáng tạo của con
người, sự sáng tạo của người dân sinh sống tại các khu vực địa lý cụ thể, cùng chia sẻ ngôn ngữ, văn hóa, cơ chế sinh nhai và các điều kiện tự nhiên, trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hóa và xã hội của họ Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là kết quả của những ý tưởng sáng tạo của tập thể người dân được thể hiện thông qua lời nói, mỹ thuật hoặc các hình thức vật chất khác và được lưu truyền dưới hình thức miệng hoặc văn bản hoặc thông qua một số hình thức khác và được truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
[1] TS Vũ Mạnh Chu Bảo hộ Di sản Văn học Nghệ thuật dân gian ở Việt Nam Báo cáo dẫn đề hội thảo “Quyền tác
giả trong lĩnh vực văn học nghệ thuật dân gian”
Trang 1313
Là sản phẩm của cộng đồng, phản ánh giá trị nghệ thuật đặc trưng của một cộng đồng hoặc vùng miền Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có những đặc điểm khác với các tác phẩm văn học nghệ thuật thông thường ở chỗ:
Thứ nhất, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian ra đời là do sự sáng tạo của cộng đồng, có
thể là cộng đồng theo sắc tộc hoặc cộng đồng dân cư sinh sống ở một địa phương Sự sáng tạo này
có thể bắt nguồn từ một hoặc vài cá nhân nào đó không xác định được hoặc không cần xác định vì mục đích bảo hộ quyền tác giả Song qua năm tháng thì tác phẩm đó được lưu truyền, nuôi dưỡng và thay đổi bởi những thành viên trong cộng đồng; qua đó trở thành đặc trưng văn hóa của cộng đồng hay địa phương đó Chính do được cả cộng đồng nuôi dưỡng và bồi bổ, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có thể từ chỗ là sáng tạo của một hay vài cá nhân, đã trở thành giá trị của cả cộng đồng
Thứ hai, vì là sản phẩm sáng tạo của cả cộng đồng, thời gian ra đời và tồn tại của một tác
phẩm văn học nghệ thuật dân gian thường là không xác định được Tuy nhiên, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian hoàn toàn không đứng im mà nó luôn được thay đổi hay làm mới theo sự thay đổi về giá trị văn học, nghệ thuật của cộng đồng sáng tạo ra nó Sự thay đổi có thể chậm chạp và phải qua nhiều thế hệ mới bộc lộ rõ sự thay đổi rõ ràng, song sự thay đổi đó là tất yếu bởi lẽ tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là sản phẩm của cộng đồng mà mỗi thế hệ của cộng đồng đó tất yếu có những nét khác nhau trong các giá trị văn học, nghệ thuật đặc trưng của mình Sự thay đổi này càng củng cố mỗi quan hệ cộng đồng – người sáng tạo với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian – sản phẩm của cộng đồng Nói cách khác, sự sáng tạo trong một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là không ngừng nghỉ theo sức sáng tạo của cộng đồng
Thứ ba, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là một bộ phận không thể tách rời với lợi ích
con người Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian được sinh ra trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp cũ, độc canh lúa, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường sinh thái thiên nhiên Tác giả của nó là những người nông dân sống trong những công xã xóm làng, cho nên khuôn viên chủ yếu của các hoạt động văn học nghệ thuật dân gian là các làng (ở người Việt) và các đơn vị xã hội tương đương như bản, buôn, chum… (ở các dân tộc thiểu số)
Thứ tư, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian gắn chặt với các hoạt động thường ngày trong
lao động, sản xuất và sinh hoạt của người nông dân Mỗi biểu hiện của văn học nghệ thuật dân gian thường được sáng tạo để phục vụ một hoạt động hàng ngày nào đó Chẳng hạn, để hát ru trẻ ngủ, người ta sáng tạo bài hát ru và người ta cũng chỉ hát bài hát đó khi cần ru trẻ ngủ Không bao giờ người nông dân hát bài ru khi họ đang lao động trên đồng lúa Có thể thấy đặc điểm này chỉ có ở Việt Nam và một số quốc gia nông nghiệp
Thứ năm, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có một đặc thù là tính dị bản Tác phẩm
văn học nghệ thuật dân gian là công trình sáng tạo bằng miệng của cả một tập thể cộng đồng, được lưu giữ, diễn xướng qua hình thức truyền miệng Và vì là truyền miệng nên mỗi cá nhân đều có quyền cải biên
Chẳng hạn như hai câu ca dao sau: “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh nước biếc
như tranh họa đồ”
Với câu: “Đường vô xứ Huế quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
Do đó, việc xác định thế nào là “cải biên”, thế nào là “giữ nguyên gốc”, thế nào là “sao chép”, thế nào là sáng tạo, thế nào là xâm phạm bóp méo, thế nào là “làm giàu vốn cổ” rất khó khăn, chính vì vậy để bảo hộ là rất khó
Thứ sáu, đặc điểm nổi trội là tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian được lưu giữ bằng trí
nhớ của con người Đây là cơ chế sáng tạo, truyền bá và tiếp nhận của tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian
Thứ bảy, với việc phản ánh giá trị văn hóa của một cộng đồng, tác phẩm văn học nghệ thuật
dân gian có vai trò quan trọng trong việc xác định nhận dạng văn hóa giữa cộng đồng này với cộng đồng khác trong cùng quốc gia Song, quan trọng hơn là các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian nói riêng hay rộng hơn là văn học, nghệ thuật dân gian đóng vai trò quan trọng trong việc xác định
Trang 14sự tồn tại của những tác phẩm này sau khi nó đã được nhà nghiên cứu sưu tầm và phát hiện thông qua tiếp xúc với những nghệ nhân hoặc người cao tuổi còn giữ gìn được những tác phẩm đó
Những đặc trưng trên là của riêng tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian mà các tác phẩm văn học nghệ thuật khác đang được pháp luật hiện hành của Việt Nam bảo hộ quyền tác giả không
có Những đặc trưng này làm cho khung pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền tác giả khi áp dụng cho tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian bộc lộ nhiều bất cập cả về lí luận và thực tiễn
1.1.3 Phân loại tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Khoản 1 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 phân loại tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm:
i) Truyện, thơ, câu đố
Cả ba loại hình tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian nói trên đều có chung đặc điểm là được biểu hiện theo lời nói Là những tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian được sáng tạo, mô phỏng bằng ngôn ngữ nói Được thể hiện theo hình thức truyền miệng
- Truyện dân gian: Loại hình tác phẩm này bao gồm các thể loại như: truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười… Đây là những tác phẩm tự sự dân gian thường có kết cấu chặt chẽ, có thể
là những câu truyện cười nhẹ nhàng, hóm hỉnh; có thể là những câu truyện cố tích giàu ý nghĩa… Qua những sáng tác dân gian này tác giả của nó muốn gửi gắm những giá trị văn hóa, nhân văn, những kinh nghiệm sống gắn liền với đời sống của mỗi người dân
- Thơ ca dân gian: Thơ là hình thức nghệ thuật dùng từ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức logic nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, thơ ca dân gian góp phần không nhỏ trong kho tàng văn học dân gian ấy Thơ
ca dân gian hay nói cách khác đó chính là những câu ca dao, tục ngữ, truyện thơ hay vè… Có những
ý kiến nhìn nhận rằng thơ ca dân gian là tiếng nói trái tim của người lao động Nó thể hiện sâu sắc những tình cảm tốt đẹp của nhân dân ta
Khi nhắc đến chữ hiếu, chữ đạo của con người trong đối xử, công lao các bậc sinh thành
người ta không thể không nhớ đến câu:“Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
- Câu đố dân gian: Trong kho tang văn học dân gian Việt Nam, câu đố có số lượng khá phong phú Về mặt hình thức và nội dung, câu đố thể hiện những đặc trưng riêng biệt của một thể loại văn học dân gian Trong đời sống tinh thần phong phú của nhân dân, câu đó cũng chiếm một
vị trí đang kể Câu đố là thể loại văn học dân gian phản ánh sự vật, hiện tượng theo lối nói chệch Khi sáng tạo câu đố, người ta tìm đặc trưng và chức năng của từng vật cá biệt và sau đó phản ánh thông qua sự so sánh, hình tượng hóa
Chẳng hạn như khi nói đến quả nhãn, người ta có câu đố: “Da cóc mà bọc bột lọc, bột lọc
mà bọc hòn than” Câu đố được xây dựng nhằm mục đích mô tả, bằng hình tượng hoặc từ ngữ,
những dấu hiệu đặc trưng và chức năng của những vật đồ cá biệt, cụ thể Câu đố là một phương tiện
để nhận thức và kiểm tra nhận thức về các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan
ii) Điệu hát, làn điệu âm nhạc
Đây là những loại hình tác phẩm nghệ thuật dân gian được biểu hiện theo âm nhạc So với các nước trên thế giới, âm nhạc dân gian Việt Nam cũng rất phong phú, đa dạng và có nhiều đặc điểm riêng Âm nhạc dân gian Việt Nam dàn trải theo chiều dài của đất nước
Trong không gian văn hóa các dân tộc miền núi phía Bắc luôn vang lên những câu hát “Sli”,
“Lượn”, “Then” của người Tày – Nùng, tiếng hát “Khắp” của các chàng trai, cô gái Thái, hát “Rang” của người Mường, tiếng sáo dìu gọi bạn của trai bản H’mông…
Trang 1515
Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ cũng là cái nôi hình thành nên dân tộc Việt, âm nhạc dân gian nơi đây mang những đặc điểm vùng miền đậm nét, tiêu biểu với các thể loại: hát Quan họ, hát Ghẹo, hát Xoan, hát Trống quân, hát Chầu văn, hát Chèo, hát Đúm, hát Ví, hát Đò đưa…
Vùng văn hóa Trung bộ lại nổi tiếng với những điệu hát Ví, hát Dặm, hát hò của Nghệ An – Hà Tĩnh, những điệu Lý, điều Hò của xứ Huế, hát Bài Chòi của Quảng Bình – Quảng Trị - Thừa Thiên…
Vùng văn hóa Tây Nguyên với âm nhạc cồng chiêng, âm nhạc tre nứa mang những đặc trưng có từ thời văn hóa Đông Sơn, những làn điệu dân ca của các dân tộc ở Tây Nguyên mang nhiều màu sắc tinh tế của nghệ thuật âm nhạc Đông Nam Á…
Vùng văn hóa Nam Bộ với những làn điệu hò sông nước mênh mang, điệu lý đằm thắm trữ tình, những câu ca Vọng cổ da diết, sâu sắc, những làn điệu dân ca Khơ – me, dân ca Chăm mang đậm bản sắc dân tộc
iii) Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi
Đây là những loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được biểu hiện bằng hành động
- Điệu múa dân gian là hình thái múa phổ biến của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Múa dân gian là do dân chúng sáng tạo được lưu truyền từ đời này qua đời khác Múa dân gian được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng nó tiêu biểu cho bản sắc văn hóa của từng cộng đồng và là cơ sở để phát triển các hình thái mẫu khác Ta có thể kể đến những làn điệu múa dân gian nổi tiếng như múa trống, mùa rồng, múa sư tử, múa khiên Hay loại hình múa rối nước, loại hình múa chỉ có duy nhất tại Việt Nam
- Vở diễn là một trong các loại hình văn học, nghệ thuật dân gian Việt Nam Các vở diễn hay còn gọi là các vở chèo dân gian, vở kịch dân gian, vở tuồng dân gian… được lưu truyền từ đời này qua đời khác tại các cộng đồng làng quê Các vở kịch, vở chèo thường được diễn trong các dịp
lễ hội hàng năm tại các cộng đồng làng quê Việt Nam
- Nghi lễ là một trong nhiều nghi thức xuất hiện trong lễ hội tại các cộng đồng làng, xã Việt Nam Lễ hội là một sự kiện thực hiện rất nhiều nghi thức mang tính bắt buộc Các nghi thức này được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ, nghiêm ngặt từ khi chuẩn bị lễ hội cho đến khi hết hội Thông thường một lễ hội có các nghi lễ như lễ mộc dục, lễ tế gia quan, lễ rước, lễ tế khai hội và tế giã đám Các nghi lễ như một nét đẹp tâm linh, tín ngưỡng văn hóa của người dân Việt Nam ta từ bao đời này
- Các trò chơi dân gian: Đây được coi là nét văn hóa giàu bản sắc dân tộc Những trò chơi này thường bắt nguồn từ những bài đồng dao, một thể loại văn vần độc đáo của dân tộc Đây là những bài ca có nhịp điệu đơn giản gieo vần một cách thoải mái, có thể ngắn dài bất kỳ hoặc lặp đi lặp lại không dứt Ta có thể kể đến rất nhiều các trò chơi dân gian như ném còn, đá cầu, ô ăn quan,… Các trò chơi dân gian thường được chơi không chỉ trong các dịp lễ hội mà ta có thể bắt gặp ngay trong đời sống hàng ngày
iv) Sản phẩm nghệ thuật đồ họa, hội họa, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào
- Chạm khắc: Nói tới nghệ thuật tạo hình dân gian người ta thường nghĩ ngay đến chạm khắc, trang trí trên sập gụ, tủ chè hình chum nho, con sóc, bộ ghế chạm con rối, chữ Phúc – Lộc – Thọ… Bên cạnh đó nghệ thuật chạm khắc dân gian đồ sộ ở người Việt còn được lưu giữ trên các ngôi đình, chùa, đền nằm rải rác ở mỗi làng quê vây quanh bởi lũy tre làng mà cho đến ngày nay chúng vấn là những gì tinh túy nhất góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam
- Tranh dân gian Việt Nam là một loại hình mỹ thuật cổ truyền của dân gian Việt Nam Tranh dân gian Việt Nam có lịch sử rất lâu đời, đã từng có thời gian phát triển rất mạnh mẽ, ngày nay nó có phần giảm sút nhưng vẫn còn được giữ gìn bảo tồn trong một số làng nghề và một số gia đình làm tranh Trong số các tranh dân gian Việt Nam có thể kể đến dòng tranh Đông Hồ đã và đang được bảo tồn, phát triển và hiện đang có mặt ở nhiều nước trên thế giới
Trang 1616
Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 100/2006/NĐ – CP thì các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian i, ii và iii như đã nêu ở trên bảo hộ không phụ thuộc vào việc định hình Còn loại thứ tư vì là tác phẩm vật thể nên nhất thiết phải được thể hiện bằng một chất liệu tồn tại hữu hình
1.2 Một số loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
1.2.1 Đặc trưng văn hóa biển trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Theo quan niệm truyền thống, Việt Nam được phân thành “Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền” Nghĩa là có ba phần núi, bốn phần biển và một phần ruộng Xét về cả diện tích và nguồn tài nguyên thì biển giữa vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đối với Việt Nam, cư dân và truyền thống lịch sử
là những nhân tố quan trọng nhất tạo nên diện mạo văn hóa biển Đất nước Việt Nam là một quốc gia nằm ở cực đông nam bán đảo Đông Dương, đường bờ biển dài 3260 km Văn hóa biển đã đi sâu vào trong tiềm thức mỗi người dân Việt Nam Các phong tục, tập quán, nét văn hóa, các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian miền biền đã trở thành nét đẹp văn hóa của từng vùng miền quê gắn liền với biển
Về tín ngưỡng, tôn giáo: Đối với ngư dân, tín ngưỡng tôn giáo chiếm vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần Có lẽ bởi điều kiện sống và lao động của họ trong môi trường biển cả vừa giàu có, ưu ái con người, vừa thách thức, đe dọa tới tính mạng của họ Do vậy, họ luôn có niềm tin vào lực lượng siêu nhiên trước biển cả bao la, hùng vĩ
Người dân biển cũng giống như người Việt khác có tín ngưỡng dân gian như thờ cũng ông
bà, tổ tiên Họ lập bàn thờ, nơi trang trọng nhất trong nhà và tiến hành cúng lễ vào dịp giỗ và các ngày lễ trong năm Ngoài ra, họ còn thờ Thần thánh và Thành hoàng làng, thờ Thủy thân… Như ở Đền Nghè – Đồ Sơn thờ Thần biển là Thần Điểm Tước, đồng thời cũng là vị Thành hoàng làng chung của cư dân cả vùng biển Đồ Sơn Và Đồ Sơn còn nhiều địa điểm thờ cúng khác như Đình Ngọc, đền Vừng, đền Dáu…
Về tri thức, phong tục tập quán có liên quan đến nghề biển: Cư dân ven biển đã sống và lao động cần cù trên mảnh đất biển Họ đã khai thác mọi thế mạnh của vùng đất quê mình để xây dựng cuộc sống từ trong những công việc bình thường, giản dị như nghề nông, nghề đánh bắt cá hoặc chăn nuôi hải sản Mỗi khi ra khơi, ngư dân thường có sự chuẩn bị rất chu đáo như xem thời tết, cầu khấn thần vương hà bá…
Những tri thức dân gian của ngư dân về thời tiết, về biển rất phong phú và sinh động Được đúc kết qua những câu ca dao, tục ngữ
1.2.2 Một số tác phẩm văn học dân gian miền biển
Các tác phẩm văn học, truyện truyền thuyết, thơ ca dân gian mang văn hóa miền biển có rất nhiều
Đầu tiền, có thể kể đến những câu truyện truyền thuyết mang nét văn hóa miền biển Trong
các lễ hội miền biển có rất nhiều các câu truyện cổ tích có thể kể đến Chẳng hạn lễ hội chọi trâu
Đồ Sơn, Hải Phòng Truyền thuyết liên quan đến nguồn gốc lễ hội chọi trâu có rất nhiều các dị bản khác nhau được kể
Theo lời kể của các lão làng, từ xa xưa, cư dân làm nghề mò cua, bắt cá ở Đồ Sơn thường
bị cá kình ăn thịt Trước sự hung tợn, quấy nhiễu của quái vật, con người lập đàn cầu thần linh phù
hộ vào thượng tuần tháng sáu âm lịch và hứa sẽ mổ trâu, mổ lợn lễ tạ Quả nhiên, sau hai tháng vào một đêm mưa to, gió lớn, sáng ra thấy xác cá kình chết Trên hầu có vết chim cắn, một loại chim thần giáng thế độ dân Mọi người mới hay là thần đã diệt cá dữ trừ họa cho dân Nơi cá dữ chết gọi
là dốc Ma Cá Và để dữ lời hứa với thần linh, hàng năm người dân làng đi mua trâu về lễ thần ở Đền Nghè Khi đưa trâu đến Đền Nghè, chúng đứt dây chọi nhau quyết liệt Dân làng cho rằng thần linh thích xem trâu chọi Bởi vậy hàng năm dân làng tổ chức lễ hội chọi trâu vào ngày đó và trở thành ngày hội truyền thống của người dân Đồ Sơn, Hải Phòng
Một dị bản khác của câu chuyện được kể rằng “Đêm đó trăng thanh, nhưng sóng to gió lớn, mưa dăng Ông chủ Tế mơ thây hai trâu chọi nhau rất hăng, rất lâu ở xó Sóng Dân tình ra xem rất
Trang 1717
đông thì đôi trâu biến mất Ông chủ Tế bèn kể lại giấc mơ đêm qua cho dân làng nghe, mọi người đều cho rằng thần linh thiêng báo mộng Năm đó, cá được mùa, dân làng cho đó là điềm lành Vì vậy, với mong muốn làm ăn thịnh vượng, đi biển không gặp sóng gió, xuôi chèo, mát mái lúc vào lộng ra khơi, nên người dân Đồ Sơn bàn nhau mở hội chọi trâu vào mùng chín tháng tám âm lịch
Nhưng lại có một truyền thuyết khác cho rằng, nước ta nằm trong khu vực có nhiều thiên tai, mỗi năm có nhiều cơn bão lớn nhỏ Nghề đi biển thường hay gặp sóng to, gió lớn, thiên tai có thể đến bất thường Do vậy, người dân chai ở đây thường cầu mong các vị thần biển phù họ cho họ khi đi biển tránh được sóng to, gió bão, đánh được nhiều cá tôm trở về Có một lễ vật quý nhất để cúng tế thần biển Với quan niệm “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, vì vậy những con trâu được chăm sóc, lựa chọn cẩn thận mang ra thi đấu, con nào thắng được đem ra cúng tế thần linh
Có thể thấy truyền thuyết về nguồn gốc lễ hội chọi trâu, Đồ Sơn đã có rất nhiều các dị bản khác nhau chỉ ở một vùng Đây chính là đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đó là tính dị bản
Thứ hai, các câu ca dao, tục ngữ, thơ ca dân gian mang những nét đặc trưng miền biển
Chẳng hạn như: “Bao giờ Hòn Đỏ mang tơi/ Hòn Hèo đội mũ thì trời sắp mưa.”
Hòn Đỏ là tên một hòn đảo nằm ở phía Đông Bắc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, cách đất liền khoảng 500m Đảo này cùng với Hòn Chồng được xem là biểu tượng du lịch của Nha Trang Đây là câu ca dao dự báo thời tiết ở tỉnh Khánh Hòa
Hay câu tục ngữ nhìn nhận về sự bất trắc, khó lường của biển: “Đi bộ thì khiếp Hải Vân/ Đi
thuyền thì khiếp sống thần hang Dơi”
Hay lại nói đến lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, không chỉ có những truyện truyền thuyết như đã
kể ở trên, còn có những bài thơ dân gian Từ xưa đến nay, cư dân vùng đồng bằng châu thổ sống Hồng và vùng ven biển Bắc bộ đều thuộc lòng câu ca như nhắc nhở mọi người nhớ về ngày hội
quê mình: “Dù ai buôn đâu, bán đâu/ Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về/ Dù ai buôn bán trăm
nghề/ Mùng chín tháng tám thì về chọi trâu
Hoặc có một di bản khác: “Dù ai buôn dâu, bán đâu/ Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về/
Dù ai bận rộn trăm bề/ Mùng chín tháng tám thì về chọi trâu
Có thể thấy các tác phẩm văn học dân gian miền biển dân đa dạng, phán ảnh đúng đời sống tinh thân của cư dân miền biển
1.2.3 Dân ca miền biển
1.2.3.1 Hát Đúm (Thủy Nguyên – Hải Phòng)
Từ xa xưa, khu vực Đông Nam Á xuất hiện một hình thức sinh hoạt văn hóa phổ biến của
cư dân nông nghiệp là hát giao duyên giữa nam và nữ Họ thường hát trong ác ngày hội mùa, ngày
lễ tết đầu năm của dân tộc mình Hát Đúm cũng là một trong hình thức hát đối đáp giao duyên Theo nghĩa từ nguyên “Đúm” là một tập hợp không có số lượng nhất định
Hát Đúm là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo ở Hải Phòng Đây là lễ hội có truyền thống từ xa xưa và được duy trì đến tận hôm nay trong niềm đam mê không chỉ của các nghệ nhân có tuổi mà cả ở các cháu thanh, thiếu niên Người dân miền biển Thủy Nguyên cho rằng hát Đúm là khi một hoặc một nhóm con trai và con gái cất lên tiếng hát thì mọi người xúm lại để nghe
“ Dùng dằng giã bạn ngẩn ngơ
Để chiều ướt tím con đò sông quê Nghiêng nghiêng vành nón trăng thề Giếng làng em múc chiều về nắng buông ”
Trang 1818
1.2.3.2 Ca trù (Thủy Nguyên – Hải Phòng)
Thủy Nguyên – Hải Phòng không chỉ là quê hương của những câu hát Đúm trữ tình, đằm thắm mà nơi đây còn lưu giữ một hình thức sinh hoạt dân gian vô cùng đặc sắc của Việt Nam, đó
là ca trù Ca trù phát triển mạnh nhất ở làng Đông Môn thuộc huyện Thủy Nguyên Triều Gia Long (1804 và 1810) gia phong và bao tặng, đủ nói lên Phủ Từ thờ Tổ Ca công đã có trên 200 năm Điều này cũng thể hiện Đền thờ không chỉ dành riêng cho những giáo phường huyện Thủy Nguyên, phủ Kinh Môn hay riêng của làng Đông Môn, mà là Đền thờ Tổ nghề của cả khu vực Duyên Hải
Trải qua gần một nghìn năm ra đời và phát triển, ca trù đã trở thành môn nghệ thuật độc đáo
Nó là nơi kí thác tâm hồn của nhiều người, là nơi chứa đựng những tình cảm thiết tha, sâu lắng của trái tim người nghe và người nghệ sĩ Ca trù phát triển rộng khắp mọi nơi, bởi ca trù là hát thơ Nói đến nghệ thuật ca trù là phải nói đến những câu thơ sâu lắng, ý tình, mang hồn thơ dân tộc
Chắc hẳn ai cũng quen thuộc bài ca trù “Đào hồng, đào tuyết” của Dương Khuê:
“Hồng hồng, tuyết tuyết Mới ngày nào chưa biết cái chi chi Mười lăm năm thấm thoát có xa gì Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu ”
1.2.3.3 Hò chèo cạn ở làng biển Cảnh Dương – Quảng Bình
Hò chèo cạn ở làng biển Cảnh Dương cũng gồm một số làn điệu ghép lại như hò chèo cạn
ở các xã vùng biển huyện Bố Trạch hay xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới Nhưng hò chèo cạn Cảnh Dương có thể ghép một số làn điệu trong tất cả các làn điệu, chứ không nhất thiết phải hát hết tất cả các làn điệu của hò chèo cạn trong một lần trình diễn Các làn điệu đó là: Nói lối, hò hí gia,
hò vượt sóng, hò khoan, hò kéo lưới, hò hụi, hò đưa linh
Hò khoan: Lời ca câu hò khoan ở Cảnh Dương thường sử dụng câu lục bát hay lục bát biến thể Mỗi câu hò thường được ngắt làm ba cụm tiếng, mỗi cụm tiếng này thường là câu lục và hai nửa câu của câu bát, được người hò cái lĩnh xướng, rồi các bạn hò con xô: "là hò hò khoan" (sau câu lục và sau 4 tiếng sau của câu bát) và "Là bớ khoan, bớ khoan, bớ khoan" (sau 4 tiếng đầu của câu bát)
Hò hụi: Đây là khúc hò rộn ràng nhất của nhóm chèo cạn, câu hò hụi không có lời ca cho câu hò, mà chỉ dùng âm thanh tiết tấu đồn dập, mạnh mẽ, chắc khoẻ, láy lại ba bốn lần, làm cho không khí thêm sôi động, thúc giục, tập trung sức người
Vì thế, âm điệu hò có tác dụng cổ vũ, động viên người lao động trên sông nước muốn chiến thắng thiên nhiên thì phải hiệp lực, mọi việc sẽ thành công Lĩnh xướng: "hô hô hò hụi" và xô con
"là hò là hụi" Âm thanh nhịp điệu hò hụi chắc khỏe, dồn dập Sau nhiều lần hò hụi thấm mệt, người lĩnh xướng hò "hết hụi sang hò khoan", xô con tiếp "là hò là khoan" Sau này, người dân đặt lời
ca thêm vào sau các câu hò cái và hò xô mà qua thời gian, hình thành điệu hò hụi, hò khoan nghe rất nhuần nhuyễn
Hò hí gia (hí la): Điệu hò hí gia (hò đưa) rất khoan thai nhẹ nhàng, giọng hò kéo dài, thanh thản, cảm giác như trời xanh, biển lặng không một gợn sóng, chỉ có điệu hò cao vút mênh mông giữa mây trời, câu hò lục bát hay lục bát biến thể cũng được cắt làm ba phần như câu hò khoan
Chèo cạn Cảnh Dương là một loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc của một làng quê vùng biển Chèo cạn vận dụng nhiều lối ca hát, kể chuyện dân gian và lối biểu diễn mang tính cách điệu cao của các trò diễn dân dã Động tác chèo thuyền, tát nước, buông neo, đã được nghệ thuật hoá và đưa lên sàn diễn một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn Nội dung các bài chèo cạn, dù có khi lời ca vụng về, chưa được gọt dũa, nhưng đã diễn tả được tâm tư, tình cảm của người dân đối với quê hương, đất nước, với công việc chài lưới, dựng làng, dựng xóm
Hình thức diễn xướng sinh động, nội dung đa dạng, phong phú, có sức cuốn hút đặc biệt đối với cả người diễn lẫn người xem, ngôn ngữ mộc mạc, lối hò dung dị nhưng vẫn thâm thuý, sâu sắc và đi vào lòng người, chèo cạn Cảnh Dương quả thật là hình thức diễn xướng dân gian độc đáo của vùng sông nước miền Trung
Trang 1919
1.3 Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
1.3.1 Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có nêu khái niệm quyền tác giả như sau:
“2 Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra và
sở hữu”
Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về quyền tác giả:
“Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản”
Tuy nhiên, đặc trưng của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là khó có thể xác định được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm, văn học, nghệ thuật dân gian Một số tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian vẫn xác định được tác giả sáng tạo ra chúng Tuy nhiên đại đa số các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đều không xác định được tác giả Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ra đời là do sự sáng tạo của cộng đồng, có thể là cộng đồng theo sắc tộc hoặc cộng đồng dân cư sinh sống ở một địa phương
Như vậy, ta có thể hiểu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian như sau:
Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là quyền của tổ chức, cá nhân hoặc cộng đồng đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản
1.3.2 Khái niệm bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Theo từ điển tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam, bảo hộ là che chở, không để bị tổn thất, chống lại mọi sự xâm phạm và giữ cho luôn được nguyên vẹn Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian một khi đã trở thành khách thể của quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả thì phải được bảo hộ theo luật quyền tác giả
Từ các khái niệm về tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian như đã phân tích ở trên Ta có thể đưa ra khái niệm bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian như sau:
Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là việc Nhà nước, sử dụng chính sách, pháp luật về quyền tác giả để chống lại mọi sự xâm hại đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
1.3.3 Mục đích, ý nghĩa bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
• Đối với thế giới:
Thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của sự toàn cầu hóa, sự phát triển như vũ bảo của công nghệ thông tin, đặc biệt là trong lĩnh vực ghi âm, nghe nhìn, phát sóng, truyền hình cáp, điện ảnh có thể dẫn đến việc khai thác bất hợp lý di sản văn hóa cũng như việc thương mại hóa trên quy
mô toàn cầu thông qua các phương tiện đó, thiếu sự tôn trọng cần thiết đối với các lợi ích văn hóa hay kinh tế của các cộng đồng nơi chúng được sinh ra Do đó, vấn đề bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ngày càng phải đòi hỏi cấp thiết hơn
Thứ nhất, sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian vì mục đích chung của công đồng,
không chỉ vì các mục đích vật chất, mà còn là sự ghi nhận về những giá trị về mặt tinh thần nhằm duy trì nét đẹp truyền thống, giữ gìn vốn cổ mà nó mang lại Trước tiên, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian chứa đựng nhiều giá trị to lớn đối với con người: giá trị giáo dục, giá trị nhận thức, giá trị thẩm mỹ và giá trị sinh hoạt
Vì vậy, bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là cần thiết nhằm duy trì những giá trị tốt đẹp đó Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là một kho kiến thức đồ sộ của các dân tộc trên thế giới, nhìn vào một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ta dễ dàng nhận thấy lối sinh hoạt, nét văn hóa của dân tộc đó, đồng thời nó còn có tác dụng giáo dục sâu sắc như lòng yêu nước, tình yêu thiên nhiên, lòng vị tha…
Trang 2020
Thứ hai, phát triển nền kinh tế thị trường làm cho người ta coi giá trị thị trường là giá trị
chân thực duy nhất dùng để đo các giá trị khác, dẫn đến nguy cơ “thương mại hóa”, làm bại hoại đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục, giá trị truyền thống bị nhận thức sai lệch Chẳng hạn ở Việt Nam, trong một thời gian dài loại hình sân khấu chèo, cải lương, ca trù… đã không được mọi người chú ý Thậm trí ca trù trong một thời gian còn bị cấm Thêm vào đó là làn sóng văn hóa Hàn Quốc thông qua con đường phim truyền hình đã thâm nhập sâu rộng, mạnh mẽ vào đời sống văn hóa Việt Nam, tác động không ít đến nhận thức, hành vi, lối sống, ứng xử, quan điểm thẩm mĩ của một bộ phận giới trẻ Việt Nam theo hướng “Hàn Quốc hóa” Vì vậy, vấn đề cấp thiết nhằm bảo đảm sự phát triển một cách lành mạnh tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, đó là phải bảo hộ chúng
Thứ ba, vấn đề bồi thường cho sự chiếm đoạt và xâm hại nền văn hóa của dân tộc Cùng
với việc du nhập của văn hóa nước ngoài và phát triển như vũ bão của nền kinh tế thị trường là cơ hội để các nước học hỏi kinh nghiệm và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu tiến bộ trong các lĩnh vực chuyển giao công nghệ và truyền bà tư tưởng, lối sống của các quốc gia với nhau trên quy mô ngày càng lớn Những thành quả mới mẻ, những khám phá, sáng tạo về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh, phong tục, lối sinh hoạt,… tác động đến các dân tộc, đến từng gia đình, từng người Bên cạnh những tác động tích cực thì sức mạnh của toàn cầu hóa đang là thách thức lớn, tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống xã hội Ở những nước chậm và đang phát triển thì sự thách thức và tác động tiêu cực lại càng lớn hơn, trong đó có cả tư tưởng, đạo đức, lối sống (văn hóa) nói chung và nền văn học dân gian nói riêng Một khi nền văn hóa của dân tộc bị xâm hại, mai một thì những gì được coi là tinh hoa văn hóa của nhân loại, là bản sắc dân tộc
sẽ không còn là đặc thù riêng của mỗi quốc gia nữa Bởi nét văn hóa đó tượng trưng cho tư tưởng, lối ứng xử, phong tục tập quán, con người… của họ Do đó, khi bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian chúng ta phải xác lập vấn đề bồi thường khi có hành vi xâm phạm nền văn hóa của dân tộc nói chung và tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng Qua đó thể hiện được sự quan tâm của chính quyền tới đời sống xã hội, đời sống văn hóa của người dân, góp phần ổn định trật tự xã hội
Thứ tư, đặt ra vấn đề vật chất khi thu phí sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian sẽ đề ra việc cấp phép sử dụng, số tiền thu được
từ việc cấp phép đó sẽ góp phần vào việc tu bổ, phát triển các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian sẽ tạo ra lợi ích cho cộng đồng lưu giữ chúng, khi có ai muốn khai tác một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thì đồng nghĩ với việc họ phải bỏ ra một khoản phí để sử dụng chúng, góp phần vào sự duy trì sự tồn tại của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
• Đối với Việt Nam
Thứ nhất, giống như các nước trên thế giới khi bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian Pháp luật Việt Nam có những quy định về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nhằm duy trì những giá trị truyền thống, nét tinh hoa văn hóa của dân tộc, đồng thời bảo tồn sự phát triển lâu dài, bền vững của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Hơn nữa, Việt Nam là một nước có
bè dày lịch sử, truyền thống, những nét văn hóa đều được đúc kết và thể hiện qua các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Mỗi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là cả một quá trình sáng tạo,
là một kho tri thức, một kho kinh nghiệm rất quý báu của ông cha để lại, vì thế chúng cần được gìn giữ và được bảo hộ
Bảo hộ, duy trì và phát huy những giá trị vốn có của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cũng giống như bảo về đạo đức của cả một xã hội, khích lệ lòng dân, duy trì những nét văn hóa truyền thống của các cộng đồng làng xã tồn tại từ lâu đời, đó là những vốn cổ, là tâm hồn của người Việt không được để mai một Trải qua hàng ngàn năm lịch sử ông cha ta đã cố công xây dựng và giữ gìn những áng văn chương bất hủ của dân tộc như ca trù, ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích… chúng đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi con người ở mỗi một vùng miền trên đất nước Việt Nam nói riêng và cả dân tộc ta nói chung Do đó, chúng ta không thể làm mất đi những nét đẹp văn hóa
Trang 2121
mà ông cha ta bao đời nay gây dựng và gìn giữ, mà chúng ta phải bảo vệ những gì được coi là tinh hoa văn hóa của nhân loại
Thứ hai, bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nhằm mục đích là duy trì và cân
bằng giữa việc chống lại việc lạm dụng, làm tổn hại tới sự phát triển của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đồng thời đảm bảo sự tự do sáng tạo, lấy nguồn cảm hứng từ tác phẩm đó Đó là việc đảm bảo sự cân bằng giữa một mặt là giữ gìn và một mặt là phát triển chúng
Điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định:
“Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của mình.”
Thứ ba, sự du nhập của văn hóa nước ngoài và sự phát triển kinh tế thị trường đang là vấn
đề đang lo ngại, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển lành mạnh và toàn vẹn của tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian Phát triển kinh tế là cơ sở để xây dựng và phát triển nền văn hóa Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội Phát triển kinh tế song song với việc phát triển nền văn hóa luôn luôn gắn liền với việc du nhập các giá trị văn hóa của các quốc gia khác Từ đó đặt ra một yêu cầu là phải tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa nước ngoài sao cho “hòa nhập” nhưng không “hòa tan”, giữ vững truyền thống, tránh làm nhận thức sai lệch, bại hoại các giá trị đã tồn tại
Thứ tư, một lợi ích quan trọng mà việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian mang
lại, đó là lợi ích kinh tế Vì vậy, chúng ta cần phải xem xét lợi ích này một cách kĩ lương và phải đề cao chúng Một đất nước đang phát triển như nước ta khi mà tiềm lực kinh tế chưa mạnh thì phải biết dựa vào những tiềm lực khác để phục vụ cho lợi ích kinh tế Khai thác tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian sẽ đem lại lợi ích này, điển hành là khai thác chúng cho mục đích phục vụ du lịch, những giá trị truyền thống là một lợi thế để thu hút sự quan tâm của du khách nước ngoài Ví dụ như thơ ca dân gian, câu chuyện cổ tích, thần thoại được sân khấu hóa… trong các lễ hội Fesstival Việc khai thác tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian sẽ đem lại một nguồn thu lớn, một nguồn động lực mạnh cho sự phát triển kinh tế chung của đất nước
1.3.4 Khái quát pháp luật Việt Nam và quốc tế về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
1.3.4.1 Pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
• Công ước Berne bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật năm 1967
Tháng 6 năm 1967, vào thời điểm Hội nghị Stockholm tiến hành chỉnh lý Công ước Berne,
có một sự chuyển biến quan trọng đầu tiên từ phía các nước đang phát triển trong nhận thức về hoàn cảnh đặc biệt của mình Kể từ năm 1967 một số lượng lớn các quốc gia đang phát triển đã áp dụng Luật Bản quyền để bảo vệ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian (điển hình là Châu Phi, nơi có hơn 30 quốc gia sử dụng Luật Bản quyền và tỏ ra có hiệu quả) Những nước đang phát triển thực hiện các nỗ lực đầu tiên để điều chỉnh việc sử dụng các sáng tạo văn hóa dân gian đã cố gắng để cung cấp sự bảo vệ trong khuôn khổ của pháp luật bản quyền của họ (Bolivia năm 1968 và năm 1992; Chile năm 1970; Colombia năm 1982; Congo năm 1982; Madagascar năm 1982; Rwanda năm 1983; Benin năm 1984; Burkina Faso năm 1984)
Trong quá trình chuẩn bị cho Hội nghị Stockholm, người ta đã đề xuất rằng các vấn đề quan tâm của các nước đang phát triển có thể được đưa vào một nghị định thư riêng Việc thiết lập một chế độ bảo hộ đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là vấn đề được cân nhắc nhiều Mặc
dù Nghị định thư được thông qua một cách miễn cưỡng trong phiên họp cuối cùng của Hội nghị Stockholm, nhưng nó cũng đã không có hiệu lực bởi không đảm bảo số lượng phê chuẩn Nghị định thư này trở thành một Phụ lục của Công ước Paris, được thông qua bởi Hội nghị sửa đổi Công ước Paris năm 1971
Theo quy định tại khoản 4 Điều 15 của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm dân gian: a) Đối với tác phẩm chưa công bố mà nhân thân của tác giả không xác định được nhưng mọi người đều cho là tác giả đó là công dân của quốc gia thuộc Liên hiệp, đây sẽ là một vấn đề dành
Trang 22cả các quốc gia khác thuộc Liên hiệp
Tuy nhiên, các quy định tại khoản 4 Điều 15 đã không có được một ý nghĩa thực tiễn nào vì không một quốc gia thành viên nào của tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới WIPO nộp cho Tổng giám đốc bất kỳ một tuyên bố nào về việc ấn định thẩm quyền quốc gia nào như đã quy định
• Quy định mẫu của WIPO/UNESCO cho luật quốc gia về bảo hộ tác phẩm dân gian
chống lại việc khai thác bất hợp pháp và các hành vi gây tổn hại khác
Tháng 4 năm 1973, Chính phủ Bolivia đã gửi một bản ghi nhớ tới Tổng Giám đốc UNESCO yêu cầu tổ chức này xem xét soạn thảo một văn bản pháp lý quốc tế về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian dưới hình thức một Nghị định thư kèm theo Công ước về quyền tác giả do UNESCO điều hành Năm 1975, Ban thư ký UNESCO đã tiến hành khảo sát các ý kiến mong muốn
có được sự bảo hộ đối với các hình thức văn hóa của người bản địa trên bình diện quốc tế Năm
1977, Tổng giám đốc UNESCO đã triệu tập một hội đồng các chuyên gia về bảo hộ pháp lý đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Trong báo cáo năm 1977, Hội đồng đã kết luận rằng vấn đề này đòi hỏi phải có sự khảo sát về xã hội học, tâm lý học, dân tộc học và lịch sử - chính trị trên “cơ
sở đa ngành trong khuôn khổ cách tiếp cận tổng thể và có tính lồng ghép” Theo nghị quyết được thông qua bởi Hội nghị toàn thể UNESCO tại Belgrade, vào tháng 9, tháng 10 năm 1980 và quyết định ban hành bởi Cơ quan lãnh đạo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tháng 11 năm 1981, một Hội đồng chuyên gia chính phủ về các khía cạnh sở hữu trí tuệ của việc bảo hộ tác phẩm dân gian đã được triệu tập Sau một loạt các cuộc họp, Hội đồng này đã xây dựng nên Quy định mẫu của WIPO/UNESCO cho luật quốc gia về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian chống lại việc khai thác bất hợp pháp và các hành vi gây tổn hại khác, được thông qua bởi hai tổ chức này vào năm 1985 Hội nghị toàn thể UNESCO trong phiên họp thứ 25 năm 1989 đã thông qua một Bản khuyến nghị về bảo hộ văn hóa truyền thống và tác phẩm dân gian, đã đề xuất các biện pháp cần triển khai ở cấp quốc gia nhằm xác định, gìn giữ, bảo hộ và truyền bá các tác phẩm văn hóa của người bản địa
• Luật mẫu Tunis năm 1976
Trong khi điều khoản của Công ước Berne vẫn dựa trên bảo hộ quyền tác giả thì Luật Mẫu làm
ở Tunis áp dụng cho các nước đang phát triển được thông qua bởi Ủy ban các chuyên gia của Chính phủ năm 1976 là lần đầu tiên có những điều khoản liên quan đến văn học, nghệ thuật dân gian
Tại ghi chú phần 6 có ghi nhận: “văn hóa dân gian tạo thành không chỉ là một tiềm năng để mở
rộng kinh tế, mà còn là một di sản văn hóa mật thiết gắn bó với nhân vật cá nhân của cộng đồng”
Theo luật này những người liên quan đến văn học, nghệ thuật dân gian có thể được thực thi
bởi một đại diện có thẩm quyền Việc bảo hộ này không có giới hạn về thời gian
1.3.4.2 Pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
• Giai đoạn trước khi ra đời Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
Trong giai đoạn trước khi ra đời Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tại “Đề cương văn hóa Việt
Nam” năm 1943 đã sớm đề cập tới ba nguyên tắc cơ bản là: “Dân tộc, đại chúng và khoa học” Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ban hành có quy định tại Điều 30: “Nhà
nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân…”
Đồng thời nghiêm cấm truyền bá tư tưởng, văn hóa đồi trụy, phản động làm phương hại đến lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam Trên cơ sở đó, tại Điều 8 Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả ngày 02/12/1994 được coi là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt
Trang 2323
Nam quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ dân gian Ngày 28/10/1995, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật Dân sự 1995 Đây là bộ luật quan trọng đầu tiên quy định về quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng
Bộ Luật hình sự năm 1999, Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật Xuất bản 2004 và các văn bản pháp luật khác cũng đã có quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Tại khoản 1 Điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2001 đề cập đến những sản phẩm truyền thống nói chung trong đó có văn học, nghệ thuật dân gian thuộc về di sản văn hóa phi vật thể là những sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, được lưu truyền bằng miệng từ thế hệ này đến thế hệ khác, lưu truyền bằng trí nhớ và hình thức lưu truyền khác… bao gồm tiếng nói, chữ việt, ngữ văn dân gian, lối diễn xướng,… Hơn nữa, Luật Xuất bản năm 2004 quy định về việc nhà nước đảm bảo quyền phổ biến tác phẩm và bảo hộ quyền tác giả trong hoạt động xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa,
tư tưởng nhằm giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội, giá tị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển và thay đổi đời sống kinh tế, khoa học xã hội đã bộc lộ một số hạn chế trong việc điều chỉnh các quan hệ liên quan đến quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian như:
- Quan hệ pháp luật về sở hữu trí tuệ là quan hệ vừa mang tính chất hành chính (ví dụ các thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền kiên quan; xử lý các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ,…) vừa mang tính chất dân sự (các quyền nhân thân và quyền tài sản của chủ thể) nên không thể điều chỉnh trọn vẹn các vấn đề mang tính hành chính trong Bộ luật Dân sự
- Bộ luật dân sự điều chỉnh quyền nhân thân và quyền tài sản hữu hình, trong khi đó quyền
sở hữu trí tuệ là quyền tài sản vô hình
- Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian mang giá trị văn hóa của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại, được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, là sự sáng tạo bằng trí tuệ con người Vì vậy, cần có cơ chế bảo hộ chúng nhằm giữ gìn và phát triển những nét đẹp đó là cần thiết
• Sau khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ban hành
Ngày 29/11/2005 Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội nước Cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua Việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ là cần thiết, đáp ứng như cầu ngày càng gia tăng của các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ trong và ngoài nước
Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ là một trong
12 loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, quy định rõ việc tổ chức, cá nhân khi công bố tác phẩm hoặc khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản thì phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 là văn bản pháp luật chuyên biệt đầu tiên có một điều khoản quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại Điều 23 Theo quy định của Luật thì tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và đảm bảo giữ gìn giá trị đích thức của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian (khoản 2 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005) và việc bảo hộ quyền tác giả
ở đây sẽ do Chính phủ quy định cụ thể (Điều 24 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005)
Để đáp ứng với nhu cầu phát triển trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày 19/6/2009 Quốc hội đã ban hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, trong nội dung sửa đổi lần này về cơ bản không đề cập gì đến tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Đồng thời, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ cũng được ban hành
Trang 2424
Bộ luật Dân sự năm 2005 ban hành ngày 14/6/2005 quy định những vấn đề chung nhất về quyền tác giả và quyền liên quan Tuy nhiên, sau 10 thực hiện có những bất cập, khó khăn trong quá trình thực hiện
Ngày 24/11/2015 Bộ Luật dân sự năm 2015 được ban hành với nhiều quy định mới Đặc biệt, Bộ luật dân sự năm 2015 không quy định những nội dung đã được cụ thể trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 như Bộ luật dân sự 2005 Dường như có thể thấy, pháp luật sở hữu trí tuệ ngày càng phát triển phức tạp và đồ sộ khiến các nhà làm luật phải dành cho nó “một không gian riêng
để đảm bảo sự tập trung và nhất quán các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ” Đảm bảo cho việc phát triển cũng như phù hợp với thực tiễn hiện nay liên quan đến quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng
CHƯƠNG 2: NHỮNG BẤT CẬP TRONG VIỆC BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT DÂN GIAN MIỀN BIỂN
2.1 Thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
2.1.1 Thành tựu đạt được
Thứ nhất, trong hoạt động bảo tồn, phát triển tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo lập được nền văn hóa phong phú, đa dạng, giàu bản sắc dân tộc Trong đó văn học, nghệ thuật dân gian là dòng chảy lớn bắt nguồn từ bản chất nhân dân và khát vọng của các cộng đồng cư dân khác nhau cùng chung sống trên lãnh thổ quốc gia Vì vậy, bản thân nó có sức trường tồn, góp phần làm nên sức mạnh của dân tộc trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Trong “Đề cương văn hóa Việt Nam” năm 1943 đã sớm đề cập đến 3 nguyên tắc cơ bản là:
“dân tộc, đại chúng và khoa học” Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận giá trị đã được khẳng
định từ các bản Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 1980 Điều 5 Hiến pháp 2013: “Các dân tộc
có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của mình” và Điều 60 Hiến pháp 2013: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” Đây là những chính sách lớn của nhà nước đối với văn hóa, nghệ thuật nói chung và
văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng
Nước ta hiện nay đã ban hành nhiều chương trình quốc gia về bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa phi vật thể, nhiều dự án điều tra, bảo quản, sưu tầm, biên dịch, xuất bản kho tàng văn học, nghệ thuật dân gian hứa hẹn nhiều thành quả tốt đẹp
Từ những quy định cơ bản của đạo luật Hiến pháp, các thiết chế văn hóa đã từng bước được hình thành nhà sưu tầm, khôi phục để bảo tồn và phát huy các giá trị văn học, nghệ thuật dân gian của các cộng đồng dân tộc Đó là việc ra đời các viện và các khoa nghiên cứu giảng dạy về văn học, nghệ thuật dân gian Hội Văn nghệ dân gian là tổ chức xã hội nghề nghiệp cũng được ra đời với 73 chi hội hoạt động ở trung ương và các địa phương Đội ngũ các chuyên gia về văn học, nghệ thuật dân gian được hình thành đông đảo ở hầu hết các lĩnh vực từ âm nhạc, mỹ thuật, kiến trúc, điêu khắc, điệu múa, lễ hội,…
Các hoạt động thống kê, nghiên cứu, sưu tầm, công bố các hình thức văn học, nghệ thuật dân gian đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm có chất lượng về sử thi, lễ hội và các bộ môn nghệ thuật đã được công bố Các bộ sách lớn về văn học, nghệ thuật dân gian của người Việt, dân tộc ít người, công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa, tôn giáo đã được xuất bản và ghi trên băng đĩa lưu hành rộng rãi
Nhà nước đã ban hành chương trình quốc gia về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể và dự án điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch, xuất bản kho tang sử thi Tây Nguyên hứa hẹn nhiều thành quả tốt đẹp Các ngành văn hóa, du lịch, tiểu thủ công đã có nhiều kế hoạch cụ thể
Trang 2525
cho mục tiêu bảo tồn và phát triển văn học, nghệ thuật dân gian Hội văn nghệ dân gian đã đề ra kế hoạch “Tầm nhìn 2010” nhằm thống kê vốn liếng cha ông để lại xây dựng chương trình phát huy giá trị Phong trào đã thu hút sự quan tâm bước đầu của cộng đồng trong việc sưu tầm, ghi chép, phục dựng các giá trị văn học, nghệ thuật dân gian Hội đã có sáng kiến trao tặng danh hiệu “Nghệ nhân bàn tay vàng”, danh hiệu “Nghệ nhân dân gian” và “Nghệ nhân ưu tú” để ghi nhận công lao của những người có nhiều cống hiện cho việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn học, nghệ thuật dân gian
Năm 2009 chính phủ đề cử ca trù là bộ môn Di sản thế giới UNESCO Ca trù từ đó được công nhận để nghiên cứu và bảo tồn Nghệ thuật ca trù được khai thác trong nhiều bộ phim cũng như trong các chủ đề âm nhạc Việt Nam
Thứ hai, trong hoạt động quản lý tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đã từng bước được
hoàn thiện Nhà nước đã quan tâm nhiều hơn đến các cộng đồng để quản lý các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Vốn di sản văn học, nghệ thuật dân gian miền biển rất phong phú và đa dạng
Nó được Nhà nước tuyên bố bảo vệ, khuyến khích việc giữ gìn, phát huy Những điệu hò chèo cạn, các lễ hội miền biển đang được nhà nước quan tâm
Thứ ba, Nhà nước ta đã quan tâm nhiều hơn tới vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Vấn đề bản quyền không chỉ đặt ra với những tác phẩm văn học thông thường mà còn đặt ra với cả những tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Các văn bản quy phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ cũng đề cấp tới quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Quy định về việc sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian một cách rõ ràng
2.1.2 Một số bất cập còn tồn tại
Đầu tiên, có thể kể đến việc cơ chế thị trường với mặt trái của nó và việc giao lưu, hội nhập
đã xuất hiện những động cơ vụ lợi dẫn đến sự băng hoại, biến dạng của các giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể Nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm, phục dựng tiến triển chậm trong khi các nghệ nhân là kho tư liệu lưu giữ các giá trị này tuổi tác đã quá cao, thời gian, vật chất không còn nhiều cho việc khai thác
Có thể nói đến điệu hò chèo cạn ở Làng biển Cảnh Dương không thể không nhớ đến nghệ nhân ưu tú Phạm Ngọc Thức, sinh năm 1935 là người nắm vững, diễn xướng các làn điệu dân ca hiện có ở Cảnh Dương hiện nay Ông vừa qua đời vào sáng ngày 20 tháng 02 năm 2017, đây là một mất mát lớn trong việc bảo tồn các tác phẩm hò chèo cạn hiện nay
Thứ hai, đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian việc sử dụng tác phẩm, trích
dẫn tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nhưng không nêu rõ nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm đã xảy ra khá nhiều trong thời gian qua
Năm 1998 xuất hiện một bài thờ “Anh hùng là anh hùng rơm” của ông Đặng Chiến quê ở
xã Vạn Phúc, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây đã trích dẫn nguyên câu ca dao về lễ hội chọi trâu Đồ Sơn nhưng không có trích dẫn Dường như vấn đề trích dẫn nguồn gốc xuất xứ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian không được để ý nhiều tới
“Anh hùng là anh hùng rơm
Về đây thử lửa mất cơn anh hùng Câu ca mách bảo ta rằng Anh hùng thiên hạ đâu bằng mày râu
Dù ai buôn bán trăm nghề Mùng chín tháng tám thì về chọi trâu
Dù ai buôn đâu bán đâu Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về
Ôi câu ca nặng tình quê
Ở nơi đâu cũng nhớ về quê hương Xin làm một cổ động viên Tinh hoa dân tộc giữ gìn muôn sau”
Trang 2626
Thứ ba, việc sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển, đặc biệt là các
bài dân ca, điều hò chèo miền sông nước, các bài ca trù đang được sử dụng mà không hề xin phép hay trả thù lao Không khó có thể tìm kiếm được một bài dân ca miền biển, bà ca trù khi lên các trang mạng internet tìm kiếm Các trang mạng đăng tải những bài dân ca lên mà không hề xin phép
hay trả tiền thu lao Mặt khác người sử dụng có thể tự do thoải mái tải những bài nhạc này về
Thứ tư, chưa có một cơ quan nào giám sát việc thực thi bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian Cũng chưa có ai đứng ra bảo vệ cho sự phát triển lành mạnh của các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Rất nhiều câu hỏi đang đặt ra mà chưa có câu trả lời: Có nên thu phí bản quyền cho việc sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian hay không? Nếu có thì nên phân chia như thế nào? Có phải thu thuế không? Có cấp phép sử dụng không? Ai là người cấp phép? Những chế định bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian tỏ ra thực sự không phù hợp khi mà có rất nhiều người họ cũng không biết là Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay có những quy định về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng và tri thức truyền thống nói chung Đơn giản bởi vì những quy định đó không có sự rõ ràng, cụ thể cũng không có một văn bản hướng dẫn thi hành nào về vấn đề bảo vệ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Sự thiếu kinh nghiệm về
hệ thống thủ tục hiện hành, sự phụ thuộc vào kinh tế, thiếu tiếng nói chung trong nhiều trường hợp
là thiếu chính sách của nhà nước liên quan tới việc khai thác tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian dẫn tới việc các cộng đồng dân tộc bị đặt vào thế bất lợi Mặt khác, việc thiếu vắng các quy tắc rõ ràng về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian tạo ra những rủi ro trong lợi ích kinh doanh tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Chiều ngày 20/02 vừa qua, ở xã Phục Lễ huyện Thủy Nguyên tổ chức hội thi hát Đúm, tham gia vòng chung kết có 5 câu lạc bộ hát Đúm của 5 xã: Phục Lễ, Phả Lễ, Tam Hưng, Ngũ Lão Tác giả cũng có cơ hội đi về xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên để tìm hiểu thêm về làn điệu hát Đúm truyền thống Khi hỏi người dân ở đây được biết các câu lạc bộ hát Đúm của từng xã đã hoạt động
từ nhiều năm nay Các câu lạc bộ luôn cố gắng giữ gìn và phát huy những nét truyền thống đặc sắc của làn điệu hát Đúm để truyền lại cho thế hệ sau nhưng tinh hoa của loại hình nghệ thuật này Khi hỏi về sự quan tâm từ chính quyền địa phương tới sự bảo tồn loại hình nghệ thuật dân gian này thì tác giả được cho biết chính quyền địa phương xã, huyện luôn quan tâm đến việc phát triển các câu lạc bộ để có thể bảo tồn những giá trị của làn điệu hát Đúm Cuộc thi hát Đúm này là do Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện Thủy Nguyên phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Phục Lễ Tổ chức Khi hỏi ông Phùng Văn Mạnh, giám đốc Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Thủy Nguyên cho biết:
“Hội thi là dịp giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của các nghệ nhân hát đúm, góp phần bồi đắp thêm tình yêu cùa người dân, nhất là giới trị với hát đúm – di sản văn hóa độc đáo của địa phương Đây cũng là dịp để tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về nét đẹp của văn hóa của địa phương tới đông đảo người dân và du khách thập phương.” Khi được hỏi về vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với các
làn điệu hát đúm theo Luật Sở hữu trí tuệ thì ông cho biết: “Các cơ quan bộ phận văn hóa thực hiện
các vấn đề có liên quan đến việc lưu giữ, bảo tồn và phát triển theo các quy định và chỉ thị của cấp trên Còn đối với việc pháp luật Sở hữu trí tuệ bảo hộ quyền tác giả của làn điệu hát đúm thì chưa được biết đến”
Có thể nói việc bảo hộ quyền tác giả của các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển nói riêng và các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói chung dường như không được chú trọng nhiều đến Các cơ quan chức năng và những nghệ nhân, cá nhân có tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian không được phổ biến nhiều vấn đề luật Sở hữu trí tuệ đối với bảo hộ quyền tác giả Trong thời kỳ xã hội ngày càng phát triển hiện nay, việc bảo hộ quyền tác giả để đảm bảo lợi ích và giữ gìn giá trị truyền thống là một việc rất quan trọng cần phải có giải pháp để hoàn thiện việc bảo
hộ quyền tác giả đối với những tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển như hiện nay
2.2 Những bất cập trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
2.2.1 Những đặc điểm của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển tạo nên bất cập trong việc bảo hộ quyền tác giả
Trang 2727
Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói chung và các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển nói riêng có đặc trưng riêng là tính truyền miệng và tính dị bản Khi những tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được cha mẹ truyền cho con cái, anh chị truyền cho các em, bạn bè truyền lại cho nhau hay nói cách khác là thế hệ đi trước truyền cho thế hệ sau, thì sự tiếp thu của những thế hệ sau khó lòng được trọn vẹn Hơn nữa, những người được truyền lại còn tự cho mình cái quyền thêm bớt, sửa đổi ít nhiều các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cho phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của mình, phù hợp với tâm tư, hoàn cảnh của mình Chẳng hạn như truyền thuyết về nguồn gốc lễ hội chọi trâu như đã nêu ở trên, có rất nhiều các dị bản khác nhau từ một vùng đất được kể lại Hay những câu ca trù, câu hát đúm, các điệu hò đi biển, mỗi người tiếp thu khác nhau,
tự thêm bớt, sửa đổi ít nhiều lời ca cũng như nhạc điệu của bài hát để phù hợp với thị hiểu thẩm mỹ của mình
Những dị bản của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói chung và tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển nói riêng rất đa dạng Nó không chỉ có sự khác nhau về câu từ Đối với các làn điệu dân ca miền biển còn khác nhau về thang âm, giai điệu âm nhạc, về tiết tấu, về bố cục, về những thủ pháp sáng tạo Những làn điệu ca trù không chỉ có riêng ở mảnh đất biển Thủy Nguyên, Hải Phòng mới có, mà ca trù có ở 15 tỉnh thành phố trên đất nước như Hà Nội, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Bắc Ninh, Tuy nhiên những vùng đất khác nhau lại có cách hát ca trù khác nhau Cách hát của mỗi nghệ nhân gắn liền với tài năng, thị hiếu riêng và vốn nghệ thuật riêng của nghệ nhân
ất Người này ưa hát luyến láy, đệm lót theo kiểu này, người khác lại thích hát hát câu, nhả chữ theo kiểu khác, phù hợp với ý muốn của mình, phù hợp với tiêu chuẩn thẩm mỹ mà mình tự đặt ra và nhằm đạt tới
Các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển được truyền đi truyền lại qua các thế
hệ, người này tiếp thu và truyền lại cho thế hệ sau, thế hệ sau lại truyền tiếp lại Mỗi lần như vậy lại
có những dị bản khác nhau từ những tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đó Đặc biệt, đối với những làn điệu dân ca miền biển, mỗi khi nghệ nhân hát nhiều lần một làn điệu dân ca, thì không
có những lần hát hoàn toàn giống nhau Những cách hát khác nhau qua những thời kỳ khác nhau của một nghệ nhân đối với một bài dân ca miền biển nhất định, phụ thuộc từ những tình cảm và hứng thú đột biến, từ sức khỏe thay đổi từng ngày liên quan đến khả năng lấy hơi và phát âm của nghệ nhân Nhiều khi, đó là những trường hợp nằm ngoài ý thức sáng tạo của nghệ nhân Tuy nhiên,
có rất nhiều trường hợp lần hát trước khác với lần hát sau là do tính sáng tạo có ý thức của các nghệ nhân, của những người hát
Những dị bản trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển đâu đó bắt nguồn
từ những thói quen, sinh hoạt, lao động gắn liền với biển Sức sáng tạo nghệ thuật của mỗi cá nhân đóng góp với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian mang những nét văn hóa đặc trưng của miền biển Tuy nhiên, sức sáng tạo đó có mãnh liệt đến đâu đi chăng nữa, thì sự sáng tạo ấy bao giờ cũng
bị vai trò của truyền thống chi phối, không thể sáng tạo vượt quá một thời hạn nhất định Đây chính
là sự sáng tạo trên cơ sở truyền thống
2.2.2 Những hạn chế trong các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
2.2.2.1 Bất cập trong việc xác định chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
Cũng giống như đối với các đối tượng bảo hộ quyền tác giả khác, việc xác định chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là hết sức quan trọng Bởi vì, nếu không xác định được ai là chủ sở hữu quyền tác giả thì sẽ không xác định được phạm vi quyền được bảo
hộ cũng như việc thực hiện chúng
Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định về chủ sở hữu quyền tác giả như sau:
“Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.”
Theo quy định này thì chủ sở hữu quyền tác giả sẽ nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 Tuy nhiên, có thể nói việc xác định được tác giả của mỗi tác
Trang 2828
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là điều không thể Đối với các tác phẩm thông thường do một
cá nhân hoặc tập thể tác giả cụ thể sáng tạo nên, thì việc xác định tác giả từ đó xác lập quyền tác giả đối với tác phẩm đó là vô cùng dễ dàng Nhưng đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian lại khác, bởi bản thân trong chính các tác phẩm ấy lại có rất nhiều đặc điểm khác biệt như: sản sinh trong đời sống lao động, là các tác phẩm vô danh, là công trình sáng tạo của tập thể, là các tác phẩm truyền miệng và có nhiều dị bản Chính những đặc điểm này đã tạo ra không ít khó khăn trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bởi quyền tác giả quy định chung cho tất cả các tác phẩm văn học, nghệ thuật Điều đó vô tình chung đã đánh đồng cả văn học, nghệ thuật dân gian và văn học, nghệ thuật thông thường Do đó, khi áp dụng các quy định của pháp luật vào việc xác định chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là rất khó xác định
Có thể thấy, khó có thể xác định được tổ chức, cá nhân nào là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Bởi tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
là cộng đồng dân cư, không xác định cụ thể một cá nhân nào và nó lại được lưu truyền qua nhiều thế hệ Nhà nước là loại chủ thể thứ ba mà Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ghi nhận có thể làm chủ
sở hữu quyền tác giả
Khoản 1 Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 nêu ra ba loại tác phẩm mà Nhà nước là chủ
sở hữu quyền tác giả:
“1 Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm sau đây:
a) Tác phẩm khuyết danh, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật này; b) Tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản;
c) Tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước”
Các tác phẩm mà Nhà nước là chủ sở hữu không có tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Có ý kiến cho rằng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là một loại hình tác phẩm khuyết danh và như thế Nhà nước sẽ có quyền sở hữu quyền tác giả Song ý kiến này không hợp lý bởi lẽ, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian hoàn toàn không phải khuyết danh Tuy tác giả của nó không thể được điểm mặt chỉ tên nhưng luôn xác định được rằng đó là một cộng đồng nào đó Nó cũng không phải là “tác phẩm thuộc về công chúng” bởi vì không thể xác định được thời hạn bảo hộ của
nó và vì thế không thể xác định được khi nó hết thời hạn bảo hộ để từ đó gọi nó là “tác phẩm thuộc
Một là cộng đồng công xã: Như đã phân tích, khuôn viên sáng tạo, lưu truyền phổ biến, tiếp
nhận văn học, nghệ thuật dân gian cổ truyền là các cộng đồng công xã được gọi là làng, bản, buôn,…
Do đó, Hội xác định làng là đơn vị xã hội có chủ quyền sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian của làng mình Trường hợp nhiều làng có cùng một loại hình văn học, nghệ thuật dân gian, tuy
có cùng loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nhưng mỗi làng lại thể hiện không hoàn toàn giống nhau
Hai là những người được cộng đồng công nhận là người hàng đầu trong việc nắm giữ và
thực hành, truyền dạy vốn văn học, nghệ thuật dân gian của cộng đồng Không phải mọi thành viên đều nắm được một số lượng các biểu đạt văn học, nghệ thuật dân gian như nhau và cũng có một trình độ thực hành khác nhau (có những người có tài năng nổi bật hơn những thành viên khác) Đây là người nắm được nhiều nhất vốn văn học, nghệ thuật dân gian của cộng đồng, có khả năng thực hành hay trình diễn vốn ấy thành thạo nhất với kỹ năng cao nhất, có khả năng sáng tạo, bổ sung làm giàu thêm vốn ấy và cũng là người thầy truyền dạy vốn văn hóa đó cho các thế hệ tiếp theo Chính nhờ những người này mà di sản văn học, nghệ thuật dân gian của các tộc người Việt Nam được lưu giữ và truyền lại cho đến hôm nay
Trang 2929
Ba là người sưu tầm, nghiên cứu: Đó là các nhà sưu tầm, nghiên cứu, bằng cách nào đó, họ
đến cộng đồng và được cộng đồng cung cấp vốn văn học, nghệ thuật dân gian Những người này cũng được coi là chủ sở hữu về tư liệu mà họ sưu tầm được
Theo quan điểm của cá nhân, việc xác định chủ sở hữu các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam là phù hợp Bỡi lẽ chính những người trên là những người trực tiếp lưu giữ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Là những người giữ lửa cho tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian không bao giờ vụt tắt Bởi vậy, công nhận ba thực thể trên là chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là phù hợp với thực tế
Các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là một bộ phận quan trọng đối với nền văn hóa của một quốc gia Đầu tiên để xác định và thực hiện được phạm vi quyền được bảo hộ của một tác phẩm là cần xác định đúng ai là chủ sở hữu quyền tác giả Tuy nhiên quy định về việc bảo hộ quyền tác giả đối với những tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian còn rất hạn chế Luật Sở hữu trí tuệ cần quy định rõ ràng chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là ai để có thể dễ dàng trong công tác quản lý, thu phí hay đăng ký các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
2.2.2.2 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, có thể thấy rằng, pháp luật
sở hữu trí tuệ về quyền tác giả không có quy định cụ thể về thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Tuy nhiên có thể xem xét thời hạn bảo hộ quyền tác giả dưới các loại hình tác phẩm khác Cụ thể:
Thứ nhất, nếu coi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là tác phẩm khuyết danh Bảo hộ
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian như một tác phẩm khuyết danh thì nó chỉ được bảo hộ trong vòng 50 năm kể từ khi được công bố Điều này hoàn toàn không phù hợp Bởi lẽ, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian không hoàn toàn khuyết danh, có những tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian xác định được tác giả, và tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian chính là cộng đồng sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đó Mặt khác, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian không phải là một tác phẩm cố định mà luôn được bổ sung, luôn được làm mới, luôn được sáng tạo tiếp tục bởi cộng đồng Do vậy, nếu coi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian như một tác phẩm khuyết danh để bảo hộ như vậy là không phù hợp
Thứ hai, nếu căn cứ điểm b khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì “tác phẩm không
thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản này có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết…” Quy định như vậy càng không phù hợp Bởi lẽ, tác phẩm
văn học, nghệ thuật dân gian là sở hữu của cộng đồng, không thể xác định cụ thể ai là tác giả Nên việc quy định thời hạn là suốt đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết là không thể
áp dụng được
Vì vậy, theo ý kiến cá nhân, thời hạn bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cần được
quy định bảo hộ vô thời hạn Bởi vì, bản chất của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là tồn tại dưới dạng thông tin được lưu truyền qua các thế hệ, không những đối với các thế hệ trước, thế hệ hiện tại mà còn có thể được lưu truyền cho các thế hệ tương lai
2.2.2.3 Xác lập quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Cũng giống như các tác phẩm viết khác, việc bảo hộ của quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được xác lập tự động ngay sau khi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được hoàn thành, không cần được đánh giá và công nhận, cũng không cần phải thông qua thủ tục cấp bằng bảo hộ nào Việc nộp đơn để được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không phải
là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả
Tuy nhiên, việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được xác lập tự động thì việc cấp giấy chứng nhận quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là việc làm cần thiết được nhà nước khuyến khích vì việc đăng ký quyền tác giả có ý nghĩa quản lý nhà nước và chủ thể có giấy chứng nhận quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thì được miễn nghĩa vụ chứng minh khi có tranh chấp về quyền tác giả trừ trường hợp có
Trang 3030
chứng cứ chứng minh ngược lại Đồng thời khi đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, có thể xác định được tác giả cũng như chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Khi đó việc quản lý tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cũng
dễ dàng hơn Chẳng hạn các trường hợp như phải xin phép, trả tiền sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đã xác định được đối tượng được trả tiền Việc đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là cần thiết
Khoản 1 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định về đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan như sau:
“1 Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ
sở hữu quyền liên quan nộp đơn và hồ sơ kèm theo (sau đây gọi chung là đơn) cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ
sở hữu quyền liên quan”
Các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian rất khó xác định được tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bởi lẽ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sở hữu của cộng đồng Bởi vậy khi đăng ký quyền tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cần xác định được ai là chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đó
2.2.2.4 Mục đích bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Mục đích của việc bảo hộ quyền tác giả đối với một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thông thường, ngoài việc công nhận về nguồn gốc sáng tạo ra tác phẩm còn là sự bù đắp xứng đáng cho tác giả và người sở hữu quyền tác giả vì những công sức sáng tạo họ đã bỏ ra
Theo khoản 2 Điều 20 Nghị định 100/2006/NĐ – CP của Chính phủ quy định:
“2 Sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật
Sở hữu trí tuệ là việc nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian”
Điều này đã khái quát về mục đích sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian tuy nhiên chưa xác định rõ ràng về mục đích bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là gì? Mục đích cao nhất của việc bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là bảo tồn và phát huy tối đa những giá trị truyền thống trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, đồng thời phát hiện và bảo tồn những tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian hiện còn đang thất truyền
Với mục đích cao nhất này, khái niệm “bảo hộ” không còn nghĩa là độc quyền sử dụng và cho phép sử dụng tác phẩm của tác giả giống như đối với các tác phẩm thông thường Bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là khi mọi người dân Việt Nam – dân gian – đều được tiếp cận một cách dễ dàng nhất tới nó, sử dụng, duy trì nó, làm mới nó để tiếp tục phản ánh được giá trị văn hóa của cả cộng đồng qua sự phát triển của các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
2.2.2.5 Nội dung bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là những quyền năng mà pháp luật trao cho chủ thể quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Từ các quyền năng đó là cơ sở pháp lý để chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào quá trình sáng tạo và khai thác Việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian dựa trên những đặc trưng và mục đích khác nhau và nói chung vì tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có những đặc trưng riêng biệt so với các đối tượng khác nên mục đích bảo hộ chúng cũng khác so với mục đích bảo hộ các hình thức sáng tạo khác thuộc bảo hộ quyền tác giả
a) Quyền nhân thân của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Quyền nhân thân của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được quy định tại khoản 2 Điều
23 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005:
“2 Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.”
Trang 3131
Khoản 4 Điều 20 Nghị định 100/2006/NĐ – CP ngày 11/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan quy định rõ:
“4 Dẫn chiếu xuất xứ loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại khoản
2 Điều 23 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc chỉ ra địa danh của cộng đồng cư dân nơi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được hình thành”
Quyền này tương tự như quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, tác phẩm được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác giả được công bố, sử dụng được luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 bảo
hộ đối với quyền tác giả thông thường Quyền này thể hiện vai trò chủ sở hữu của chính cộng đồng đã sáng tạo ra tác phẩm Họ phải có quyền xác nhận nguồn gốc của tác phẩm mỗi khi tác phẩm được sử dụng hoặc dẫn chiếu Mỗi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có rất nhiều dị bản khác nhau, được lưu giữ ở các cộng đồng khác nhau
Ví dụ: Một câu chuyện cổ tích Sọ dừa có những dị bản nguồn gốc của dân tộc Chăm, có những dị bản nguồn gốc thuộc Campuchia…
Do đó, để tránh nhầm lẫn và đảm bảo quyền lợi của cộng đồng lưu giữ thì đòi hỏi người sử dụng phải dẫn chiếu nguồn gốc, xuất xứ hình thành tác phẩm Việc chỉ ra địa danh, xuất xử của tác phẩm sẽ tạo điều kiện cho việc sử dụng, nghiên cứu tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian dễ dàng hơn
Bên cạnh đó một quyền nhân thân nữa của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cũng cần
được bảo hộ là quyền: “Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác sữa chữa, cắt xén
hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất ký hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” được quy định cho quyền tác giả thông thường Các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
cần phải được bảo hộ sự toàn vẹn giá trị nội dung mà tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đó chứa đựng
b) Quyền tài sản của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Thứ nhất, sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là việc nghiên cứu, sưu tầm, giới
thiệu, phổ biến, truyền bá tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian tới cộng đồng Và việc sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải đảm bảo không được làm sai lệch, xuyên tác, cắt xén, bóp méo nội dung của tác phẩm Cũng như không được lợi dụng việc sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian để làm phương hại tới thuần phong mĩ tục của cộng đồng làng xã Mỗi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian mang những giá trị nhận thức, giá trị nhân đạo, giá trị nghệ thuật sâu sắc Vì vậy, khi sử dụng chúng phải đảm bảo được sự truyền tải đúng đắn để toát lên những giá trị
đó
Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định 100/2006/NĐ – CP ngày 11/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả
và quyền liên quan khẳng định rằng:
“2 Sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ là việc nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.”
Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần phải làm rõ hơn thế nào là “giá trị đích thực” của một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Chưa có một quy định nào làm rõ vấn đề này sẽ gây khó khăn trong việc xác định các hành vi vi phạm đối với bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Thứ hai, vấn đề thu phí khi sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Người sử
dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải thỏa thuận về việc trả thù lao cho người lưu giữ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và được hưởng quyền tác giả đối với phần nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu của mình
Khoản 3 Điều 20 Nghị định 100/2006/NĐ – CP ngày 11/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan quy định:
Trang 3232
“3 Người sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo quy định tại khoản 2 Điều này phải thỏa thuận về việc trả thù lao cho người lưu giữ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
và được hưởng quyền tác giả đối với phần nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu của mình.”
Thù lao này sẽ góp phần vào việc khuyến khích và duy trì sự phát triển của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, bảo đảm những điều kiện về mặt kinh tế để cộng đồng tiếp tục lưu giữ chúng
Mặt khác, một yêu cầu cần phải đặt ra là phải phân biệt được mục đích sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bởi một tác phẩm có thể được sử dụng vì mục đích phi thương mại hoặc thương mại Đối với những tác phẩm mà người sử dụng nhằm mục đích thương mại, kiếm lợi nhuận thì việc sử dụng phải được thỏa thuận với người lưu giữ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Chẳng hạn như việc ghi băng đĩa, phạt mại trên truyền hình, xuất bản,… Đối với những tác phẩm không nhằm mục đích thương mại như nhân bản tác phẩm chỉ nhằm mục đích sử dụng cá nhân hoặc riêng tư của người nhân bản; một ví dụ khác là trích dẫn tác phẩm đã được bảo hộ với điều kiện nguồn trích dẫn, tên tác giả được nêu rõ và phạm vi trích dẫn tương thích với việc thực hành hợp lý Đây được coi là hành vi sử dụng hợp lý các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Thứ ba, về việc xác định quyền thu phí bản quyền, chúng ta phải hiểu rằng phí này không
phải là để bù đắp lại công sức sáng tạo ra tác phẩm mà phải được dùng để bảo tồn và phát huy các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong khung cảnh lớn hơn là toàn bộ di sản văn học, nghệ thuật dân gian của dân tộc Việt Nam Vì thế một mặt phí này không được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa người chủ sở hữu quyền và người sử dụng như đối với một tác phẩm thông thường Mặt khác nó cũng không được quá cao để mọi người dân Việt Nam cảm thấy đắn đo khi sử dụng chính các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian của mình
Đối với người sử dụng là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài vì mục đích thương mại mức phí có thể khác nhau và mang tính thương mại nhiều hơn ở mức độ nào đó Quyền thu phí này do Nhà nước thông qua một cơ quan có thẩm quyền là người đại diện cho chủ sở hữu là cộng đồng theo nghĩa rộng thực hiện Từ nguồn thu này nhà nước cần lập một quỹ để chi tiêu các khoản thu
đó vào mục đích duy nhất là khuyến khích bảo tồn và phát huy văn hóa, nghệ thuật dân gian của Việt Nam Tuy nhiên, việc thu phí này chỉ là điều kiện cho việc sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ở trong nước Không nên xác lập quyền độc quyền cho phép sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian như quyền độc quyền của chủ sở hữu một tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như một phần quan trọng của quyền tài sản bảo hộ bởi Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 Bởi lẽ, các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian không chỉ thuộc về các cộng đồng sở hữu nó, mà nó như một nét đẹp văn hóa, bản sắc văn hóa của nước ta
Ngày 23 tháng 02 năm 2018 vừa qua Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2018/NĐ – CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan sẽ có hiệu lực
kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2018 tới Nghị định này sẽ thay thế Nghị định 100/2006/NĐ – CP và Nghị định 85/2011/NĐ – CP Nghị định quy định rõ biểu mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất tại Điểu 43 Nghị định như sau:
“2 Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng theo quy định tại khoản 1 Điều 26, khoản 1 và khoản 2 Điều 33 của Luật sở hữu trí tuệ có nghĩa vụ liên lạc trực tiếp với chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan về việc khai thác, sử dụng Trường hợp không liên lạc trực tiếp được với chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thì tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, bản ghi âm ghi hình, chương trình phát sóng phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
3 Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có trách nhiệm thoả thuận về mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất và phương thức thanh toán.”
Trang 3333
Như vậy, theo quy định tại Nghị định 22/2018/NĐ – CP thì tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian sẽ phải liên lạc trực tiếp với chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đó hoặc tổ chức đại diện quyền tác giả về việc khai thác, sử dụng
Trường hợp không liên lạc trực tiếp được thì tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có trách nhiệm thỏa thuận về mức tiền thù lao, quyền lợi vật chất và phương thứ thanh toán
Nghị định 22/2018/2/NĐ – CP cũng quy định rõ nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất được xác định dựa theo 4 nguyên tắc theo quy định tại khoản 4 Điều 43 như sau:
i) Việc trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất phải bảo đảm lợi ích của người sáng tạo, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng hưởng thụ, phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội của đất nước
ii) Mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất được xác định căn cứ vào thể loại, hình thức, chất lượng, số lượng hoặc tần suất khai thác, sử dụng
iii) Các đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận về tỷ
lệ phân chia tiền nhuận bút, thù lao theo mức độ sáng tạo, phù hợp với hình thức khai thác, sử dụng
iv) Mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất được xác định trong hợp đồng bằng văn bản theo quy định pháp luật
Có thể nói đây là một trong những quy định mới, tiến bộ phù hợp với yêu cầu thực tế hiện nay Là cơ sở để các tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm trả thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tổ chức đại diện quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật nói riêng
Tuy nhiên, để xác định được vấn đề ai được nhận thù lao thì Luật Sở hữu trí tuệ cần quy định rõ ràng đối với những tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thì chủ sở hữu quyền tác giả ở đây là ai Như đã phân tích ở trên, có thể theo kinh nghiệm của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam quy định ba chủ thể có thể là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Các chủ thể này sẽ đứng ra quản lý, thu phí sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo quy định của Nghị định 22/2018/NĐ – CP của Chính phủ
2.2.2.6 Xác định các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
Những đóng góp quan trọng của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển mang lại không chỉ là lợi ích về tinh thầm mà còn có cả lợi ích kinh tế Đặc biệt trong các lĩnh vực du lịch biển, các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đóng góp không nhỏ vào việc phát triển du lịch biển, thu hút khách tham quan Nên bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là việc làm cần thiết nhằm tránh những hành vi xâm phạm Hành vi xâm phạm việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian gồm hai dạng hành vi chính: khai thác bất hợp pháp và làm sai lệch tác phẩm
Thứ nhất, hành vi khai thác bất hợp pháp ở đây được hiểu là sử dụng tác phẩm không trích
dẫn loại hình tác phẩm và xuất xứ cộng đồng dân cư nơi mà tác phẩm được hình thành, không trả thù lao cho cá nhân, cộng đồng lưu giữ tác phẩm đó Hành vi khai thác bất hợp pháp sẽ làm ảnh hưởng lớn tới việc duy trì sự phát triển của một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, đồng thời làm cho người tiếp nhận, cảm thụ văn học, nghệ thuật dân gian mất phương hướng và có cách hiểu sai lệch
Thứ hai, hành vi làm sai lệch tác phẩm, chính là những hành động cắt xén, bóp méo, sửa
chữa, xuyên tạc nội dung tác phẩm, vi phạm tới giá trị đích thực của tác phẩm, ảnh hưởng tới thuần phong mỹ tục, những nét đẹp văn hóa có từ bao đời nay của cả cộng đồng dân tộc
Tuy nhiên, chưa có một quy định cụ thể nào trong việc xác định hành vi xâm phạm tới tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Những quy định của Luật Sở hữu trí tuệ đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả là không thích hợp nếu áp dụng cho việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Bởi những đặc trưng của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là không xác định được
Trang 3434
tác giả cụ thể, chủ sở hữu ở đây là cộng đồng Nhưng đa số quy định về xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả ở đây đều liên quan tới việc bảo hộ quyền lợi tác giả của tác phẩm
Chẳng hạn, hành vi xâm phạm đối với tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, khoản 2 Điều
28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có nói hành vi xâm phạm là “Mạo danh tác giả”, tuy nhiên nếu là một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thì sẽ có rất nhiều tác giả thuộc các cộng đồng khác nhau, vậy ai sẽ mạo danh ai? Mặt khác, do chưa có quy định cụ thể hành vi xâm phạm đến tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Mà đặc trưng của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là tính dị bản
Vì vậy nên việc xác định thế nào là “cải biên”, thế nào là “giữ nguyên gốc”, thế nào là “sao chép”, thế nào là “sáng tạo”, thế nào là “xâm phạm bóp méo”… ranh giới giữa chúng là khó xác định được
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN
HỌC, NGHỆ THUẬT DÂN GIAN MIỀN BIỂN
3.1 Một số vấn đề cần lưu ý khi xem xét việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của các cộng đồng dân tộc trên khắp nước Việt Nam từ xưa đến nay Chúng ta tồn tại và phát triển cùng với
sự phát triển kinh tế của đất nước, có thể nói mỗi một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian mang đậm bản sắc tinh hoa văn hóa dân tộc Tuy nhiên, đứng trước thực trạng khi màn chính sách bảo hộ không đủ để giúp cho việc duy trì sự tồn tại và phát triển một cách lành mạnh của các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian như hiện nay Vì vậy, chúng ta cần phải đẩy mạnh hơn nữa trong việc tìm
ra giải pháp để góp phần bảo vệ và giữ gìn tốt đẹp hơn các tinh hoa văn hóa dân tộc, tránh cho những tác phẩm đó không bị mai một và mất dần giá trị vốn có
Mặt khác, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian của mỗi dân tộc là một trong những thành
tự văn hóa, thành tự nghệ thuật làm cơ sở cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa, nghệ thuật của dân tộc đó Vì vậy, để góp phần bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng và tri thức truyền thống nói chung đồng thời để đưa ra những giải pháp thỏa đáng, phù hợp Chúng ta nên xem xét một số vấn đề cần thiết trong việc bảo hộ một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian như sau:
Thứ nhất, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là một tác phẩm mang những đặc trưng
vô cùng đặc biệt với đặc thù không xác định được đích danh tác giả là ai và được lưu truyền bằng miệng là chủ yếu do đó mang đặc trưng tính dị bản Do đó, khi bảo hộ một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian chúng ta phải làm sao để bảo vệ một cách bao quát nhất các tác phẩm này
Thứ hai, vì những đặc trưng của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tác tập thể,
được truyền bằng miệng và có nhiều dị bản nên việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo hình thức nào đó cho phù hợp chúng ta phải cân nhắc Đồng thời cân bằng được giữa việc tránh bóp méo, làm sai lệch tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và đảm bảo sự sáng tạo của tác phẩm
là việc làm cần thiết Có nghĩa là phải tìm ra một hình thức bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cho phù hợp, có như vậy mới đảm bảo được sự bảo hộ và phát triển lành mạnh tác phẩm, vừa tránh được sự kìm hãm sự phát triển, khuyến khích tự do sáng tạo của những cá nhân, tập thể khi khai thác chúng Tuy nhiên, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có những đặc trưng không giống với tác phẩm tri thức truyền thống khác nên có thể không nhất thiết phải bó buộc việc bảo hộ dưới một hình thức khuôn mẫu nhất định
Thứ ba, việc cơ quan có thẩm quyền cấp phép sử dụng Khi pháp luật có quy định phải có
sự cấp phép thì mới được sử dụng thì phải quy định rõ cơ quan nào có thẩm quyền cấp phép hay việc cấp phép giao cho cộng đồng lưu giữ tác phẩm đó, lệ phí cấp phép (nếu có) Cần phải có một
cơ quan được giao trọng trách này
Trang 3535
Thứ tư, quy định rõ các dạng hành vi xâm phạm tới bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian từ đó sẽ xác định hành vi xâm phạm là một vấn đề cốt lõi của việc bảo vệ một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, dựa trên các dạng hành vi xâm phạm mà ta có thể thực hiện sự bảo
vệ một cách dễ dàng, đồng thời không gặp khó khăn khi xác định thiệt hại, làm căn cứ để áp dụng chế tài xử phạt hợp lý
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển
3.2.1 Tách hẳn quy định về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thành một chương riêng trong Luật Sở hữu trí tuệ
Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được sáng tác và tồn tại bằng phương thức truyền miệng nên chúng có rất nhiều dị bản khác nhau Vì vậy, để tránh chồng chéo và không bị nhầm lẫn trong việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thì ta nên bảo hộ các nội dung của tác phẩm, tức là “cốt truyện”, như vậy mới đảm bảo được tính bao quát toàn bộ tác phẩm, bảo hộ được tất cả các dị bản khi ta căn cứ vào một cái cốt chung, thống nhất đó Mặc dù mỗi tác phẩm có một vài tình tiết khác nhau, nhưng nếu chúng vẫn đảm bảo được cái “cốt” thì chúng đương nhiên được bảo hộ, chúng ta cũng đảm bảo được sự phát triển toàn vẹn của một tác phẩm, đồng thời cũng không kìm hãm sự sáng tạo của người khai thác và sử dụng chúng
Mặt khác, theo quy định về điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nói chung của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 thì tính nguyên ngốc và hình thức sáng tạo Tuy nhiên, đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian không thể bảo hộ theo hình thức bảo hộ cũ được Nếu đáp ứng điều kiện bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải đảm bảo tính nguyên gốc thì thuộc tính truyền miệng và dị bản sẽ không còn là đặc trưng vốn có của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nữa
Quyền tác giả không bảo hộ nội dung tác phẩm nên khi đặt ra vấn đề bảo hộ “cốt truyện” tức là sẽ không áp dụng hình thức bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Hình thức của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian (đặc biệt là loại hình ngôn từ) hầu hết là không thể xác định, trong khi đó nội dung của chúng đôi khi cũng không hề khác nhau (khác nhau chủ yếu ở các chi tiết phụ: hoàn cảnh, địa điểm,…) Do đó chúng ta nên bảo hộ nội dung của các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, chỉ cần người sử dụng không làm sai lệch nội dung đó thì sẽ không có hành vi vi phạm
Mỗi đối tượng bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nên có những quy định bảo hộ riêng để phù hợp với đối tượng đó, bởi vì mỗi nhóm đối tượng lại có những đặc trưng khác nhau Chúng ta nên học tập những quy định của Quy định mẫu, một số quy định về cơ quan cấp phép, cơ quan giám sát, hành vi xâm phạm, chế tài xử phát Tách hắn quy định về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng và bảo hộ tri thức truyền thống nói chung thành một chương riêng trong Luật Sở hữu trí tuệ Điều này là cần thiết khi bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có những đặc trưng riêng không giống như những hình thức bảo hộ khác và chúng không có khuôn mẫu
3.2.2 Định nghĩa lại khái niệm tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Ta cần phải định nghĩa lại khái niệm tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian trong luật Việc định nghĩa lại khái niệm này theo phương pháp hoặc là miêu tả thuộc tính hoặc là liệt kê logic để tránh việc định nghĩa khái niệm lan man, không rõ ràng
3.2.3 Vấn đề chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Phải thiết lập một cơ quan có thẩm quyền đứng ra đại diện việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng và tri thức truyền thống nói chung trực thuộc Cục Bản quyền Cơ quan này sẽ kiêm luôn vai trò cấp phép sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cũng như hoạch định các chính sách phù hợp để bảo tồn và phát triển tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Ngoài ra, việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thì cần phải đăng kí, cộng đồng nào muốn tác phẩm của mình được bảo hộ thì cần phải đăng kí với cơ quan đó, phải đưa ra các căn
cứ chứng minh rằng tác phẩm đó thuộc sở hữu của cộng đồng mình Hơn nữa, mỗi cộng đồng có
Trang 3636
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian sẽ ủy quyền cho cơ quan chức năng đứng đầu cộng đồng mình làm đại diện đăng kí và đồng thời cơ quan này sẽ được thu phí sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng và tri thức truyền thống nói chung Những phí đó được dùng cho việc gìn giữ và duy trì, phát triển tác phẩm đó Cơ quan trực thuộc Cục sẽ làm nhiệm vụ giám sát việc thực thi các quy định liên quan tới việc sử dụng, thu phí của cơ quan đại diện cho cộng đồng lưu giữ tác phẩm đó Các cá nhân, tổ chức muốn sử dụng phải được sử đồng ý của cộng đồng nơi tác phẩm được hình thành và đồng thời phải xin phép cơ quan chức năng có thẩm quyền ở cộng đồng làng xã đó Trong khi sử dụng bắt buộc phải trích dẫn hình thức và xuất xứ của tác phẩm Điều này hoàn toàn phù hợp với những quy định của Nghị định 22/2018/NĐ – CP sắp có hiệu lực sắp tới đây
Ví dụ: Xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng sở hữu làn điệu hát Đúm truyền thống
Xã Lập Lễ cần phải đăng kí với cơ quan đó, phải đưa ra các căn cứ chứng minh rằng tác phẩm đó thuộc sở hữu của cộng đồng mình Đồng thời, xã Lập Lễ sẽ ủy quyền cho cơ quan chức năng đứng đầu cộng đồng mình làm đại diện đăng kí và đồng thời cho cơ quan chức năng đứng đầu cộng đồng mình làm đại diện đăng ký Cơ quan này sẽ được thu phí sử dụng các làn điệu hát Đúm truyền thống của xã Lập Lễ
3.2.4 Vấn đề quyền nhân thân
Thay vì bảo hộ quyền nhân thân đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo hướng
áp dụng những quy định chung thì các nhà lập pháp nên đặt ra những quy định riêng và cụ thể hơn
về việc bảo hộ giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cũng như việc dẫn chiếu xuất xứ khi sử dụng Bên cạnh đó, trên thực tế một số tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian vẫn
có tên tác giả, nên ngoài việc quy định về dẫn chiếu xuất xứ khi sử dụng thì chúng ta nên trích dẫn tên tác giả đối với những tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có tên tác giả, để đảm bảo quyền nhân thân của tác giả
3.2.5 Vấn đề sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Nghị định 100/2006/NĐ – CP thì sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là việc nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu giá trị đích thức của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Còn theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định 100/2006/NĐ – CP thì phải thỏa thuận về việc trả thù lao cho người lưu trữ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian khi sử dụng
Qua hai quy định trên, có thể hiểu phải thỏa thuận về việc trả thù lao cho người lưu giữ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian khi nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu giá trị đích thức của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Như đã biết, khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thông thường sẽ có hai mục đích đó là: thương mại và phi thương mại trong phạm vi truyền thống hoặc tập quán Do vậy, chỉ nên thực hiện thỏa thuận trả tiền thù lao đối với việc sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian mang tính chất thương mại Còn đối với việc sử dụng không mang tính chất thương mại, nghĩa là không tạo ra lợi nhuận trong quá trình sử dụng, thì việc thu phí ở đây
là không hợp lý Việc sử dụng mang tính chất thương mại được thể hiện rõ nhất là ở ngành du lịch Việc sử dụng các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nhằm phục vụ cho “ngành công nghiệp không khói” này không phải là việc mới đây Tuy nhiên, chưa có một cơ quan nào quản lý
và giám sát về việc sử dụng loại hình này, từ đó, không thể xác định được việc sử dụng các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian trong lĩnh vực này có còn mang đúng bản sắc văn hóa truyền thống hay không
Vì vậy, việc thành lập một cơ quan quản lý, giám sát đối với việc cho phép sử dụng và sử dụng đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian như đã đề xuất ở phần cấp phép sử dụng và cơ chế giám sát là rất cần thiết
3.2.6 Quy định cụ thể hơn về hành vi xâm phạm bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Chúng ta nên học tập một số quy định của Quy định mẫu gồm có hai dạng hành vi “khai thác bất hợp pháp” và “các dạng hành vi khác” và quy định cụ thể hơn về hành vi xâm phạm bảo
hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Trang 3737
Hành vi “khai thác bất hợp pháp” tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được hiểu là trong bất ký việc sử dụng nào được thực hiện nhằm mục đích thu lợi, ngoài phạm vi truyền thống hay tập quán và không được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền hoặc cộng đồng liên quan tới nó Các hành vi gây tổn hại khác, có hại cho các lợi ích liên quan tới việc sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Ví dụ: Sử dụng vượt quá giới hạn hoặc trái với các điều kiện đã cấp phép thì cũng được coi là hành vi xâm phạm về sử dụng trái phép, xuất bản dạng in hay bất kỳ sự truyền bá nào tới công chung đối với bất kỳ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nào có thể nhận biết được, thì nguồn của nó phải được chỉ rõ một cách thích hợp, thông qua việc lưu ý về cộng đồng hoặc địa điểm địa lý nơi phát sinh hình thức thể hiện dân gian được sử dụng
Việc sử dụng nhằm mục đích công làm méo mó tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian với bất kỳ cách thức nào, trực tiếp hay gián tiếp “gây tổn hại với các lợi ích văn hóa của cộng đồng liên quan”, đều là hành vi xâm phạm,… Và cùng phải lợi trừ một số hành vi không coi là xâm phạm tới việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Mắc khác, với đặc trưng riêng của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Vì vậy cần quy định những hành vi nào là hành vi xâm phạm quyền tác giả và phải liệt kê ra cho cụ thể, từ đó xác định các chế tài thích hợp, phần chế tài này có thể sử dụng chung của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nếu cần thiết thì vấn có thâm những quy định cụ thể nằm trong phần quy định về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và tri thức truyền thống
3.3 Một số kiến nghị đối với việc thực thi các biện pháp bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
3.3.1 Nâng cao năng lực kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Thứ nhất, công tác thanh tra, kiểm tra có vai trò to lớn trong việc phát hiện và ngăn chặn
hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác này để thanh tra, kiểm tra các cá nhân, đơn vị tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh sách cũng như việc nghiên cứu, sưu tầm các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian Tuy nhiên hiện nay, việc thanh tra, kiểm tra mới được tiến hành tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh,… Thực tế cho thấy qua những đợt thanh tra, kiểm tra thì hành vi xâm phạm đã được đẩy lùi một bước, nhưng nếu không làm thường xuyên, không đồng bộ thì không hiệu quả
Thứ hai, khuyến khích sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian trong các hoạt động
hành chính nhà nước, hoạt động nghiên cứu, giảng dạy trong nhà trường cũng như nhu cầu sử dụng
cá nhân thay vì sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bất hợp pháp Như vậy thì tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian mới được bảo tồn và phát triển nét đẹp văn hóa của dân tộc Nhà trường cũng đã có chính sách tăng cường và khuyến khích phát triển nền văn hóa dân tộc thông qua các hình thức: thành lập câu lạc bộ Ca trù, hát Chèo tàu, hát Dặm, cá Huế… Nhiều dự án sư tầm, bảo quán, biên dịch đạt kết quả như sưu tầm và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên…
3.3.2 Nâng cao ý thức của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người sử dụng
Cần tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục, ý thức pháp luật về quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng bằng biện pháp sau:
Thứ nhất, tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền tác giả nói chung và quyền tác
giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng bằng các hình thức phong phú, đa dạng như: tổ chức các hội thi sân khấu hóa, cuộc tòa đàm, diễn đàn, hội thảo… nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức và người dân ý thức chấp hành pháp luật, cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Thứ hai, mặc dù trong các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng về chuyên ngành đã đưa vào
giảng dạy từ lâu, tuy nhiên, việc đưa nội dung này vào giảng dạy đại cương tại các ngành thuộc lĩnh vực xã hội là cần thiết Phổ biến quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian trên sách, báo, tạp chí… công khai trên các phương tiện thông tin đại chung những thiệt hại do vi phạm
Trang 3838
gây ra để người sử dụng nhận thấy được tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Thứ ba, đa dạng hóa các hình thức đào tạo về nội dung và phong phú về hình thức, khai
thác triệt để các phương tiện trợ giúp giạng dạy và học tập, đặc biệt là sử dụng Internet, tăng cường
hệ thống đào tạo từ xa
Thứ tư, Bộ văn hóa, thể thao và du lịch cần tổ chức tư vấn miễn phí cho các cá nhân, doanh
nghiệp về vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian để giúp họ hiểu thế nào là vi phạm và hậu quả của việc vi phạm Tổ chức tư vấn cần được thành lập và quy tụ thành mạng lưới
3.3.3 Nâng cao năng lực xét xử của Tòa án trong giải quyết tranh chấp và xét xử các vụ
án hình sự về xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Một vấn đề quan trọng cần phải kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi của bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp cũng như xét xử các vụ án hình sự của Tòa án
Thứ nhất, khuyến khích cán bộ thẩm phán nắm vững kiến thức về sở hữu trí tuệ thông qua
các lớp bồi dương kiến thức sở hữu trí tuệ trong và ngoài nước Cần tăng cường tổ chức các buổi tập huấn, hội nghị trao đổi những vấn đề giải quyết tranh chấp quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật nói riêng, xem như là một diễn đàn để cán bộ, thẩm phán có dịp trao đổi kiến thức, nêu lên những bất cập, vướng mắc trong công tác giải quyết án
Thứ hai, lĩnh vực về sở hữu trí tuệ tương đối phức tạp và đa dạng, các tòa án nên có sự
tuyển chọn và đào tạo số lượng thẩm phán nhất định chuyên về lĩnh vực này nhằm đáp ứng yêu cầu trong công tác xét xử
Thứ ba, hiện nay số lượng các vụ án về quyền sở hữu trí tuệ đưa ra xét xử tại tòa án chưa
nhiều nhưng có xu hướng gia tăng nên việc thành lập tòa án chuyên trách về quyền sở hữu trí tuệ là vần đề cần làm ngay
Thứ tư, trang bị cơ sở vật chất, nhất là hiện đại hóa thông tin tư liệu về sở hữu trí tuệ nhằm
đáp ứng nhu cầu tra cứu phục vụ cho việc xét nghiệm đơn, tránh trùng lặp trong cấp văn bằng bảo
hộ Thực tế cho thấy bất cập về thông tin của cơ quan thẩm định luôn dẫn đến việc bảo hội không đúng đối tượng, Tòa án rất lúng túng khi giải quyết các tranh chấp
3.3.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo hộ và bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Bảo hộ quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng không chỉ có Việt Nam mà mang tính toàn cầu, vì vậy phải đặt trong mối quan hệ hợp tác quốc tế chặt chẽ:
Thứ nhất, tranh thủ sự hỗ trợ, hợp tác của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, các tổ chức quốc
tế liên quan, kinh nghiệm của các quốc gia nhằm tiếp thu những kinh nghiệm lập pháp, quản lý và thực thi quyền tác giả Tăng cường tham gia ký kết các điều ước quốc tế về thực thi quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đồng thời nghiêm chỉnh thực thi các điều ước quốc
tế về quyền tác giả mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia
Thứ hai, tích cực tham gia thực hiện các dự án hợp tác quốc tế liên quan đến việc tăng
cường bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút các dự án đầu tư nước ngoài về sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Thứ ba, có chế độ tuyển chọn đội ngũ nhân lực thích hợp đang hoạt động từ tất cả các lĩnh
vực từ cơ quan hành chính cho đến giáo dục và nhất là đội ngũ cán bộ tại cơ quan Tư pháp, Tòa án, Viện kiểm sát Tăng cường đào tạo đội ngũ chuyên gia về sở hữu trí tuệ ở nước ngoài, đặc biệt là chuyên gia về quyền giả hữu trí tuệ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật tại các nước có nền văn học, nghệ thuật ra đời sớm và phát triển như các nước châu Mỹ - Latinh…
3.3.5 Thắt chặt cơ chế kiểm soát biên giới và mạng Internet trong lĩnh vực quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Trang 3939
Những năm gần đây, trong bối cảnh phát triển kinh tế, giao lưu thương mại toàn cầu, các hoạt động vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn diễn ra gay gắt trên thế giưới dưới nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi Trong hoạt động xuất nhập khẩu đó là việc xuất, nhập khẩu hàng giả, hàng vi phạm bản quyền, hàng giả mạo xuất xứ… Vấn đề đặt ra là, các chủ sở hữu trí tuệ phải quan tâm làm thế nào có thể ngăn chặn được các hanh vi vi phạm này một cách hiệu quả, đỡ tốn kém nhất? Xét về nhiều phương diện, việc xử lý hàng hóa nhập khẩu có yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ thu được hiệu quả nhất nếu tiến hành ngay khi hàng hóa đi qua biên giới, chưa đưa vào mạng lưới phân phối, lưu thông tại nội địa Như vậy, để đảm bảo thực hiện được các cam kế quốc tế về bảo hộ sở hữu trí tuệ, bảo hộ được một cách có hiệu quả nhất quyền lợi hợp pháp của các chủ sở hữu quyền
sở hữu trí tuệ, bên cạnh việc phải xây dựng một cơ sở pháp lý làm cơ sở cho sự can thiệp của các
cơ quan có trách nhiệm, vấn đề xác định cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm chính trong đấu tranh chống vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thông qua công tác kiểm soát biên giới cũng đóng một vai trò quan trọng không kém
Thứ nhất, các doanh nghiệp, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ cần chủ động hơn trong việc
cung cấp thông tin về bản thân doanh nghiệp, hàng hóa, đồng thời chủ động phát hiện hành vi vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm vă học, nghệ thuật dân gian của cá nhân, tổ chức để cơ quan Hải quan kịp thời ngăn chặn, xử lý
Thứ hai, cần ban hành quy định về việc quản lý hoạt động xuất nhập khẩu các tác phẩm văn
học, nghệ thuật dân gian và tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian qua mạng Internet vì đây là nơi chủ yếu diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bản tác phẩm văn học, nghệ thuật dễ đàng và nhanh gọn
KẾT LUẬN
Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là một kho kiến thức đồ sộ của các dân tộc trên thế giới, nhìn vào một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ta dễ dàng nhận thấy lối suy nghĩ, nét văn hóa của dân tộc đó Đồng thời một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian còn có tác dụng giáo dục sâu sắc, hình thành tinh thần lạc quan, nhiều phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu nước, tình yêu thiên nhiên, lòng vị tha Từ trước đến nay, giới nghiên cứu văn học, nghệ thuật dân gian quan tâm nhiều đến văn hóa nông thôn ở các làng, các vùng hơn là văn hóa dân gian ven biển Vì vậy, đề tài tìm hiểu về vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển, bước đầu cung cấp một số thông tin về các thể loại văn học dân gian có gắn với văn hóa biển Đồng thời bổ sung kiến thức về sở hữu trí tuệ, áp dụng thực tiễn để có thể bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển Từ thực trạng bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển, chỉ ra những bất cập khi bảo hộ các tác phẩm này Để từ đó tìm ra giải pháp phù hợp để có thể hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển nói riêng và các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói chung
Trang 4040
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Các văn bản pháp luật
1 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
3 Bộ luật Dân sự năm 2005
4 Bộ luật Dân sự năm 2015
5 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009
6 Luật xuất bản năm 2012
7 Công ước Bern về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1967
8 Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát
sóng năm 1961
9 Nghị định 22/2018/NĐ – CP ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan
10 Nghị định 100/2006/NĐ – CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan
11 Nghị định số 31/2001/NĐ – CP ngày 26 tháng 6 năm 2001 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa – thông tin
12 Nghị định số 85/2011/NĐ – CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 100/2006/NĐ – CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả
và quyền liên quan
Sách, giáo trình, tạp chí và các tài liệu tham khảo khác
1 Trường Đại học Luật Hà Nội Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam Nxb Công an
nhân dân Hà Nội – 2009
2 TS Vũ Thị Hải Yến & TS Lê Đình Nghị (chủ biên) Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ
Nxb Giáo dục Việt Nam Hà Nội – 2009
3 Như Ý (chủ biên) Từ điển Tiếng Việt thông dụng Nxb Giáo dục Hà Nội – 2009
4 Vũ Thị Phương Lan Bảo hộ quyền sở hữu tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật
dân gian theo pháp luật Việt Nam – Một số bất cập về lí luận và giải pháp Tạp chí luật
học số 11/2006
5 TS Vũ Mạnh Chu Bảo hộ Di sản Văn học Nghệ thuật dân gian Việt Nam
6 Nguyễn Thị Triển Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học dân gian theo pháp
luật Việt Nam Luận văn thạc sĩ Luật học Trường Đại học quốc gia Hà Nội Khoa Luật
Hà Nội – 2013
7 Nguyễn Thị Hà Anh Văn hóa biển trong văn hóa dân gian truyền thống Hải Phòng
Luận văn thạc sĩ văn học Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nôi – 2010
8 Đinh Phú Ngà Tản mạn lễ hội chọi trâu Đồ Sơn Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội –
2003
Các website
1 http://www.nguoiduatin.vn/truyen-che-doc-duoc-giet-gioi-tre-a8327.html
2 tra-tien-tac-quyen-khi-su-dung-tac-pham-van-hoa-dan-gian.html
http://www.kenfoxlaw.com.vn/tin-tuc-so-huu-tri-tue/ban-quyen-tac-gia/1534-van-de-3 thi-truong-va-toan-cau-hoa-doi-voi-xay-dung-doi-song-van-hoa
http://www.tuyengiao.vn/Home/Tuyen-truyen/18725/Tac-dong-hai-mat-cua-kinh-te-4 cong-gioi-tre-bai-1-2176705/
http://www.baodongnai.com.vn/phongsukysu/201208/lan-song-van-hoa-han-quoc-tan-5
https://nld.com.vn/van-nghe/hien-dai-hoa-tranh-truyen-thong-20180302215836546.htm
https://tuoitre.vn/quyen-tac-gia-trong-vhnt-dan-gian-con-nhieu-tranh-cai-112054.htm