1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

thu hoach kinh tế chính trị

11 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 32,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH NGHỆ AN TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN Chủ đề Vận dụng lý luận về hai thuộc tính của hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa tại địa p.

Trang 1

TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH NGHỆ AN

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

Chủ đề: Vận dụng lý luận về hai thuộc tính của hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của

hàng hóa tại địa phương đồng chí hiện nay.

Họ và tên : Nguyễn Thành Đạt Đơn vị công tác : Trường THPT Quỳ Châu

Nghệ An, tháng 10 năm 2021

Trang 2

TIỂU LUẬN

Môn: Kinh tế chính trị Mác - Lênnin

Họ tên học viên: Nguyễn Thành Đạt

Lớp: Trung cấp LLCT K51.3

Chữ ký GVC 1:

………

Chữ ký GVC 2: ………

Điểm Bằng số: ……… Bằng chữ: ……….

Chủ đề: Vận dụng lý luận về hai thuộc tính của hàng hóa để đưa ra các giải pháp

nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa tại địa phương đồng chí hiện nay

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá

ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của lịch sử loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội Với những thuộc tính của mình hàng hoá giữ một vai trò quan trọng trong sản xuất và lưu thông hàng hoá là một “tế bào kinh tế” của xã hội tư bản ” Có nền kinh tế hàng hoá thì tất nhiên tồn tại cạnh tranh cạnh tranh là quy luật bắt buộc của nền kinh tế hàng hoá” vì vậy việc nghiên cứu về hai thuộc tính của hàng hóa và vận dụng lý thuyết về hai thuộc tính hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa là một việc quan trong có ý nghĩa lí luận và thực tiễn đối với quá trình cạnh tranh Đặc biệt việc nắm vững những lí luận về lượng giá trị của hàng hoá có vai trò quan trọng góp phần vận dụng một cách hiệu quả vào quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện nay trên địa bàn tỉnh Nghệ

An nói chung và huyện Qùy Châu nói riêng

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này và bằng kiến thức thu được qua môn học Chủ nghĩa Mác - Lênin, tôi xin trình bày chủ đề “Vận dụng lý luận về

2 thuộc tính của hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa tại địa phương đồng chí hiện nay ”

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG

I HÀNG HÓA VÀ CÁC THUỘC TÍNH CƠ BẢN CỦA HÀNG HÓA.

1.1.Khái niệm hàng hóa

Hàng hoá là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng hoá, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hoá khi nó là đối tượng mua bán trên thị trường Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn mong muốn, nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi hay mua bán Hàng hóa có thể ở dạng:

- Hàng hóa hữu hình: lương thực, quần áo, tư liệu sản xuất…

- Hàng hóa vô hình (hàng hóa dịch vụ): dịch vụ vận tải, dịch vụ chữa bệnh… Khi nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác bắt đầu bằng sự phân tích hàng hóa Điều này bắt nguồn từ các lý do sau:

- Thứ nhất, hàng hóa là hình thái biểu hiện phổ biến nhất của của cải trong xã hội tư bản C.Mác viết: "Trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của cải xã hội biểu hiện ra là một "đống hàng hóa khổng lồ"

- Thứ hai, hàng hóa là hình thái nguyên tố của của cải, là tế bào kinh tế trong

đó chứa đựng mọi mầm mống mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Thứ ba, phân tích hàng hóa nghĩa là phân tích giá trị - phân tích cái cơ sở của tất cả các phạm trù chính trị kinh tế học của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Nếu không có sự phân tích này, sẽ không thể hiểu được, không thể phân tích được giá trị thặng dư là phạm trù cơ bản của chủ nghĩa tư bản và những phạm trù khác như lợi nhuận, lợi tức, địa tô,

1.2 Các thuộc tính cơ bản của hàng hóa.

Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhưng một vật phẩm sản xuất ra khi đã mang hình thái là hàng hóa thì đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị

1.2.1 Giá trị sử dụng.

- Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Ví dụ: Giá trị sử dụng của cơm là để ăn, của áo là để mặc, của máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu là để sản xuất Và ngay mỗi một vật cũng có thể có nhiều thuộc tính tự nhiên khác nhau, do đó nó có nhiều giá trị sử dụng hay

Trang 5

công dụng khác nhau: gạo có thể dùng nấu cơm, nhưng gạo cũng có thể dùng làm nguyên liệu trong ngành rượu, bia hay chế biến cồn y tế

Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học - kỹ thuật

- Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cái đó như thế nào C.Mác chỉ rõ: Chỉ có trong việc sử dụng hay tiêu dùng, thì giá trị sử dụng mới được thể hiện

Con người ở bất kỳ thời đại nào cũng đều cần đến các giá trị sử dụng khác nhau của vật phẩm để thỏa mãn những nhu cầu muôn vẻ của mình

Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hóa Chẳng hạn, không khí rất cần cho cuộc sống con người nhưng không phải là hàng hóa Nước suối, quả dại cũng có giá trị sử dụng, nhưng cũng không phải là hàng hóa Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó phải là vật được sản xuất ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là vật đó phải có giá trị trao đổi Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi

1.2.2 Giá trị hàng hóa.

Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi C.Mác viết: "Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo

đó những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác"

Ví dụ: 1 mét vải = 10 kg thóc

Vấn đề đặt ra là, tại sao vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau lại có thể trao đổi được với nhau, hơn nữa chúng lại trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định Khi hai hàng hóa khác nhau là vải và thóc có thể trao đổi được với nhau, thì phải có một cơ sở chung nào đó: Cái chung đó không phải là giá trị sử dụng, tuy sự khác nhau về giá trị sử dụng của chúng là điều kiện cần thiết của sự trao đổi Song, cái chung đó phải nằm ở cả hai hàng hóa Nếu gạt giá trị sử dụng của sản phẩm sang một bên, thì giữa chúng chỉ có một cái chung: chúng đều là sản phẩm của lao động Để sản xuất ra vải và thóc, nguời thợ thủ công và người nông dân đều phải hao phí lao động để sản xuất ra chúng Hao phí lao động là cơ sở chung để so sánh vải với thóc, để trao đổi giữa chúng với nhau

Trang 6

Sở dĩ phải trao đổi theo một tỷ lệ nhất định, (1m vải = 10kg thóc), vì người ta cho rằng lao động hao phí sản xuất ra lm vải bằng lao động hao phí để sản xuất ra 10kg thóc Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa ẩn giấu trong hàng hóa chính

là giá trị của hàng hóa Từ sự phân tích trên, rút ra kết luận: giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa

1.3 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá.

Hai thuộc tính của hàng hoá có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau

1.3.1.mặt thống nhất.

Hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hoá Nếu một vật

có giá trị sử dụng (tức có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người, xã hội), nhưng không có giá trị (tức không do lao động tạo ra, không có kết tinh lao động) như không khí tự nhiên thì sẽ không phải là hàng hoá Ngược lại, một vật có giá trị (tức có lao động kết tinh), nhưng không có giá trị sử dụng (tức không thể thoả mãn nhu cầu nào của con người, xã hội) cũng không trở thành hàng hoá

1.3.2 mặt đối lập.

Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hoá khác nhau về chất (vải mặc, sắt thép, lúa gạo…) Nhưng ngược lại, với tư cách là giá trị thì các hàng hoá lại đồng nhất về chất, đều là “những cục kết tinh đồng nhất của lao động mà thôi”, tức đều là sự kết tinh của lao động, hay là lao động đã được vật hoá ( vải mặc, sắt thép, lúa gạo… đều do lao động tạo ra, kết tinh lao động trong đó)

Thứ hai, quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng có sự tách rời nhau cả về mặt không gian và thời gian

-Giá trị được thực hiện trong lĩnh vực lưu thông và thực hiện trước

-Giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng

Người sản xuất quan tâm tới giá trị, nhưng để đạt được mục đích giá trị bắt buộc họ cũng phải chú ý đến giá trị sử dụng, ngược lại người tiêu dùng quan tâm tới giá trị

sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình

Nhưng muốn có giá trị sử dụng họ phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Nếu không thực hiện giá trị sẽ không có giá trị sử dụng Mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng

và giá trị hàng hoá cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa

II CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA

HÀNG HÓA TẠI HUYỆN QUỲ CHÂU HIỆN NAY.

2.1.Thực trạng sản xuất hàng hóa tại huyện Qùy Châu hiện nay.

Quỳ Châu nằm trong vùng kinh tế Phủ Quỳ, trung tâm của miền Tây Bắc Nghệ An Huyện có nhiều thuận lợi để phát triển sản xuất và chế biến nông lâm sản, khai thác khoáng sản và tiềm năng du lịch Địa hình của huyện khá phức tạp

Trang 7

khi có hơn 72% diện tích ở độ cao trên 200 m so với mặt nước biển, bị chia cắt bởi mạng lưới sông suối dày đặc Đây là khó khăn cho Quỳ Châu trong phát triển kinh

tế - xã hội mà trước hết là hạn chế khả năng giao lưu giữa các xã trong huyện và

mở mang diện tích đất nông nghiệp

Trong thời gian qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức (do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, suy thoái kinh tế ), nhưng sản xuất hàng hóa ở huyện Quỳ Châu đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất

cả các lĩnh vực Tốc độ tăng trưởng đạt và duy trì ở mức khá, cơ cấu kinh tế nội ngành được chuyển dịch theo hướng tích cực

Sản xuất nông nghiệp chuyển nhanh sang nông nghiệp hàng hóa, nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích, đảm bảo an ninh lương thực và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu; phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại, gia trại, công nghiệp, gắn với chế biến và ứng dụng công nghệ cao

Huyện đã hình thành được nhiều vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu như: Vùng nguyên liệu vùng mía nguyên liệu 3.000 ha ở các

xã Châu Bình, Châu Hội, Châu Hạnh, Châu Bính ) vùng keo nguyên liệu 18 000 ha; vùng nuôi trang trại bò cỏ ( Trang trại anh Đạt Hà – Châu Hội, anh Hoài – Châu Hạnh, anh Hùng – Châu Phong) vịt bầu ( trang trại anh Diệu – Châu Tiến)

2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc sản xuất hàng hóa:

2.2.1 Thuận lợi:

- Sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công:

Ngành tiểu thủ công nghiệp với các nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, đan lát thủ công, hương trầm, tuy chưa phát triển mạnh, nhưng phần nào đã mang lại thu nhập cho nhiều hộ dân trong huyện Các ngành thủ công nghiệp đã và đang ngày càng được phát triển, mở rộng về quy mô và nâng cao chất lượng sảnphẩm tạo ra

- Kết cấu hạ tầng

Mặc dù, trong những năm qua, bức tranh kinh tế của Quỳ Châu đã khởi sắc, nhưng cơ bản Quỳ Châu vẫn là huyện nghèo, Mở rộng các hình thức thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế Nổi bật là Dự án Phát triển nông thôn đa lĩnh vực của Chính phủ Bỉ với số vốn đầu tư 3,6 triệu EURO và các dự án nhỏ NGO của các tổ chức phi chính phủ, tạo cơ chế thu hút nguồn vốn trong nước để thúc đẩy nhiều ngành nghề phát triển tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động Từ năm 1996 đến năm 2004, trên địa bàn huyện, hàng chục tỷ đồng đã được đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản

- Tiến tới xây dựng nền kinh tế bền vững

Trang 8

Nằm ở trung tâm kinh tế vùng Tây Bắc của tỉnh,có nguồn lao động khá dồi dào, với 23,5 nghìn người ở độ tuổi lao động (chiếm 46%) có thể đáp ứng nhu cầu lao động tại chỗ Tài nguyên khoáng sản quý hiếm (đá quý, vàng, quặng) và nguồn vật liệu xây dựng nhiều như: đá vôi, đá trắng, cát, sỏi, sét, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu, tiềm năng để phát triển lâm nghiệp do có diện tích rừng lớn Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao Giao thông ngày càng thuận tiện, đảm bảo sự giao lưu kinh tế văn hoá giữa các vùng trong huyện

Tuy vậy, việc phát triển còn nhiều hạn chế như: sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa tạo ra được các chùm và chuỗi sản phẩm có giá trị gia tăng cao Để sản xuất hàng hóa phát triển hiệu quả, bền vững và cạnh tranh cần tiếp tục triển khai nhiều giải pháp đồng bộ

2.2.2 Khó khăn:

- Về vốn đầu tư: Quỳ Châu là một huyện nghèo chưa thu hút được vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước Chủ yếu còn dựa vào nguồn đầu tư của nhà nước

- Sản xuất hàng hóa tuy tăng trưởng khá, nhưng thiếu bền vững, chưa khai thác và phát huy tốt tiềm năng, lợi thể của huyện nhà; cơ cấu Sản xuất hàng hóa chuyển dịch chậm, Sản xuất hàng hóa thông qua trồng trọt vẫn còn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu chung (chiếm tỷ trọng 52%) Kết cấu kinh tế nông thôn vẫn chủ yếu là thuần nông (sản xuất hàng hóa từ nông nghiệp chiếm trên 80%)

- Quy mô hàng hoá nông sản xuất khẩu còn nhỏ bé; kim ngạch xuất khẩu bình quân theo đầu người đạt thấp so với mức bình quân chung của cả nước Quỳ Châu chưa có mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, chưa tạo ra được chùm hoặc các chuỗi nông sản có gia trị gia tăng cao

- Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, các hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả chưa cao Kinh tế hợp tác phát triển rất chậm, chưa đóng vai trò mong đợi trong hỗ trợ hoạt động sản xuất của nông hộ và vai trò liên kết trong tổ chức sản xuất của hộ với các chuỗi sản phẩm và giá trị nông sản, sản xuất với các doanh nghiệp và chế biến

- Nông thôn chưa có nhiều chuyển biến rõ nét, đời sống của một bộ phận nông dân chậm được cải thiện Mặc dù tỷ lệ người nghèo giảm nhanh và đáng kể trong thời gian qua nhưng nhìn chung vẫn còn tỷ lệ cao và thiếu bền vững, dễ tái nghèo, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

2.3 Một số giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa tại huyện Qùy Châu.

Trang 9

Để khắc phục những hạn chế trên, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa tại Qùy Châu thời gian tới cần chú trọng triển khai các giải pháp sau:

2.3.1 Nâng cao chất lượng sản xuất hàng hóa.

Thứ nhất, nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi các quy trình, kỹ thuật tiên tiến, đẩy

mạnh đưa cơ giới hoá vào sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Ứng dụng quy trình cơ giới hoá đồng bộ (từ khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến); quy trình thâm canh lúa, ngô, lạc từ giống, đầu tư thâm canh; ứng dụng công nghệ cao vào phát triển các vùng sản xuất tập trung các sản phẩm có lợi thế của huyện, mở rộng diện tích vùng mía nguyên liệu

Phát triển các trang trại chăn nuôi bò, vịt bầu, ếch, gà quy mô công nghiệp, từng bước mở rộng chăn nuôi hộ gia đình theo mô hình liên kết với các doanh nghiệp thu mua chế biến Ứng dụng công nghệ cao vào phát triển chăn nuôi, kiểm soát và chăn nuôi an toàn dịch bệnh, xử lý chất thải trong chăn nuôi bằng công nghệ khí sinh học, sử dụng men vi sinh nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, Tập trung hướng dẫn, khuyến khích mở rộng diện tích rừng trồng keo theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững (FSC), phát triển dược liệu gắn với bảo vệ rừng bền vững ( rễ hương, nghệ, chè hoa vàng, sắn dây rừng…)

Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng

cao năng lực và chất lượng sản xuất hàng hóa

Ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, đổi mới công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại Gắn sản xuất với công nghiệp chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị để nâng cao giá trị gia tăng đối với các sản phẩm có lợi thế của huyện như: mía, lạc, lúa gạo; các sản phẩm chăn nuôi như bò cỏ, vịt bầu, lợn

cỏ, gà đồi…, lâm nghiệp, dược liệu ( rễ hương, nghệ, chè hoa vàng, săn dây rừng…)

Thứ ba, tiếp tục đổi mới tổ chức sản xuất trong các vùng sản xuất nguyên liệu

chế biến theo chuỗi sản sản phẩm và chuỗi giá trị, trên cơ sở phát triển liên kết, liên doanh với vai trò doanh nghiệp chế biến làm nòng cốt theo hướng hình thành và phát triển các chuỗi giá trị gia tăng cao và bền vững

Thứ tư, quan tâm đầu tư xây dựng và cải tạo nâng cấp các tuyến đường giao

thông trong các vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất, vận chuyển nguyên liệu về các nhà máy chế biến Phát triển hệ thống thủy lợi tưới tiêu chủ động cho vùng màu; Khuyến khích tưới cho cây công nghiệp, cây ăn quả tập trung nếu có điều kiện Tiếp tục xây dựng hệ thống vườn ươm sản xuất cây giống, con giống, đảm bảo đủ

số lượng, chất lượng các loài cây, con

Trang 10

Thứ năm, nâng cao năng lực và trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý điều hành,

gắn với đào tạo cán bộ chuyên môn như: khuyến nông, bảo vệ thực vật để có thể tiếp cận và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân Hàng năm có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho người nông dân theo từng vùng, từng địa bàn, từng lĩnh vực sản xuất thông qua chương trình khuyến nông, khuyến lâm, tập huấn; trang bị cho người dân kiến thức liên kết, hợp tác trong sản xuất và đào tạo kỹ thuật

2.3.2.Đẩy mạnh lưu thông hàng hóa.

Tăng cường xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu hàng nông sản của huyện, thông qua các kênh thông tin, triển lãm, các hội chợ, đặc biệt chú trọng ở các thị trường có thị phần lớn hiện nay là Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu Quỳ Châu thực hiện xúc tiến thương mại Kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh, ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, tổ chức sản xuất, thu mua và tiêu thụ nguyên liệu có hiệu quả

Ngày đăng: 20/09/2022, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w