1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ đề 6: VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

31 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 202,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ đề 6: VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAMA.MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU Trang bị cho người học những kiến thức cần thiết về văn hóa tộc người, văn hóa các tộc người ở Việt Nam; thực trạng và giải pháp

Trang 1

Chủ đề 6: VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

A.MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

Trang bị cho người học những kiến thức cần thiết về văn hóa tộc người, văn hóa các tộc người ở Việt Nam; thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của các tộc người trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam Làm cơ sở cho học tập, nghiên cứu tại trường, cũng như quá trình thực hành công tác sau này.

B NỘI DUNG

I TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI.

II VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM.

III THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM HIỆN NAY.

C THỜI GIAN: 4 tiết

D PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

- Thuyết trình, nêu ví dụ chứng minh, diễn giải, pháp vấn

- Sử dụng phương tiện trình chiếu (nếu có)

E TÀI LIỆU THAM KHẢO

Giáo trình Dân tộc hoc, Nxb QĐND H 2001

Dân tộc học đại cương, Nxb Giáo dục H 1997

Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb GD, H 1998

Đặng Ngiêm Vạn, Văn hóa Việt Nam đa tộc người, Nxb GD, H 2009

Trang 2

VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

I TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI

1 Khái niệm.

* Văn hóa và văn hóa tộc người.

Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Không có văn hóa ngoài xã hội loài người và cũng không có loài người không có văn hóa Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm văn hóa đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau:

- Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.

VD: kho tàng văn hóa dân tộc, văn hóa phương Đông, nền văn hóa cổ…

- Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần.

VD: phát triển văn hóa, công tác văn hóa

- Nói đến văn hóa là nói đến tri thức, kiến thức khoa học.

VD: học văn hóa, trình độ văn hóa

- Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh.

VD: sống có văn hóa, ăn nói thiếu văn hóa

- Nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau.

VD: văn hóa rìu hai vai, văn hóa gốm màu, văn hóa Đông sơn

Do vị trí của Văn hóa trong cuộc sống, nên Văn hóa được nhiều người quan tâm nghiên cứu và đưa ra hàng trăm định nghĩa về Văn hóa Dưới góc độ Dân tộc học, ý

kiến được nhiều tác giả trích dẫn tham khảo là của E.B.Tylor (1832 – 1917, người

Anh) trong tác phẩm “ Văn hóa nguyên thủy – 1871”:

“ Văn hóa hay văn minh, dưới góc độ dân tộc học được xem là tổng thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, các quy tắc đạo đức, luật lệ, phong tục và bất cứ kỹ năng hay thói quen do con người, với tư cách là động vật xã hội, tạo ra và lĩnh hội thông qua quá trình học ”.

Trang 3

+ Chưa phân biệt được Văn hóa với văn minh.

+ Chưa nêu được cụ thể Văn hóa và văn minh có bao gồm toàn bộ các tri thức văn hóa vật chất, tinh thần, và xã hội hay không.

+ Chưa khẳng định được Văn hóa chỉ tồn tại ở xã hội loài người hay còn tồn tại ở những loài động vật khác.

Tuy còn những hạn chế, đây vẫn được xem là định nghĩa khoa học đầu tiên về Văn hóa Từ đó, đối tượng Văn hóa được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc

độ của nhiều ngành khoa học khác nhau, rộng hẹp khác nhau, nên có đến hàng trăm định nghĩa về văn hóa

Năm 1952, A.L Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách “Culture, a critical review of concept anddefinitions” (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa), trong đó tác giả đã trích lụckhoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau Điều này cho thấy, kháiniệm “Văn hóa” rất phức tạp

Đối với ngành Dân tộc học Việt Nam, đa số các nhà nghiên cứu đều đi đến thống nhất, Văn hóa thường được hiểu theo 2 nghĩa:

Theo nghĩa hẹp (Trường chinh trong tác phẩm: Chủ nghĩa Mác và văn hóa

Việt Nam): “Văn hóa là một vấn đề rất lớn, bao gồm cả văn học, nghệ thuật, khoa học, triết học, phong tục, tôn giáo…” nghĩa là văn hóa tinh thần.

Theo nghĩa đầy đủ (như cách hiểu của Hồ Chí Minh): “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công

cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa ” Như vậy văn hóa sẽ bao gồm

Trang 4

toàn bộ toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra, bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.

Định nghĩa thứ hai này đáp ứng với đối tượng của ngành Dân tộc học.

Thuật ngữ văn hóa mà chúng ta thường dùng không phải xuất phát từ thuật ngữ Văn hóa của Trung Hoa cổ

xưa, mà xuất phát từ thuật ngữ la-tinh cultura, nghĩa gốc là trồng trọt Năm 45 tr.CN Cicéron một chính trị gia nổi

tiếng, trong tác phẩm Les Tusculanes mở rộng nội dung văn hóa theo hai nghĩa:

1 Vẫn dùng theo nghĩa đen là trồng trọt các loài cây (cultura agri).

2 Theo nghĩa bóng là trồng trọt các linh hồn (cultura animi, animi là linh hồn – âme) tức là trồng trọt tinh thần (có thể nói như Hồ Chí Minh là trồng người).

Từ đấy, xuất hiện một quan niệm ngắn gọn và đầy đủ nhất được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa nước ta tríchdẫn tuy với những diễn đạt hơi khác nhau: Văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo ra, là nhân hóa Văn hóa làtất cả những gì không phải của tự nhiên Văn hóa là cái phân biệt con người với các sinh vật khác, là cái phần môitrường do con người tạo ra Văn hóa là đối lập với tự nhiên…

Riêng Nguyễn Đức Từ Chi xem xét Văn hóa từ hai góc độ:

- Góc độ hẹp – góc nhìn báo chí: Văn hóa là kiến thức của con người và xã hội Nhưng, ông không mặn mà với cách hiểu này vì hiểu như thế thì người nông dân cày ruộng giỏi nhưng không biết chữ vẫn bị xem là “ không có văn

hóa” do tiêu chuẩn văn hóa ở đây là tiêu chuẩn kiến thức sách vở Ngày nay, văn hóa dưới góc nhìn “báo chí” đã

hướng về lối sống hơn là về kiến thức (mà theo tác giả là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội)

- Góc độ rộng hay “góc nhìn dân tộc học”: Với góc nhìn này, văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống – cả

vật chất, xã hội, tinh thần – của từng cộng đồng; và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau nếu nó đượchình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau Văn hóa sẽ bị chi phối mạnh mẽbởi sự kiểm soát của xã hội thông qua gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo

Văn hóa gắn liền với dân tộc tộc người, nên thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu Việt Nam và kể cả nước ngoài thường vận dụng ý kiến của Feredico Mayor, tổng giám đốc UNESCO phát biểu trong buổi lễ phát động Thập niên thế

giới phát triển Văn hóa được tổ chức ở Paris ngày 21/01/1988: Văn hóa phản ánh

và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt cuộc sống của con người đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ,

nó cấu thành một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình.

Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng Mỗi định nghĩa

đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa Như định nghĩa của Tylor và của Hồ Chí Minh thì xem văn hóa là tập hợp những thành tựu mà con người đạt được trong quá trình tồn tại và phát triển, từ tri thức, tôn

Trang 5

giáo, đạo đức, ngôn ngữ,… đến âm nhạc, pháp luật… Còn các định nghĩa của Nguyễn Đức Từ Chi, tổ chức UNESCO… thì xem tất cả những lĩnh vực đạt được của con người trong cuộc sống là văn hóa Trên cơ sở đó, bộ môn Nhân học – ĐHQGHN đã xác định một khái niệm văn hóa riêng nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dự liệu khi nghiên cứu Định nghĩa này được đa số các nhà Dân tộc học thừa nhận:

Văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách của từng tộc người Nhờ có văn hóa

mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng.

- Văn hóa là sản phẩm của con người:

- Được chi phối bởi môi trường tự nhiên và xã hội:

- Phụ thuộc vào tính cách của từng tộc người:

- Là tiêu chí để xác định tộc người:

* Lớp văn hóa:

Về cơ bản, khi nghiên cứu văn hóa tộc người, người ta thường xem xét dưới 3 lớp:

- Lớp thứ nhất, hay được đề cập nhất, giúp phân biệt xã hội bạn đang sống với xã hội khác.

Ví dụ như khi nói đến văn hóa Nhật hay Trung Quốc, người ta thường đề cập đến một cộng đồng nói chungmột ngôn ngữ, có chung truyền thống, tín ngưỡng làm cho cộng đồng đó khác và riêng biệt với cộng đồng khác.(Việt Nam – Pháp)

- Lớp thứ hai, thường được đề cập đến như là tiểu văn hóa hay là văn hóa nhóm.

Hiện tượng này thường được thấy trong các xã hội đa sắc tộc, trong đó cư dân đến từ nhiều vùng khác nhau,

và họ thường gìn giữ một phần văn hóa truyền thống của họ: ngôn ngữ, truyền thống, thức ăn…Bản sắc riêng nàytách biệt họ ra khỏi phần còn lại của xã hội Ví dụ điển hình cho lớp văn hóa này là xã hội Mỹ gồm nhiều sắc tộcdân di cư Khi mà sự khác biệt hay ranh giới văn hóa giữa các thành viên của tiểu văn hóa và các thành viên của vănhóa đa số mờ đi và cuối cùng biến mất, thì các tiểu văn hóa sẽ không còn tồn tại, đó là khi các tiểu văn hóa bị vănhóa đa số đồng hóa

Trang 6

- Lớp thứ 3 là tập hợp của các khuôn mẫu hành vi có được thông qua quá trình học chỉ tồn tại trong xã hội loài người.

VD: khả năng ngôn ngữ, hôn nhân, gia đình…

2 Đặc điểm của Văn hóa tộc người.

Dưới góc độ Dân tộc học, văn hóa tộc người được nhìn nhận như một hệ thống các giá trị, niềm tin và quan điểm được chia sẻ và truyền thụ trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của từng tộc người; nó ảnh hưởng tới và góp phần định hình nhận thức, chi phối hành vi của các thành viên trong cộng đồng tộc người Do

đó văn hóa tộc người có các đặc điểm sau:

- Tính truyền thụ: các giá trị văn hóa được người này, thế hệ này truyền cho

người khác, thế hệ khác Nó không phải do di truyền sinh học mà được truyền lại

và tiếp nhận giữa các thế hệ

- Được chia sẻ giữa các thành viên trong tộc người (trong nền văn hóa đó):

không một cá nhân đơn lẻ nào có thể xây dựng được cả một nền văn hóa.

- Tính khuôn mẫu: các thành viên của cùng một tộc người tư duy và sống theo

những khuôn mẫu nhất định.

- Được cộng đồng xây dựng: Tất cả các thành viên trong tộc người tham gia vào

quá trình xây dựng văn hóa thông qua quá trình tương tác với các thành viên khác.

- Tính biểu tượng: văn hóa, tư tưởng và ngôn ngữ được xây dựng dựa trên các

biểu tượng và ý nghĩa đi kèm

- Phi tự nhiên (nhân tạo): không phụ thuộc vào quy luật tự nhiên, ngược lại

do con người – với tư cách là thành viên tộc người xây dựng.

VD: tiêu chuẩn về cái đẹp ở mỗi nền văn hóa là khác nhau.

3 Chức năng của Văn hóa tộc người.

Từ những khái niệm cơ bản về Văn hóa tộc người, các nhà nghiên cứu Dân tộc học cho rằng chức năng cơ bản, bao trùm cốt lõi nhất của Văn hóa tộc người là

duy trì sự tồn tại và phát triển của tộc người Vì:

Trang 7

- Văn hóa cung cấp tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm…cho con người trong các hoạt động lao động sản xuất và sinh hoạt ( thể hiện trong thái độ, hành vi cách ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên – xã hội).

- Văn hóa là chất keo, sợi dây liên kết để cố kết các thành viên trong tộc người.

- Văn hóa là nền tảng để các tộc người khẳng định sự tồn tại của mình trong mối quan hệ với tộc người khác.

- Văn hóa là cơ sở để các tộc người hòa nhập và phát triển bền vững trong một môi trường toàn cầu hóa đa tộc người, đa văn hóa.

Trên cơ sở chức năng duy trì sự tồn tại và phát triển của tộc người, Văn hóa tộc người có 3 nhiệm vụ chính:

- Bảo tồn bản sắc Văn hóa tộc người để chống lại những ảnh hưởng có tính

áp đặt hoặc có tính lấn át.

+ Các tộc người bảo lưu những giá trị truyền thống của mình bằng nhiều hình thức khác nhau, chủ yếu thông qua kho tàng Văn học (dân gian, viết): các pho truyền thuyết, các bộ sử thi, các áng truyện thơ và kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca…(với các tác phẩm đặc sắc như: Khảm hải, Nam Kim Thị Đan của người Tày; Đẻ đất đẻ nước của người Mường; Sóng chụ xon sao của người Thái; Đam săn, Xing nhã của người Ê-đê) và trong cả tín ngưỡng, lễ hội dân gian.

+ Qua hoạt động bảo tồn, làm cho Văn hóa tộc người không bị đứt mạch mà

có sự kế thừa phát triển liên tục qua nhiều thế hệ trong suốt chiều dài lịch sử của tộc người.

+ Bảo tồn được các giá trị Văn hóa truyền thống là nền tảng để trên cơ sở đó

tiếp thu cái mới một cách chủ động theo hướng gạn đục khơi trong.

- Chọn lọc các yếu tố Văn hóa ngoại tộc để làm giàu thêm cho văn hóa tộc người.

+ Giao lưu, hội nhập, tiếp thu giá trị văn hóa mới để làm giàu bản sắc văn hóa tộc người là xu thế tất yếu.

+ Quá trình chọn lọc các yếu tố văn hóa ngoại tộc để làm giàu thêm cho văn hóa tộc người mình diễn ra dựa trên hai tiêu chuẩn:

Trang 8

Một là: chọn lọc những cái mới, cái có ý nghĩa phát triển chứ không phải cái

lạ (cái lạ có khi lại cản trở sự phát triển)

VD: hiện tượng nhạc Rok – cái mới có ý nghĩa phát triển – làm cho con người (giới trẻ) năng động hơn, đápứng được lối sống hiện đại Nhưng hiện tượng “ lắc” lại là cái lạ kìm hãm sự phát triển, làm suy thoái cả về thể chất

và tinh thần, có thể còn làm băng hoại cả một thế hệ nếu như không được ngăn chặn kịp thời

Hai là: chọn lọc những cái có thể tạo nên sự hài hòa, hội nhập một cách tự

nhiên.

Bản thân Văn hóa – bằng các hệ giá trị truyền thống bền vững, được hình thành trong suốt lịch sử phát triểncủa mỗi tộc người, nó tạo ra sức đề kháng cho mỗi tộc người trong quá trình dung nạp, dung chấp, tiếp nhận cái mới

và đào thải cái lạ không thể cùng chung sống được

- Điều tiết đời sống Văn hóa cộng đồng vừa tương đồng ổn định bền vững, vừa giao lưu hội nhập và phát triển.

+ Một nền Văn hóa bao giờ cũng hàm chứa nhiều yếu tố, trong đó yếu tố Văn hóa tộc người là một trong những yếu tố quan trọng của nền Văn hóa có nhiều thành phần tộc người như nền Văn hóa Việt Nam.

+ Văn hóa tộc người có vai trò quan trọng trong việc khẳng định bản sắc Văn hóa dân tộc ( trong một nền văn hóa đa tộc người)

+ Bằng huyền thoại, truyền thuyết, hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo, bằng hệ thống giá trị… định hướng lối sống, hành vi, cách ứng xử của con người trong mối quan hệ nội tại tộc người và mối quan hệ với các tộc người xung quanh Qua đó điều tiết đời sống văn hóa cộng đồng vừa bảo lưu giá trị truyền thống, vừa hội nhập và phát triển ( thái độ, hành vi, cách ứng xử của con người, của bản thân mỗi tộc người quy định cách thức, cường độ, nhịp điệu, mức độ bảo lưu và hội nhập…) + Trên nền Văn hóa chung của một quốc gia đa tộc người, sự tồn tại của bản sắc Văn hóa tộc người tạo nên sự đa dạng phong phú, vừa có yếu tố phổ biến, vừa

có yếu tố đặc thù.

+ Nền Văn hóa riêng của mỗi tộc người đã trở thành những thành phần hữu cơ của nền Văn hóa Việt Nam Thông qua sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người để tạo nên sự liên kết và điều tiết của Văn hóa tộc người đối với nền Văn hóa dân tộc.

4 Phân loại thành phần văn hóa tộc người.

Trang 9

Văn hóa một dân tộc, một tộc người là một tổng thể những đặc trưng của đời sống vật chất, tinh thần, tri thức, tình cảm khắc họa nên bản sắc của một dân tộc, một tộc người Nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, một tộc người cần phải chỉ ra cấu trúc (phân loại văn hóa tộc người thành những thành phần khác nhau) để trình bày Có nhiều cách phân loại, mỗi tác giả thường lựa chọn cách phân loại nào tốt nhất tùy thuộc vào yêu cầu, mục đích nghiên cứu của bản thân.

Theo Trần Ngọc Thêm: Văn hóa bao gồm:

- Văn hóa nhận thức

- Văn hóa tổ chức đời sống (tập thể và cá nhân)

- Văn hóa ứng xử (với môi trường tự nhiên,môi trường xã hội)

Theo Trần Quốc Vượng: Văn hóa gồm

- Văn hóa sản xuất

- Văn hóa vũ trang

- Văn hóa sinh hoạt

Gần đây có tác giả chia Văn hóa thành hai bộ phận:

- Văn hóa ngôn ngữ: gồm ngôn ngữ và các thành quả của ngôn ngữ như văn tự, văn học, các nghệ thuật nói,các khái niệm đạo đức, tình cảm…

- Văn hóa phi ngôn ngữ: bao gồm những sáng tạo còn lại

Theo các nhà Dân tộc học, các cách phân loại trên tuy có ưu điểm là: Đều dựa trên hệ thống giá trị của Văn hóa hướng về mục đích phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của bản thân cộng đồng để phân loại Tuy nhiên có một số hạn chế như: chưa đầy đủ, thiên về văn hóa phi vật thể, có trường hợp phân chia thiếu tính hệ thống thống nhất (TQV), có trường hợp tiêu chí phân chia tạo ra sự trùng lặp ở một

số bộ phận và chưa thực sự rõ ràng

Gần đây, UNESCO phân chia thành Văn hóa vật thể và Văn hóa phi vật thể Do đề cao Văn hóa phi vật thể,coi đó là phần biểu hiện cái đẹp, cái phong phú, cái đặc trưng của dân tộc hay tộc người…Tuy nhiên trong thực tếkhó tách rời phần vật thể hay phi vật thể

Đối với các nhà dân tộc học, với mục đích làm nổi bật đặc trưng Văn hóa của một tộc người, tạo ra cơ sở, tiêu chí để phân định tộc người nên hệ thống Văn hóa thường được chia thành 3 bộ phận chính:

- Văn hóa vật chất: bao gồm các hình thức sản xuất hay hình thức kinh tế,

cung cách ăn, ở mặc, đi lại, trao đổi…

Trang 10

- Văn hóa xã hội: bao gồm các lĩnh vực hôn nhân, gia đình, tổ chức xã hội

trong đó lưu ý đến vấn đề sở hữu, quan hệ sản xuất.

- Văn hóa tinh thần: bao gồm các lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng, tri thức cộng

đồng, văn học nghệ thuật, vui chơi giải trí…

Đây là cách phân loại truyền thống của ngành Dân tộc học, do đó trong quá trình xác định hệ giá trị văn hóa của các tộc người ở Việt Nam ta sẽ sử dụng cách phân loại này

* Một số điểm lưu ý khi nghiên cứu Văn hóa tộc người:

- Phân biệt Văn hóa tộc người và Văn hóa của tộc người.

+ Văn hóa tộc người: dùng để chỉ văn hóa của riêng cộng đồng một tộc người

trong ứng xử với thiên nhiên với những giá trị hằng số Là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần mà chủ thể sáng tạo, người mang chứa (người bảo lưu giữ gìn), người hưởng thụ và người biểu hiện nó chính là tộc người đó.

+ Văn hóa của tộc người: là các yếu tố văn hóa hiện đại của một tộc người

nào đó, trong đó có cả yếu tố văn hóa truyền thống – văn hóa tộc người và văn hóa của tộc người khác được tiếp nhận qua quá trình giao lưu văn hóa Các yếu tố văn hóa của tộc người có thể đến một lúc nào đó sẽ trở thành văn hóa tộc người.

Như vậy văn hóa tộc người là những cái ban đầu, cái gốc; còn văn hóa của tộc người thường là văn hóa được làm giàu thêm bởi sự tiếp xúc, giao lưu với các tộc láng giềng.

- Chủ nghĩa vị văn hóa và tương đối văn hóa:

+ Vị văn hóa: sử dụng các tiêu chí của nền Văn hóa của mình để đánh giá nền

Văn hóa khác Mọi sự khác biệt về Văn hóa đều bị coi là thấp hơn

Chủ nghĩa này đi liền với thời kỳ phát triển ban đầu của Nhân học, khi mà các nền Văn hóa Âu – Mỹ đượcxem là thước đo đánh giá Mặc dù bị đa số các nhà nghiên cứu phản đối song cho đến nay nó vẫn còn phổ biến ởmột số quốc gia, cho rằng với cách giải thích theo truyền thống – văn hóa của họ là đúng, là đạo đức, họ xem cáchành vi không giống vậy là kỳ lạ hay mông muội

+ Tương đối văn hóa: ngược lại với Vị văn hóa, chủ nghĩa tương đối văn hóa

cho rằng khi đánh giá các nền Văn hóa cụ thể (lối hành vi, ứng xử) phải được đặt trong bối cảnh của nền văn hóa đó, chứ không phải đánh giá bằng tiêu chí của nền Văn hóa khác

Trang 11

Theo chủ nghĩa này, không có nền Văn hóa nào cao hơn, không có tiêu chí đạo đức chung mang tính phổquát của loài người Các quy tắc đạo đức của mọi nền Văn hóa phải được tôn trọng như nhau Tuy nhiên, nếu theocách đánh giá này thì chủ nghĩa phát xít Đức cũng được xếp ngang hàng với nền văn minh Hi Lạp.

- Khi nghiên cứu Văn hóa tộc người cần tránh phương pháp luận có tính phi lịch sử là:

+ Hiện đại hóa quá khứ: là lấy tư duy của người hiện đại để lý giải những hiện

tượng văn hóa của quá khứ Hiện đại hóa quá khứ đưa lại sai lầm về lịch sử, thường thấy trong cách hiểu những khái niệm xuất xứ về sau này gán cho xã hội cổ xưa.

+ Quá khứ hóa hiện đại: lấy các giá trị Văn hóa cổ xưa để giải thích cho đời

sống Văn hóa hiện tại.

Quá khứ hóa hiện đại đưa đến chỗ miệt thị những cư dân vì những nguyên nhân lịch sử phải rơi vào sinh sống trong một hoàn cảnh tự nhiên khó có điều kiện phát triển, mà không thấy, nếu có điều kiện phát triển thuận lợi, họ cũng có thể ngang bằng với người của xã hội văn minh.

Với một quốc gia dân tộc đa tộc người, trình độ phát triển xã hội không đồng đều như ở nước ta, tư tưởng nàycần cảnh giác bởi nó dẫn đến không tôn trọng các tộc người có trình độ chậm phát triển Tư tưởng đại dân tộc sẽ dẫnđến tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Kết luận: trên đây là toàn bộ những vấn đề cơ bản có tính khái quát, những

kiến thức nền tảng để qua đó nghiên cứu, tìm hiểu, nhận diện về Văn hóa tộc người cũng như Văn hóa các dân tộc Việt Nam Để phác họa được bức tranh toàn cảnh của một nền Văn hóa tộc người – dân tộc đòi hỏi người học cần phải tìm hiểu, nắm vững thêm những khái niệm công cụ khác mà trong phạm vi của bài giảng không

có điều kiện cung cấp.

II VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM.

1 Nhóm văn hóa ngôn ngữ Việt – Mường.

Số lượng: 4 dân tộc.

Phân bố: Dân tộc Kinh sống tập trung ở đồng bằng châu thổ các dòng sông lớn từ Bắc tới Nam, ở các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ và các trục đường giao thông trên khắp đất nước Dân tộc Mường sống tập trung ở Hòa Bình, Thanh Hóa

Trang 12

và rải rác ở Sơn La, Phú Thọ, Hà Tây…dân tộc Chứt sống tập trung ở miền núi Quảng Bình, dân tộc Thổ sống tập trung ở miền núi Nghệ An.

- Văn hóa vật chất: trong việc canh tác kiếm sống của mình, họ vừa phát triển

theo hướng phát triển văn hóa Nước (làm ruộng nước, đào ao, đắp ruộng, đắp đê), vừa phát triển văn hóa khô cạn (làm nương rẫy trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả Việc trao đổi hàng hóa phát triển mạnh, kĩ thuật sản xuất phát triển cao (người Kinh).

Người Chứt và người Thổ sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy (có ruộng nước nhưng chỉ đóng vai trò phụ),người Mường sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng nước đồng thời tranh thủ khai phá thêm đất đồi làm nương rẫy,người Kinh sống hoàn toàn bằng nghề làm lúa nước và buôn bán

- Văn hóa tinh thần: phong phú đa dạng, giàu truyền thống Có nhiều thành tựu lớn + Ngôn ngữ: tiếng Kinh là tiếng phổ thông của cả nước, tiếng nói của các dân

tộc khác chưa có chữ.

+ Tín ngưỡng, tôn giáo: chủ yếu theo tín ngưỡng đa thần giáo (thần cây đa, ma

cây gạo, cú cáo cây đề), lập đình làng để thờ cúng Thành hoàng – là những người có công với làng với nước, trong nhà lập bàn thờ tổ tiên ở nơi trang trọng nhất.

Người Kinh chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, một số vùng theo đạo Ki – tô

+ Lễ hội: tín ngưỡng đa dạng nên lễ hội rất phong phú, hầu như các làng đều

có những ngày lễ hội riêng ( hội Lim, hội làng Đình Bảng, hội làng Đồng Kị, hội chọi trâu Đồ sơn…)

Bên cạnh lễ hội của từng tộc người còn có lễ hội chung của cả vùng, cả Dân tộc ( lễ hội chùa Hương, lễ hộiđền Hùng…)

+ Văn học dân gian: Có kho tàng văn hóa dân gian phong phú (ca dao, tục

ngữ, truyện cổ tích…) được biên soạn, công bố.

Chủ yếu tập trung ở người Kinh, còn Chứt và Thổ chưa được hệ thống – xuất bản nên mức độ phổ biến không cao

- Văn hóa xã hội:

+ Gia đình của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường là gia đình phụ quyền;

người cha, người chồng trong gia đình có quyền quyết định mọi việc; con cái được quyền thừa kế; con trai cưới vợ, vợ sang ở nhà chồng Ngày cưới có ý nghĩa thiêng liêng

và là một sự kiện trọng đại không chỉ của vợ chồng mà của gia đình, dòng họ.

2 Nhóm văn hóa ngôn ngữ Môn – Khme.

Số lượng: có 21 dân tộc.

Trang 13

Phân bố: tập trung đông nhất ở đồng bằng sông Cửu Long, miền núi Đông Nam bộ, các tỉnh Tây Nguyên, dọc Trường Sơn và một số ít ở Tây bắc.

- Văn hóa vật chất:

+ Nghề nghiệp chính của người Khme là làm ruộng nước, vùng ven biển đồng bào làm nghề chài lưới, các dân tộc còn lại sống bằng nghề làm rẫy, trồng lúa nương.

- Văn hóa tinh thần:

+ Ngôn ngữ: Tuy cùng nhóm ngôn ngữ nhưng tiếng nói lại khác nhau Có

một vài thứ tiếng đã có chữ Viết.

Ở đồng bằng sông Cửu long tiếng Khme được coi là tiếng phổ thông trong vùng, ở Lâm đồng các dân tộc đềubiết tiếng Cơ-ho, tiếng Mạ; ở Đắc lắc tiếng Mnông được sử dụng rộng rãi; tiếng Xơ Đăng, Ba Na là tiếng phổ thông

ở Gia Lai, Kon Tum

Người Khme có văn tự cổ gốc Sanscrit, còn gọi là chữ Paly – chữ của đạo Phật; một số dân tộc ở TâyNguyên như Ba Na, Mnông, Cơ Ho, Mạ được người Pháp trước đây và người Mỹ sau này xây dựng cho họ chữ viếttrên cơ sở chữ cái La tinh được xã hội chấp nhận và được sử dụng rộng rãi để ghi chép luật tục, văn nghệ dân gian

+ Tín ngưỡng, tôn giáo: tôn giáo của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn

– Khme rất đa dạng

Người Khme chủ yếu theo đạo phật, chùa thờ Phật có mặt tại Phum, sóc (bản làng) và là trung tâm sinh hoạtvăn hóa tinh thần của người dân Nam thanh niên phải đi tu ở chùa từ 1 – 3 năm mới được coi là người lớn Khi tu ởchùa, người đi tu được học chữ, học giáo lý của Phật, học lao động sản xuất, ở Sóc Trăng có bảo tàng phật giáo vàtrường cao cấp Paly (dạy chữ Paly)

Các dân tộc khác sống ở trên cao nguyên thì tin vào đa thần, Giàng là tên gọi chung của các thần, có thần núi,thần sông, thần lửa, thần bến nước…Những hoạt động mở đầu năm sản xuất, những dịp lễ hội…đều phải báo và xinphép thần mới được thực hiện

Ở Tây Nguyên, lưu truyền có con “ma lai” làm hại người Theo quan niệm của đồng bào, có một số người có

“ma lai” Khi chủ có con “ma lai” có điều gì đó không vừa lòng hoặc có ham muốn nào đó không đạt được thì con

“ma lai” sẽ đi làm hại (làm hại người, làm cho người đau quằn quại, làm hại gia súc…) Do cách hiểu như vậy chonên người bị nghi có “ma lai” thường bị dân làng khinh ghét sau lưng nhưng lại rất nể nang trước mặt

+ Lễ hội: các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khme có rất nhiều lễ hội gắn

với hoạt động sản xuất cũng như những quan niệm về tôn giáo.

Người Khme ở đồng bằng Nam bộ có các lễ “cho chnam thmay” đón năm mới, lễ “óc bom bóc” cúng trăng,

lễ Visakaban-chia, lễ Phật đản

Các lễ hội nổi tiếng ở Tây Nguyên là Lễ hội bỏ mả (Pơ thi), lễ cúng Giàng Trong lễ cúng Giàng, đặc biệt đáng chú

ý là tục đâm trâu, lấy con trâu làm vật hiến sinh Theo tục lệ, đồng bào dựng cột ở một bãi đất rộng giữa làng, trước cửanhà Rông, cột bằng tre, cao , với ý nối đất với trời, nối cuộc sống thực tại của dân làng với các thần linh Buộc con trâuvào cột đó Dân làng đánh cồng chiêng nhảy múa vòng quanh cột buộc trâu để làm lễ báo cho trời, cho thần linh biết đếnnhận trâu và cho phép dân làng vui nhân dịp lễ hội Trâu đâm chết, dân làng làm thịt ăn tại chỗ

Trang 14

Lễ hội của cư dân nhóm ngôn ngữ Môn – Khme có nét đặc trưng khác là gắn với tư tưởng phồn thực

Điển hình cho tư tưởng phồn thực thể hiện ở lễ mở đầu mùa gieo hạt trên nương của đồng bào Khơ – mú,thông qua hình ảnh dùng gậy chọc lỗ có trang trí tượng trưng giới tính và cả âm thanh tạo ra tượng trưng cho hoạtđộng trong phòng kín, mỗi khi dùng gậy đâm lỗ xuống đất

+ Văn nghệ dân gian của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khme đồ sộ cả

về thể loại lẫn chất lượng và số lượng.

21 dân tộc, mỗi dân tộc một vài làn điệu dân ca đã cho ta hàng chục làn điệu khác nhau Nhạc cụ dân gian cácdân tộc Tây Nguyên rất độc đáo, từ những cây lồ ô, đồng bào đã chế ra các loại nhạc cụ gõ, vỗ tay, thổi…Già làngTây Nguyên hay kể chuyện cho con cháu trong nhà Rông, hình thức kể chuyện cũng rất phong phú

Các dân tộc đều có tập quán sống riêng, một số dân tộc có bộ luật tục hàng ngàn trang, được dịch sang tiếngViệt để xuất bản

Các dân tộc ở Tây Nguyên có tập quán làm tượng bằng nhà mồ rất đặc sắc, nó là kết tinh tình cảm của ngườisống với người đã chết thông qua nghệ thuật tạc tượng gỗ để dựng lại nhà mồ

- Văn hóa xã hội:

Tập quán hôn nhân một vợ một chồng, cư trú bên nhà chồng là phổ biến Tuy nhiên một số tộc người như Xơ Đăng, Xtiêng, Brâu…có tục luân phiên cư trú ở hai bên, với ý giúp đỡ cho bố mẹ già ở hai bên.

3 Nhóm văn hóa ngôn ngữ Tày – Thái.

Số lượng: 8 tộc người

Phân bố: các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái cư trú ở các tỉnh Việt Bắc, Tây Bắc, dọc biên giới Việt – Trung và Việt – Lào Ở Việt Bắc dân tộc sát biên đông nhất là dân tộc Nùng, còn ở Tây bắc là dân tộc Thái.

- Văn hóa vật chất: nghề nghiệp chính của họ là làm ruộng nước ở các thung

lũng và trồng trọt cạn trên các sườn đồi.

- Văn hóa tinh thần:

+ Ngôn ngữ: một số tộc người đã có chữ viết.

Tiếng Thái là tiếng phổ thông của miền Tây Bắc và miền núi các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa Các dân tộcsống ở miền đất này mặc dù có tiếng nói của dân tộc mình, nhưng tiếng đó chỉ được dùng trong nội bộ dân tộc, khicần giao tiếp xã hội rộng hơn, họ đều sử dụng tiếng Thái

Tiếng Tày, Nùng là thứ tiếng phổ thông của Việt Bắc, đã có thời tiếng Tày, Nùng được sử dụng để phát thanhtrên đài phát thanh của khu Việt Bắc Hiện nay được sử dụng để phát thanh ở các tỉnh

Chữ thái cổ có nguồn gốc là chữ Phạn (chữ Ấn Độ cổ), hiện nay còn lưu giữ nhiều tư liệu, sách văn học bằngchữ Thái cổ

Trang 15

Chữ Tày, Nùng trước khi được La tinh hóa, vốn có gốc từ chữ Hán, nhưng được trí thức các dân tộc Tày,Nùng hóa thành Nôm Tày, Nôm Nùng Năm 1961 Nhà nước đã xây dựng bộ chữ các dân tộc Tày, Nùng lấy chữ cái

La tinh làm cơ sở Chữ Tày, Nùng đã được dùng để giảng dạy ở các trường cấp 1 phổ thông, dùng để ghi chép vănhọc dân gian và các văn nghệ sỹ dùng để sáng tác văn học

+ Tín ngưỡng, tôn giáo: tín ngưỡng của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ

này vừa là tín ngưỡng đa thần, trọng tâm là thờ tổ tiên, vừa chịu ảnh hưởng của các tôn giáo lớn trong khu vực như Khổng giáo, Đạo giáo, Phật giáo

Trong tầm nhìn tín ngưỡng đa thần, ở Tây Bắc lan truyền có con “phi phông” và ở Việt Bắc có con “phi cáy”– là những con ma chuyên làm hại người và gia súc Theo quan niệm của đồng bào, các con ma ác này có ở một sốdòng họ và có tính “cha truyền con nối” Khi người có ma có điều gì đó không được hài lòng do một người khác gây

ra, thì lập tức con ma sẽ đến làm hại người nhà và gia súc của người đó Do vậy người bị nghi là có ma ác để lại ấntượng rất nặng nề với dân làng, dân làng vừa khinh ghét, vừa nể sợ

+ Lễ hội: cư dân Việt Bắc và Tây Bắc có nhiều lễ hội được tổ chức tưng bừng như:

Lễ hội Hang Bua ở Nghệ An, lễ Xên Bản, Xên Mường ở Tây Bắc, lễ hội Lùng Tùng ở Việt Bắc Trong các lễhội đó, nội dung phần lễ chủ yếu là cầu mùa, do các thầy cúng, già làng, trưởng bản, các chủ gia đình thực hiện Nộidung phần hội chủ yếu là vui chơi, mọi người đều tham gia tùy theo sở thích

+ Văn học dân gian:Kho tàng văn học dân gian của nhóm ngôn ngữ Tày –

Thái rất phong phú đa dạng.

Các loại hình phổ biến là truyền thuyết, truyện cổ, dân ca, tục ngữ, thành ngữ, truyện thơ Nhiều thể loại vănhọc dân gian đã được biên soạn, ấn hành như Nam Kim Thị Đan, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Sóng chụ son sao,Khu lún náng ủa

- Văn hóa xã hội:

Gia đình của nhóm ngôn ngữ này về cơ bản là gia đình nhỏ, phụ hệ Ông bố

có quyền quyết định mọi việc, con trai có quyền thừa kế.

Trong tục cưới xin, các dân tộc đều rất coi trọng việc xem số, so tuổi, theo thuyết âm dương, ngũ hành tương sinh – tương khắc.

Với người dân tộc Tày, Nùng cưới một lần là xong, con gái về nhà chồng Với người Thái, cưới lần đầu là để

ở rể, cưới lần thứ hai mới được đưa vợ con về bên nhà chồng và làm nhà ở riêng

Trong lễ cưới của các dân tộc này, lễ xuất gia của con gái về nhà chồng và lễ nhập gia của cô dâu vào nhàchồng có ý nghĩa quan trọng, gây ấn tượng mạnh với cô dâu Ở đây nó thể hiện một thế giới quan và một hệ tưtưởng được đồng bào chấp nhận và làm theo

4 Nhóm văn hóa ngôn ngữ Mông – Dao.

Số lượng: 3 tộc người.

Ngày đăng: 16/09/2022, 15:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w