1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN CCCT độc lập dân tộc gắn LIỀN với CNXH sự lựa CHỌN ĐÚNG đắn của ĐẢNG và của dân tộc VIỆT NAM, là PHÙ hợp với QUY LUẬT TIẾN hóa của LỊCH sử PHẢN bác QUAN điểm đòi VIỆT NAM từ bỏ mục TIÊU độc lập dân tộc và CNXH

19 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 65,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 17 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG TÊN BÀI THU HOẠCH ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG VÀ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT TIẾN HÓA CỦA LỊCH SỬ PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM ĐÒI VIỆT NAM TỪ BỎ MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ NĂM 2021 MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 1 Chương 1.

Trang 1

BÀI THU HOẠCH

LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC: LỊCH SỬ ĐẢNG

TÊN BÀI THU HOẠCH: ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI - SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG

VÀ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT TIẾN HÓA CỦA LỊCH SỬ PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM ĐÒI VIỆT NAM TỪ BỎ MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA

XÃ HỘI

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ

- NĂM 2021

Trang 2

1.

ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA

XÃ HỘI - SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG

VÀ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT TIẾN HÓA CỦA LỊCH SỬ 1 1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền

1.2 Quá trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt

Nam về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội 6

Chương

2.

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM ĐÒI VIỆT NAM TỪ BỎ MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA

XÃ HỘI VÀ TRÁCH NHIỆM BẢN THÂNNGƯỜI

2.1 Phản bác quan điểm đòi Việt Nam từ bỏ mục tiêu độc lập

Trang 3

Phần I: MỞ ĐẦU

Độc lập dân tộc (ĐLDT) và chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam là vấn

đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, lịch sử đã giải quyết vấn đề lựa chọn này từ

những năm 20 của thế kỷ XX Nó không chỉ liên quan đến nhận thức, ý chí cách

mạng, đến đường lối, chính sách, mà còn liên quan đến lý tưởng, mục tiêu và phương hướng đi lên của đất nước Việc lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH không thể là việc làm tùy tiện, cảm hứng, chủ quan, mà đây thực

sự là vấn đề khoa học nghiêm túc, là trách nhiệm thiêng liêng trước dân tộc và đất nước Sở dĩ Đảng và nhân dân ta lựa chọn và kiên định độc lập dân tộc và CNXH vì đây là con đường phát triển hợp quy luật khách quan của lịch sử nhân loại, mặc dù biết rõ đây là sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp Ngày nay, Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập thì dân tộc và CNXH là một Chỉ có xã hội XHCN mới thực hiện được ước mơ lâu đời của nhân dân lao động là vĩnh viễn thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu Đó là điều kiện tiên quyết để xây dựng một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Do vậy, cho dù thế giới ngày nay và trong những năm tới có thể có nhiều đổi thay, nhưng ĐLDT gắn liền với CNXH mãi mãi là mục tiêu, con đường duy nhất đúng, là tất yếu lịch sử của dân tộc ta trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Phần II NỘI DUNG

Chương 1 ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

-SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG VÀ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT TIẾN HÓA CỦA LỊCH SỬ.

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Về cơ sở lý luận: Xuất phát từ lí luận Mác - Lênin về dân tộc, giai cấp

và mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc và giai cấp; Về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại mới Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Dân tộc và giai cấp có mối quan hệ biện chứng với nhau

Trang 4

Dân tộc bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không có dân tộc chung chung, dân tộc phi giai cấp Về vấn đề giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: phải giải phóng giai cấp trước thì mới giải phóng được dân tộc và vấn đề giải phóng dân tộc phải phụ thuộc vào giai cấp Và ở mỗi một thời đại lịch sử, đều có giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại đó, giai cấp ấy có khả năng nắm vững ngọn cờ dân tộc, giải quyết đúng vấn đề dân tộc, đưa dân tộc tiến lên

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin khẳng định: Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, chỉ có cách mạng XHCN do giai cấp vô sản lãnh đạo là cuộc cách mạng chân chính mới đủ khả năng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, kết hợp đúng đắn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc

và lợi ích của các tầng lớp nhân dân, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, đưa nhân dân thực sự trở thành chủ thể của xã hội, làm chủ vận mệnh dân tộc và làm chủ chính bản thân mình

Vận dụng sáng tạo quan niệm cuả chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện một nước thuộc địa, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải giải phóng dân tộc, giành độc lập cho dân tộc trước, coi việc giành độc lập cho dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, còn giải phóng giai cấp từng bước thực hiện Xuất phát từ điều kiện xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, tuyệt đại đa số dân cư là nông dân và tất cả những tầng lớp nhân dân lao động khác đều bị áp bức, bóc lột, nên trong cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đặt lợi ích dân tộc, nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết và trước hết Bởi vì, "nếu không giải quyết được vấn

đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi bộ phận, giai cấp đến vạn nǎm cũng không đòi lại được"[2, tr.112,113] Về chủ nghĩa xã hội, theo chủ tịch Hồ Chí Minh: “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[4, tr.591] Lý tưởng xã hội chủ nghĩa ấy được hình thành dựa trên một cơ sở khoa học vững chắc, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động Việt Nam Vì

Trang 5

thế, nó đã trở thành chất keo bền vững gắn kết toàn dân, trước hết là những giai cấp cần lao thành một khối thống nhất, trở thành ngọn cờ quy tụ nhân dân thành một khối đoàn kết xung quanh Đảng Theo Người, giữa ĐLDT và CNXH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Giành độc lập dân tộc để đi lên chủ nghĩa xã hội, điều này hoàn toàn khác với các bậc tiền bối yêu nước trước đó – họ mới chỉ đề cập đến việc giành độc lập dân tộc mà chưa gắn bó giữa độc lập dân tộc với tiến

bộ xã hội, với chủ nghĩa xã hội Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: cách mạng xã hội chủ nghĩa nó không kết thúc với việc giành chính quyền vào tay vô sản và lao động, mà đó mới chỉ là sự mở đầu Công việc cơ bản quan trọng và khó khăn, lâu dài của cách mạng là xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa Không thực hiện được nội dung thứ nhất, thì không thể có nội dung thứ hai; đồng thời không thực hiện tốt nội dung thứ hai thì ý nghĩa thực sự của cách mạng sẽ bị suy giảm, thậm chí dẫn đến thủ tiêu những thành quả của việc thực hiện nội dung thứ nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”[5, tr.152] Xây dựng chủ nghĩa xã hội là tạo những cơ sở giữ vững và phát triên độc lập dân tộc Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là mục tiêu, tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội Cách mạng xã hội chủ nghĩa là làm cho cách mạng dân tộc dân chủ được tiến hành triệt để, đồng thời tạo ra những cơ sở đảm bảo cho nền độc lập dân tộc được giữ vững và ngày càng củng cố, phát triển

Như vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở nền tảng cho sự lựa chọn con đường ĐLDT và CNXH của Đảng và nhân dân trong sự nghiệp cách mạng

Về cơ sở thực tiễn: Thắng lợi của CMT10 Nga năm 1917 với sự ra đời của

nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, đã mở ra thời đại mới cho lịch sử nhân loại – thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH Chính tính chất của thời đại mới đã tạo ra khả năng hiện thực cho những dân tộc lạc hậu tiến lên CNXH Những khả năng hiện thực này đã đem lại nhận thức mới mẻ và triệt để trong quan niệm cũng như giải pháp để giải quyết vấn đề độc lập dân tộc Thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga

Trang 6

đã đưa Chủ nghĩa Mác - Lê-nin từ lý luận khoa học trở thành thực tiễn, từ tư tưởng trở thành hiện thực sinh động trên phạm vi thế giới Đó là cuộc cách mạng thủ tiêu chế độ áp bức, bóc lột, bất công - chế độ tư bản chủ nghĩa, và đã “giành được nước Nga từ trong tay bọn nhà giàu để giao lại cho những người nghèo, từ trong tay bọn bóc lột để giao lại cho những người lao động”[9, tr.209] Chính vì thế, Cách mạng tháng 10 Nga là cuộc cách mạng có tính thời đại, khai phá con đường cho nhân loại đi tới tương lai, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới

Xuất phát từ điều kiện thực tế của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Các phong trào yếu nước theo hệ nhiều hệ tư tưởng khác nhau diễn ra rất mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại Dân tộc Việt Nam đứng trước tình trạng khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước Các phong trào, các cuộc khởi nghĩa đều xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước chân chính, tinh thần dân tộc, nhưng nguyên nhân cơ bản là chưa có một chính đảng của giai cấp tiêu biểu, với nền tảng lý luận tiên tiến và đường lối cách mạng, khoa học dẫn dắt, nên cuối cùng đều bị kẻ thù dìm trong bể máu và không tránh khỏi thất bại Thực tế đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX,

là sự khủng hoảng trong con đường cứu nước

Thực tiễn quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc (1911 -1920) Nung nấu trong đầu tư duy chính trị phải có "con đường cứu nước khác" trên cơ sở phân tích những con đường mà các bậc tiền bối và nhân dân ta đã và đang tiến hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra nước ngoài, đến phương Tây để nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới xem họ làm cách mạng như thế nào để về giúp đồng bào mình Người đã nghiên cứu rất kỹ các cuộc cách mạng tư sản điển hình và nhận định đó là các cuộc cách mạng "không đến nơi" Sau khi tìm hiểu cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, và cho đến khi tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười, Người rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái

Trang 7

hạnh phúc tự do, bình đẳng thật’’[6, tr.274] Tính chất "đến nơi" của Cách mạng Tháng Mười đã đưa Người đến quyết định lựa chọn con đường giải phóng dân tộc

là đi theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa Và "Chỉ có tiến lên chủ nghĩa

xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một ấm no thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm"[7, tr.173] Đây là một kết luận phù hợp với nhu cầu lịch sử của dân tộc và xu thế phát triển của thời đại, cho thấy tầm cao trí tuệ và tư duy chính trị sắc sảo của Người Quá trình tìm đường cứu nước và thực tiễn hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành nên hệ thống luận điểm quan trọng về cách mạng xã hội chủ nghĩa ĐLDT gắn liền với CNXH ngay từ đầu đã trở thành yêu cầu tất yếu khách quan; là sự lựa chọn của lịch sử, của toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường, được Cách mạng Tháng Mười Nga cổ vũ và từ điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trải qua thực tiễn đấu tranh chống xâm lược đầy cam go, khốc liệt, Đảng ta khẳng định: ĐLDT và CNXH là mục tiêu xuyên suốt, luôn gắn chặt với nhau, quan hệ biện chứng và tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, ĐLDT là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH còn CNXH

là cơ sở bảo đảm vững chắc cho ĐLDT

Như vậy, xuất phát từ chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư ưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng thế giới, thực tiễn mâu thuẫn xã hội Việt Nam, nguyện vọng của toàn thể dân tộc ta, Đảng ta ngay từ khi ra đời đã nắm vững ngọn cờ ĐLDT và CNXH Với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng đã tập hợp được trong hàng ngũ của mình hàng triệu người con ưu tú có khả năng tranh đấu đến cùng hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo về Tổ quốc Trong thời kỳ đổi mới, trước xu thế khách quan và chủ quan, Đảng ta luôn kiên định ĐLDT và CNXH, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, Tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng

Trang 8

1.2 Quá trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản Nó không chỉ liên quan đến nhận thức, ý chí cách mạng, đến đường lối, chính sách, mà còn liên quan đến lý tưởng, mục tiêu và phương hướng đi lên của đất nước Đây thực sự là vấn đề khoa học nghiêm túc, là trách nhiệm thiêng liêng trước dân tộc và đất nước Trung thành với mục tiêu và con đường mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lựa chọn, Đảng ta chủ động vận dụng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể với những nhiệm vụ và phương pháp cụ thể

Giai đoạn 1930 – 1945: Cương lĩnh chính trị tháng 10-1930 của Đảng nêu rõ: Tiến hành cách mạng dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên CNXH, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa

Giai đoạn 1945 – 1954: là giai đoạn nhân dân ta đã làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ đất nước Theo quy luật chung lúc này Việt Nam có thể chuyển sang giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội Song, căn cứ vào tình hình thực tiễn của cách mạng nước ta Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

“Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng” [3, tr.26] và tiếp tục đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu với

khẩu hiện “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết” Nội dung dân tộc lúc này là phải giữ vững chính quyền vừa mới giành được Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta vừa tiến hành cuộc đấu tranh chống xâm lược , vừa xây dựng chế độ mới, bước đầu chuẩn bị lý luận cho CNXH

Giai đoạn 1954 -1975: Trong giai đoạn này, độc lập dân tộc kết hợp với chủ nghĩa xã hội không còn đơn thuần là mục tiêu lý tưởng như giai đoạn 1930 –

1945, cũng không giống thời kỳ 1945 – 1954, mà chủ nghĩa xã hội đã trở thành khẩu hiệu hành động và biến thành thực tế trên miền Bắc nước ta Mục tiêu của hai nhiệm vụ chiến lược: Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH Xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc Xây dựng và củng cố miền Bắc thành hậu phương vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất

Trang 9

nước nhà Và giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh

Từ năm 1975 đến năm 1985: Trong giai đoạn này, Đảng ta có nhiều tìm tòi

về lý luận con đường lên chủ nghĩa hội với những thành công và sai lầm, khuyết điểm, diễn ra trên phạm vi cả nước Trong 10 năm này, nhân dân ta và Đảng ta

đã trải qua một giai đoạn thử thách vô cùng gay go, quyết liệt

Từ năm 1986 đến nay: một bước ngoặt lớn trên con đường thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta Thể hiện qua các kỳ đại hội:

Đại hội VI của Đảng (12 – 1986) là Đại hội có ý nghĩa lịch sử trọng đại, là Đại hội đổi mới đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ Đại hội VI đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoẳng kinh tế - xã hội trầm trọng kéo dài hơn chục năm và đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Đại hội VII (6/1991) Đại hội đã thông qua Cương lĩnh năm 1991 Đây là văn kiện quan trọng mang tầm định hướng chiến lược, là nền tảng tư tưởng lý luận và ngọn cờ chiến đấu của Đảng ta, dân tộc ta trong giai đoạn mới Cương lĩnh năm 1991, sau khi phân tích bối cảnh của tình hình thế giới và trong nước,

đã nhận định: Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn thử thách Lịch

sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử Mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, phe xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, nhưng Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đặc biệt, Cương lĩnh năm 1991 đã đưa ra những quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta Đó là một

Trang 10

bước tiến lớn trong tư duy lý luận của Đảng ta, vừa quán triệt tinh thần cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội vừa thể hiện sự vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời kỳ mới Đại hội VII có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đã hình thành rõ nét con đường quá độ lên CNXH phù hợp với đặc điểm nước ta Với cương lĩnh và những chính sách cụ thể của Đảng đã đặt thêm một mốc son mới nhằm đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng về con đường quá độ lên CNXH

Đại hội VIII của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định

hướng xã hội chủ nghĩa… Đại hội có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân

tộc và tương lai của đất nước vào lúc chúng ta sắp bước vào thế kỷ XXI

Đại Hội IX của Đảng (tháng 4 – 2001) là Đại hội mở đầu thế kỷ XXI ở Việt Nam Đại hội xác định mục tiêu chung của cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh’’ ( điểm mới là có thêm từ “dân chủ”).

Đại Hội X (tháng 4 – 2006) của Đảng khẳng định: “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ xã hội ở Việt Nam đã hình thành nên những nét cơ bản”

Kế thừa và phát triển Cương lĩnh năm 1991 về những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam và những phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) có một nội dung rất mới so với Cương lĩnh năm 1991: đó là xác định 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Thứ nhất; Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Thứ hai; Do nhân dân làm chủ; Thứ ba; Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại

và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; Thứ tư; Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Thứ năm; Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có

Ngày đăng: 20/06/2022, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2021
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia. Hà Nội. 2002
6. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
8. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị, môn Lịch sử Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Cao cấp lý luậnchính trị, môn Lịch sử Đảng
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2018
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội 1996 Khác
5. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2000 Khác
7. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2000 Khác
9. Lênin toàn tập, tập 36, NXB Tiến Bộ, Năm 1977 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w