1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KIẾN TRÚC VIỆT NAM QUA các THỜI đại

16 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những yếu tố thể hiện một cách rõ nét nền văn hóa riêng của mỗi dân tộc đó chính là kiến trúc, nhà , nơi diễn ra các hoạt động sống chủ yếu của con ngư i.. một khía cạnh nào đ

Trang 1

K I N TRÚC VI T NAM QUA CÁC TH I Đ I

A M Đ U:

I G i i thi u đề tài:

Mỗi một quốc gia đều có những đặc điểm riêng, những nền văn hóa mang b n sắc dân tộc riêng, được thể hiện rõ qua nếp sống cùng với môi trư ng sinh hoạt Một trong những yếu tố thể hiện một cách rõ nét nền văn hóa riêng của mỗi dân tộc đó chính là kiến trúc, nhà , nơi diễn

ra các hoạt động sống chủ yếu của con ngư i

Qua mỗi một giai đoạn khác nhau, kiến trúc lại chịu nhiều nh

hư ng từ các yếu tố khác nhau, như là: nh hư ng từ các nền văn hóa khác, sự phát triển của xây dựng, đặc trưng vùng miền… Và cũng như thế, kiến trúc Việt Nam qua các th i đại lại có những biến chuyển khác nhau Để có một cái nhìn tổng quát hơn về kiến trúc qua các th i đại từ

cổ chí kim tới nay, chúng ta sẽ tìm hiểu về những đặc điểm về kiến trúc

mà qua các th i kỳ đều có sự thay đổi

II Lý do chọn đề tài:

Kiến trúc là một chủ đề hay, gần gũi và gắn liền với cuộc sống của con ngư i một khía cạnh nào đó, kiến trúc thể hiện b n sắc văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc mà khi nhắc đến không lẫn với những nền văn hóa khác, tạo ra nét riêng biệt, đặc trưng Vì thế, chọn kiến trúc làm

đề tài sẽ làm mọi ngư i dễ hiểu và có những cái nhìn sâu sắc hơn đối với nền văn hóa nước nhà

Trang 2

B N I DUNG:

I Sự hình thành bản sắc trong ki n trúc truyền thống Vi t Nam

Cùng với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, mầm mống của sự tạo ra các không gian của con ngư i có thể nói cũng đã bắt đầu từ 4000 năm nay và lịch sử kiến trúc Việt Nam được tính từ th i kỳ kh i dựng đ t nước, th i kỳ Vua Hùng (trước 207 trước công nguyên) với nền văn hóa Văn Lang – Âu Lạc, hay còn gọi là nền văn minh lúa nước, với trình độ kỹ thuật đúc đồng nổi tiếng – th i kỳ văn hóa Đông Sơn

Th i kỳ này, qua các di tích kh o

cổ, đặc biệt là trên mặt trống đồng Ngọc Lũ còn ghi lại nét

sinh hoạt th i xưa và những kiểu loại nhà sàn Đó là những kiến

trúc truyền thống lâu đ i, phù hợp với môi trư ng thiên nhiên của đ t nước, phù hợp với khí hậu vùng nhiệt đới nóng ẩm

Trang 3

II T h i Bắc thu c (từ 207 đ n 906 trư c công nguyên)

Hàng nghìn năm dưới ách thống trị của phong kiến Trung Hoa, với âm mưu đồng hóa và

áp đặt; song nền văn hóa dân tộc Việt Nam vẫn trư ng tồn chắc chắn đã có sự đổi mới để phát triển Những di s n kiến trúc trên mặt đ t từ thế kỳ X tr về trước đến nay không còn;

chỉ còn lại một số di tích dưới lòng đ t Đó là những ngôi m th i Hán, các di tích kh o cổ

này nói lên kỹ thuật xây dựng cổ truyền Hán Vi t trên đ t việt nam thể hiện qua những viên

gạch nung có hoa văn xây trong mộ cổ, cũng như kỹ thuật xây mộ

D u n rõ nét nh t của nền kiến trúc cổ Việt Nam còn để lại cho đến ngày nay ph i kể

từ đ i Lý (XI – XVI), Trần (XIII – XIV), Hồ (XV), Lê (XV – XVI), Tây Sơn (XVIII),

Nguyễn (XIX) Trong đó, các di s n kiến trúc tô giáo tính ngưỡng kh i dựng từ đ i Lý, Trần đến nay đã tr i qua nhiều giai đoạn trùng tu tôn tạo và hầu như không còn đúng với trạng thái ban đầu Ngay các di tích th i Nguyễn gần đây nh t, tr i qua trên 100 năm với những

biến động lịch sử, do chiến tranh, khí hậu nóng ẩm, do sự xuống c p, nhiều công trình và tổng thể công trình cũng trong trình trạng không còn nguyên vẹn Song thể loại còn lại cũng

đa dạng phong phú hơn là các triều đại khác

Trang 4

Trong gần 1000 năm độc lập phát triển, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, kiến trúc truyền thống Việt Nam có những đặc điểm sau:

- Đô thị: đã hình thành được một số các đô thị cổ Trong đô thị cổ có thành cổ (nơi vua

quan và binh lính ), khu thị dân, chợ và hệ thống các công trình tôn giáo tính ngưỡng Đô thị được hình thành theo thuật phong thủy; cụ thể dựa vào địa hình thiên nhiên và mối quan

hệ thiên – địa – nhân Các phố phư ng trong đô thị được hình thành và sự qu n lý phố phư ng không khác gì các làng xã Ngăn giữa các phố phư ng là các cổng ngõ – kiến trúc nhà buôn bán là các nhà hình ống chủ yếu là 1 tầng và một tầng có kèm gác lửng, hạ tầng

kỹ thuật đô thị r t sơ lược các khu phố cổ trong đô thị Việt Nam còn đến nay là d u n của các khu thị dân đô thị cổ

Trang 5

- Ki n trúc công trình từ cung điện đến kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng, nhà truyền thống…

đều có chung một đặc điểm là c u trúc theo gian trên cơ s của một hệ khung kết c u gỗ chịu lực kích thước không gian của nhà vừa đủ cho sử dụng và phù hợp với tỷ lệ kích thước hoạt động của ngư i Việt Nam.Sự khác nhau về kiến trúc truyền thống qua các triều đại là

c u trúc của các thể loại vì kèo, kẻ hiên, độ cong của mái và kỹ thuật, nghệ thuật thể hiện các hoa văn trang trí trên các thành phần kiến trúc truyền thống

-Từ tổng thể đến công trình kiến trúc đều không có b n

vẽ thiết kế trước khi xây dựng, phần lớn làm theo kinh nghiệm truyền khẩu – dựa trên thước tầm

- Công trình được xây dựng bằng vật liệu địa

phương Từ những tổng thể công trình kiến trúc truyền thống Việt

Nam;

Trang 6

N hiều nhà nghiên cứu ki n trúc Vi t Nam đều th y thống nh t những nhận định

về bản sắc dân t c sau:

- Việt Nam là một quốc gia nhiều dân tộc gồm 54 dân tộc, dân tộc Kinh là chủ đạo, chiếm 87,1%; kiến trúc truyền thống của dân tộc Kinh là tiêu biểu cho c nước và cho các đô thị Việt Nam, đặc biệt là các đô thị vùng đồng bằng miền biển.Bên cạnh kiến trúc truyền thống của dân tộc kinh, kiến trúc dân gian của các dân tộc khác Việt Nam cũng là b n sắc riêng của từng địa phương Tính b o lưu của đặc trưng kiến trúc truyền thống có tính bền vững hơn Trong các kiến trúc truyền thống của các dân tộc có:

- Kiến trúc Chàm với các tháp Chàm:

– Di tích của nền văn hóa Chăm – pa chịu nh hư ng của nền văn hóa cổ trung đại n Độ Nghệ thuật kiến trúc tháp Chàm là nghệ thuật của kiến trúc xây bằng gạch với kỹ thuật và nghệ thuật đặc sắc tiêu biểu của miền Trung đ t nước.- Kiến trúc Khơ – me tiêu biểu của miền Đông Nam Bộ, kiến trúc đồng bào các dân tộc Tây nguyên tiêu biểu cho khu vực miền Nam Trung Bộ Kiến trúc Mư ng tiêu biểu cho vùng Hòa Bình, kiến trúc Thái vùng núi Tây Bắc Bắc Bộ và kiến trúc đồng bào Tày Nùng tiêu biểu cho vùng Đông Bắc…

Trang 7

Ki n trúc dân t c Kinh tiêu biểu cho cả nư c v i các bản sắc sau:

1 Kiến trúc có ý đồ bố cục, có tính biểu tượng, ẩn dụ, hàm súc, có hình tượng nghệ thuật, từ nội dụng đến hình thái chứa đựng tính triết lý ( triết học phuơng Đông) nghệ thuật thâm trầm, tế nhị, kín đáo nhưng sâu lắng và thâm thúy trí tuệ

2 Kiến trúc xinh xắn, dàn tr i, gắn bó, hài hòa với thiên nhiên, không gian và hình khối kiến trúc như là một yếu tố hữu cơ của c nh quan thiên nhiên (Tháp chùa Phật tuy nhiều tầng nhưng cũng bé nhỏ, điểm xuyết cho không gian)

Trang 8

3 Không gian sử dụng linh hoạt, đa năng, dể dàng biến đổi thích ứng cho các điều kiện sinh hoạt, hoạt động trong không gian kiến trúc Có sự kết hợp khéo léo 3 loại không gian: không gian kín; không gian bán kín, bán h ; và không gian h

4 Tỷ lệ không gian r t gần gũi, gắn bó với hoạt

động của con ngư i Tỷ lệ giữa các bộ phận công

trình hài hòa, thống nh t

5 Kiến trúc sử dụng điêu khắc, chạm khắc màu sắc

như một yếu tố phụ trợ tích cực tăng tính nghệ thuật

cho công trình, mặt khác là phương tiện diễn đạt ý

nghĩa biểu trưng, cái thần của công trình, như sử

dụng các hoa văn ( động vật quý, cây cối hoa lá…)

đầy ý nghĩa tượng trưng

6 Tính hợp lý của kết c u, tính đơn gi n, thống

nh t tính điển hình và tính tiêu chuẩn th y rõ trong

bộ khung gỗ chịu lực của công trình

Trang 9

7 Về ngoại hình của kiến trúc truyền thống Việt Nam là loại có mái dốc thẳng – đ u dốc mái có loại uốn cong với các trang trí trên dốc mái, trên góc mái phong phú – có loại hai đầu hồi thẳng mái che cho than nhà – than nhà là hệ cột khung với hang hiên

Trang 10

III Đặc điểm ki n trúc Vi t Nam th i cận đ i (1858 – 1945) – bư c đ u đổi m i

bản sắc và hình thành những truyền thống m i:

th i kỳ này, song song với sự bành trướng của CNTB châu Âu sang vùng Đông Nam

Á, kèm theo đó là sự xâm nhập của kiến trúc phương Tây Việt Nam cũng trong bối c nh như vậy, cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, kiến trúc Việt Nam đã có bước ngoặt lớn

Các đô thị cổ được hình thành từ th i nhà Nguyễn và trước đó đã được c i tạo theo các kiểu đô thị phương Tây Các đư ng phố được nắn thẳng, tạo mạng lưới đư ng theo kiểu ô

c , hạ tầng kỷ thuật đư ng phố được hoàn thiện, đư ng phố rộng hơn trước, có hè dành cho ngư i đi bộ, đư ng phố có cây xanh, có đèn đư ng, cống rãnh thoát nước và c p nước… Trên các đư ng phố là các thể loại công trình kiến trúc: nhà , nhà hang, công s và các công trình phục vụ công cộng đ i sống, nhà máy… kiến trúc phong phú về thể loại và hình thức mà trước đây chưa hề có

Bên cạnh các kiến trúc cổ, tân cổ điển, kiến trúc địa phương Pháp được thực hiện mang tính áp đặt chủ yếu do các viên toàn quyền và chủ đầu tư – Tư b n Pháp chỉ đạo, các kiến trúc truyền thống Việt Nam vẫn tồn tại và đổi mới trên cơ sơ tiếp thu những tinh hoa của kiến trúc Tây Phương với kiến trúc truyền thống Việt Nam Sự đổi mới đó diển ra một cách

từ từ

Trang 11

Đối với công trình 1 tầng: sự đổi mới của kiến trúc truyền thống được bắt đầu từ hình thức bên ngoài công trình C u trúc bên trong nhà vẫn theo hệ thống gian với kèo gỗ cổ truyền; tư ng vây bên ngoài xây bằng gạch với các hình thức sử dụng các hệ cột phương Tây; bên trên kết thúc bằng tư ng hoa chắn mái Trên đó sử dụng các trang trí kiểu Châu

Âu Cửa theo kiểu cửa panô; sau đó là cửa 2 lớp: kính, chớp

Trang 12

Sự xây dựng nhà 2,3 tầng đã đòi hỏi ph i áp dụng các kết c u cột, dầm, sàn bằng vật liệu bền vững hơn Cột gạch, dầm thép, sàn gạch rỗng, hoặc vỉa gạch trên hệ thống dầm gỗ lim hay thép (thay cho cột, dầm sàn gỗ của kiến trúc truyền thống) – Hình thức bên ngoài hoàn toàn theo ngôn ngữ kiến trúc Phương Tây song sử dụng các hoa văn trang trí dân tộc (chữ triện…) Sử dụng mái ngói Tây (gần 10 loại khác nhau cho mái)

Việc sử dụng sắt, thép, xi măng, bê tông cốt thép với kỹ thuật tính toán kh năng chịu lực kết c u nhà từ phương Tây mang đến đã tạo điều kiện cho kiến trúc Việt Nam phát triển mạnh và có cơ s khoa học

Xu hướng kiến trúc với kết c u, c u tạo các bộ phận tạo điều kiện cho việc hình thành không gian khắc phục được những b t lợi của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm đã được phát triển, tạo ra những b n sắc mới trong kiến trúc Việt Nam vào những thập kỷ 30-40, đó là khuynh hướng “kiến trúc Đông Dương” Nét đặc biệt của các công trình này là việc sử dụng các hệ mái với con sơn đỡ mái để che nóc nhà, nhà có tầng hầm để thong thoáng chống ẩm, sử dụng cửa 2 lớp: kính, chớp… phóng áp mái có trần nhà, không gian dưới mái chỉ là để

chống nóng có cửa thoát khí… T t c những khía cạnh nêu trên bắt nguồn từ các nhà dân gian truyền thống cùng kết hợp với các kinh nghiệm chống nắng nóng trong kiến trúc của các nước

Tỷ lệ không gian kiến trúc công trình đáp ứng nhu cầu sử dụng tốt độ cao phòng vừa đủ

đ m b ovề khối tích không khí, đ m b o thoáng mát, đ m b o thẩm mỹ Xử lý kiến trúc mặt đứng trên nguyên tắc của phong cách kiến trúc Tân cổ điển Châu Âu Song sự xu t hiện các yếu tố thông hơi thoáng gió trên, dưới cửa sổ, cái mái hiên che, cùng các ban công, lô gia,

sử dụng các hoa văn trang trí dân tộc… đó chính là tạo ra những truyền thống mới, b n sắc mới

IV Đặc điểm của ki n trúc Vi t Nam th i hi n đ i từ 1945 đ n 1980:

Trong giai đoạn này kiến trúc Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển của những truyền thống kiến trúc giai đoạn trước, nhưng sự thể hiện 2 miền có khác nhau

 phía Bắc, do chính sách tiết kiệm; tiêu chuẩn trong kiến trúc xây dựng có hạn hẹp

đã phần nào nh hư ng đến khai thác đặc trưng và tìm tòi sáng tạo trong mọi lĩnh vực tạo ra những tiện nghi thuận lợi nh t cho môi trư ng sống, làm việc

Kiến trúc thực hiện theo phương châm “thích dụng, bền vững, kinh tế, mỹ quan trong điều kiện có thể”

Trang 13

 phía Nam:

– Kiến trúc kế thừa phát huy được các giá trị sẵn có từ trước

– Hình thức kiến trúc nhanh nhẹ, chú trọng trang trí nội ngoại th t, các biện pháp chắn nắng, thông thoáng

– Kiến trúc theo phong cách hiện đại chung chung là đặc trưng; chủ nghĩa cá nhân, tính muôn hình muôn vẻ được thể hiện trong kiến trúc

– Sự tương ph n về kiến trúc trong đô thị th y rõ rệt:

Đó là những khu nhà ổ chuột của dân nghèo, dân di cư, dọc các kênh, mương, với các nhà lầu, dinh thự của các tầng lớp giàu có trong đô thị (trước 1975)

Trang 14

V Đặc điểm ki n trúc Vi t Nam từ 1980 đ n nay – Bư c đ u của sự hòa nhập

quốc t :

Đây là th i kỳ của nền kinh tế thị trư ng, th i kỳ m cửa kêu gọi đầu tư nước ngoài

Trong th i kỳ này kinh tế một số đô thị lớn được phát triển, nhà do dân tự xây dựng r t

đa dạng, công trình do nước ngoài đầu tư với vi mô to lớn và đa phong cách

Kiến trúc có nhiều khuynh hướng khác nhau:

- Khuynh hướng phục cổ, nhái cổ… sử dụng các thức cột cổ điển Châu Âu, hoa văn trang trí, ban công bụng chửa…(trong kiến trúc nhà dân tự xây)

- Khuynh hướng hiện đại: Tìm cái đẹp trong tạo khối hình và sử dụng sự tương ph n hình, khối; đặc rỗng; sử dụng các m ng tư ng kính (kính ph n quang, kính màu…) với cửa nhôm

Sử dụng hệ thống điều hòa nhân tạo Các cửa chớp, cửa gỗ pa nô, hệ thống tắm chắn nắng thịnh hành các giai đoạn trước nay th y vắng mặt trong các công trình hiện đại

- Khuynh hướng Hậu hiện đại tiếp tục của khuynh hướng hiện đại; song nặng về gi i quyết hình khối, tổng thể; sử dụng một số mô típ điển hình của kiến trúc truyền thống cũ, tạo mối liên hệ với truyền thống, với lịch sử Tạo mối liên hệ không gian trong, ngoài

- Quy mô nổi trội của các công trình kiến trúc do đầu tư nước ngoài vào các thể loại khách sạn, văn phòng, ngân hàng, siêu thị trong tổng thể kiến trúc đô thị hiện có, tạo ra những sắc thái mới trong kiến trúc đô thị

- Kiến trúc đô thị Việt Nam trong hơn thập kỷ qua thể hiện r t rõ tính hòa đồng hội nhập quốc tế

- Thể hiện sự đa dạng hóa và vai trò cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật kiến trúc đã được khích lệ

Trong số các công trình lớn đã được xây dựng; đặc biệt các công trình đầu tư nước ngoài đã có sự phối hợp giữa KTS Việt Nam với KTS các nước

– Có sự chỉ đạo chuyên môn của của Hội đồng kiến trúc thành phố và của văn phòng KTS Trư ng thành phố (đối với Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh) Các công trình đã chú ý để hòa nhập với c nh quan khu vực, mỗi công trình đều có sắc thái riêng, góp phần làm phong phú cho ngôn ngữ kiến trúc trong đô thị Việt Nam Đó là những yếu tố mới, do vậy không khỏi gây nhiều ý kiến tranh luận về quy mô, độ cao, hình thức, về sự hòa nhập c nh quan, về b n sắc kiến trúc

Trang 16

* Kết luận: R t rõ ràng những b n sắc truyền thống kiến trúc Việt Nam đang đổi mới

– sự đổi mới cần được cổ vũ Song cũng cần được bình luận để tiếp thu phát triển những mặt tích cực, hạn chế những v n đề chưa phù hợp, để tạo ra những truyền thống mới cho giai đoạn hiện nay của kiến trúc hiện đại Việt Nam trong th i đại công nghiệp hóa hiện đại hóa

đ t nước, hòa nhập quốc tế mà vẫn phát huy được b n sắc dân tộc

Ngày đăng: 15/09/2022, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w