TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC ĐÌNH LÀNG ,file dạng pdf có ghi các nguồn tài liệu tham khảo , thuyết trình về kiến trúc kết cấu v.v ... dành cho các bạn theo học ngành kiến trúc học môn Lịch sử kiến trúc Việt Nam
Trang 1H a n o i A r c h i t e c t u r a l U n i v e r s i t y
LỊCH SỬ KIẾN TRÚC
VIỆT NAM
TIỂU LUẬN
SVTH : Cao Bá Trọng.
TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC ĐÌNH LÀNG
Lớp : 20K1.
MSSV : 2051010379.
ĐỀ TÀI:
Trang 2Lời nói đầu 1
Chương I: Giới thiệu về Đình Làng 2
Chương II: Chức năng đình làng 5
Chương III: Bố cục thành phần của đình làng 8
Chương IV: Kiến trúc và bộ khung kết cấu đình làng 10
Chương V: Điêu khắc, trang trí 12
Lời kết 13
Tài liệu tham khảo 14
MỤC LỤC
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Đã từ rất lâu rồi, khi nói đến văn hoá làng, nói đến nông thôn Việt Nam, người ta liên tưởng ngay tới những hình ảnh rất đặc trưng, làm nên biểu
tượng của làng quê: cây đa, bến nước, sân đình…
Dù đa phần làng Việt hình thành trên cơ sở tự phát, dựa trên những yêu cầu thiết yếu về sinh sống và sản xuất, nhưng trải qua quá trình phát triển với những hương ước nghiêm luật lại dần tạo nên đặc tính riêng của mỗi
làng, trở thành bản sắc – văn hóa của làng mà trong đó kiến trúc là biểu
hiện rõ rệt nhất Những giá trị của kiến trúc làng xã cũng là khơi gợi cho ta
về “hình ảnh quê hương” đã in vào trong tâm khảm mỗi con người Việt Nam khi nghĩ về cội nguồn, quê quán.
Và khi nhắc đến "hình ảnh" của kiến trúc làng xã đó không thể không
kể đến kiến trúc của Đình làng - nơi chứng kiến những sinh hoạt, lề thói và mọi đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam qua bao thế kỷ….
Là một sinh viên kiến trúc Khi học và tìm hiểu về lịch sử kiến trúc ta nên có một cái nhìn nhận về những giá trị tinh túy của một thời đã qua, để
từ đó rút ra những bài học quý báu cho bản thân mình trên con đường trở thành Kiến trúc sư tương lai.
Bài tiểu luận này sẽ phân tích tổng quan về kiến trúc Đình làng, theo các phần:
1) Giới thiệu về Đình làng.
2) Chức năng của Đình làng.
3) Các thành phần bố cục trong Đình làng.
4) Kiến trúc, bộ khung kết cấu của Đình làng
5) Điêu khắc và trang trí của Đình làng.
Và cuối cùng là lời cảm ơn đến thầy Vũ An Khánh đã tận tình giảng dạy
và truyền đạt kiến thức.
Trang 4
1) Lược sử.
Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, Trần Văn Chánh, Nguyễn Quốc Hùng: Đình(亭 ) là cơ quan hành chính cấp cơ sở đời Tần, Hán, nhà Hán chia đất cứ mười dặm (khoảng 5km) là một đình, mười đình là một làng, nên người coi việc làng là đình trưởng (亭⻑), tức lí trưởng bây giờ
Từ Đình này thuộc bộ Đầu, để phân biệt với từ Đình thuộc bộ khác, tuy đồng âm nhưng khác nghĩa Từ Đình này ghép 1 số từ khác như:
Quá nhai đình: Cái đình, bên đường làm nhà
cho khách qua lại trọ
Lương đình: Kiến trúc có mái nhưng không có
tường chung quanh, thường cất ở vườn hoa
hoặc bên đường, cho người ta ngắm cảnh
hoặc nghỉ
Vọng đình: Chòi canh gác dùng để quan sát
tình hình quân địch
Đình làng Việt: Là nơi sinh hoạt cộng đồng
của 1 làng, vua quan khi ngang qua làng
cũng nghỉ chân tại đây, sau đấy còn được treo các pháp lệnh vua ban thời Lê sơ, có thời điểm như thời Trần thêm chức năng thờ cúng Phật, dần dần nó phát triển thành
1 loại hình kiến trúc công cộng dân gian cho các hoạt động của làng xã vừa thờ cúng Thành hoàng
Thế kỷ 16, thời Mạc đã gây dựng được nhiều Đình lớn như Đình Thụy Phiêu – Ba
Vì, Tây Đằng- Ba Vì-Hà Tây, Lỗ Hạnh- Bắc Giang Từ thời Lê trung Hưng
Thế kỷ 17, kiến trúc đình làng phát triển rầm rộ khắp các làng xã với sự đóng góp của quần chúng nhân dân và sáng tác tập thể 1 số đình thời kỳ này như Đình Thổ tang- Vĩnh phúc, Đình Hương Canh – Vĩnh Phúc, Đình Hoàng Xá – Hà Tây, Thổ
Hà , Phù Lão…
Thế kỷ 18 – thời Lê mạt việc xây dựng đình làng có giảm sút do hoàn cảnh xã hội nhưng vẫn xuất hiện những đình quy mô, trang trí tinh xảo như Đình Chu Quyến , đình Đình Bảng- Bắc Ninh, Nhân Lí- Hải Dương, Thạch Lỗi – Hải Dương
Thế kỷ 19, dưới thời vua Gia Long, cũng xây dựng một số đình lớn như Tam
Tảo-Hà Bắc, An Đông – Quảng Ninh… nhưng về kiến trúc và điêu khắc đã giảm sút đi nhiều Dưới thời vua Minh mạng thì chuyển sang kết cấu xây vôi gạch, ít dùng gỗ, chỉ có ở miền núi dùng gỗ chủ yếu
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ ĐÌNH LÀNG
Đình làng So - Quốc Oai, Hà Nội (1a)
Trang 52) Đình làng
Đình làng nguyên là nơi thờ thành hoàng theo phong tục tín ngưỡng trong xã hội Việt Nam cổ đại Kiến trúc đình làng là hình ảnh tiêu biểu nhất của kiến trúc truyền thống Việt Nam với đầu đao cong vút lên chính là hình ảnh của những ngôi nhà mái cong hình thuyền đã được khắc họa trên trống đồng Đông Sơn Đó chính là sự thể hiện rõ nét nhất về việc bảo lưu, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc,
những mái nhà hình thuyền bằng những vật liệu thô sơ tranh tre mái lá xa xưa đã được chuyển tải một cách tài tình thành những mái ngói với những đầu đao cong vút rất đặc trưng và độc đáo của kiến trúc truyền thống dân tộc
Đình làng là thể loại công trình phục vụ cho tôn giáo, tín ngưỡng Đình làng còn
là một công trình thuộc thể loại kiến trúc công cộng dân dụng do tính chất phục vụ
đa chức năng Ngoài là nơi thờ Thành hoàng làng, đình làng còn là trung tâm hành chính, quản trị phục vụ cho mọi hoạt động của cộng đồng làng xã; là nơi làm việc của Hội đồng kỳ mục thời phong kiến; nơi hội họp của dân làng Đây cũng là nơi diễn ra các lễ hội làng truyền thống, nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của làng Với
ba chức năng cơ bản trên (tín ngưỡng, hành chính, văn hóa-văn nghệ), đình
làng là nơi diễn ra nhiều hoạt động của làng xã Việt Nam dưới thời phong kiến
Phía trước đình làng thường có sân rộng, hồ nước cây xanh tạo cảnh quan Kiến trúc đình làng có thể 5-7 gian, hoặc có thế có tới 7 gian hai chái như ở đình làng
Đình Bảng Đây cũng là số gian lớn nhất mà kiến trúc cổ Việt Nam có được Đình
làng thường phố biến loại bốn mái, có khi cũng phát triển thêm loại tám mái (kiểu chồng diêm) do những ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa về sau này
Đình làng Đình Bảng - Từ Sơn, Bắc Ninh (1b)
Trang 63) Mặt bằng Đình.
Có thể là kiểu chữ Nhất (—) (kiểu này thường thấy ở các đình cổ, thế kỷ XVI)
Quy mô, phức tạp hơn với những bố cục mặt bằng có tên gọi theo dạng: chữ Đinh (T), chữ Nhị (—), chữ Công (X), chữ Môn ( ) Đây là các dạng mặt bằng xuất hiện về sau, bổ sung cho sự phong phú của đình làng Việt Nam, đi liền với quá trình phát triển thêm về mặt chức năng của đình làng
Không gian cảnh quan, kiến trúc đình làng thường phát triển cả phía sau, phía trước và hai bên, với nhiều hạng mục: hậu cung, ống muỗng (ống muống), tường
cánh gà, tiền tế, các dãy tả vu, hữu vu, tam quan, trụ biểu, hồ nước, thủy đình
Trong bố cục đó, không gian chủ yếu vẫn là tòa đại đình (đại bái), là nơi diễn ra các hoạt động hội họp, khao vọng, phạt vạ Đại đình là tòa nhà lớn nhất trong quần thể, bề thế, trang trọng Đại đình ở các đình cổ thường có sàn lát ván, cao từ 60 đến
80 cm, chia làm ba cốt cao độ, là sự phân chia thứ bậc cho những người ngồi ở Đại đình, Ở những tòa Đại đình của các ngôi đình chưa có hậu cung, bàn thờ Thành
hoàng được đặt ở chính gian giữa đại đình, gian này không lát ván sàn và có tên là
"Lòng thuyền"
Đình làng không những có giá trị về mặt kiến trúc cao, là kiến trúc thuần Việt nhất của dân tộc, mà còn là kho tàng hết sức giá trị về mặt điêu khắc dân gian Đây
là thế giới cho nền nghệ thuật điêu khắc dân gian phát triển mạnh mẽ Trên các vì kèo, tất cả các đầu bẩy, đầu dư, đố, xà kẻ, ván gió, ván nong (dong) là nơi các
nghệ sĩ điêu khắc dân gian chạm khắc các đề tài tái hiện cuộc sống và lao động của con người, cảnh sắc thiên nhiên giàu tính dân gian và phong phú, sinh động Chính
vì vậy, các điêu khắc đình làng còn có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu về cuộc sống vật chất, tinh thần của người Việt Nam trước đây Nó có giá trị lịch sử sâu sắc
Phối cảnh đình làng mô phỏng(1c)
Trang 7CHƯƠNG II: CHỨC NĂNG CỦA ĐÌNH LÀNG
1) Chức năng tín ngưỡng.
Trong các đình làng Việt Nam, vị thần được thờ cúng là Thành Hoàng làng, vị vua tinh thần, thần hộ mệnh của làng Khi tín ngưỡng Thành Hoàng du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc cũng nảy sinh ra một số Thành Hoàng mà chức năng cũng giống như ở Trung Quốc…Các vua triều Nguyễn còn lập miếu thờ Thành
Hoàng làng ở tỉnh và huyện Nhưng khi tín ngưỡng Thành Hoàng về làng, xã thì nó
đã biến đổi khác với tín ngưỡng Thành Hoàng ở Trung Quốc Như vây, tín nguỡng Thành Hoàng Trung Quốc khi du nhập vào làng xã Việt Nam thì các yếu tố văn hóa Hán, hoặc hiện tượng Hán hóa khác bị cổng làng chặn lại thì nó lại tìm thấy các tín ngưỡng bản địa có tính tương đồng, nên hội nhập rất thuận lợi với hệ thống tín
ngưỡng đa nguyên của Việt Nam
Ngoài các vị thần, ở đình làng còn thờ những
người có công khai phá đất mới, lập làng, như: Hai
hoàng tử thời Lý là Đông Chinh Vương và Dực Thánh
Vương, Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn
Cư Trinh … Ở miền Bắc thường gặp ở các vùng ven
biển dân làng thờ những người có công khai hoang
lấn biển Những người gọi là “tiên hiền” là những
người đến trước, “hậu hiền” là những người đến sau tiếp tục công cuộc “khai canh, khai khẩn” Thành Hoàng có thể là người xuất thân hèn kém, có người chết vào giờ thiêng cũng được thờ làm thần Trong lễ hội, người ta thường cử hành “hèm” để nhắc lại thần tích của các vị Thành Hoàng làng này
Những người có công đóng góp cho làng sau khi chết được dân làng thờ làm
“hậu thần”, hàng năm cúng giỗ ở đình Có người khi còn sống đóng góp cho làng trên cơ sở có khoán ước với làng, được ghi thành văn bản, đôi khi được khắc vào bia
đá Họ được “bầu hậu” khi chết đi được thờ làm “hậu thần” và được làng hương khói hàng năm Ngoài ra, ở một số làng nghề thủ công người ta còn thờ tổ nghề gọi là
“tiên sư” Trong miền Nam các “tiên sư” được thờ ở nhà hậu của đình làng, chỉ có một số ít “tiên sư” được thờ ở chánh điện
Tóm lại, các thần làng Việt Nam biểu hiện một hệ thống tín ngưỡng đa nguyên
Đó là một hệ thống pha lẫn nhiều yếu tố tín ngưỡng sơ khai của cư dân nông nghiệp (tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ mẹ, các thần sức mạnh tự nhiên…) với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người anh hùng và có phần ảnh hưởng không nhiều của của đạo Phật và đạo Nho
(2a)
Trang 82) Chức năng Hành chính.
Đình làng thực sự là trụ sở hành chính - nơi mọi công việc về hành chính của
làng đều được tiến hành ở đó Từ việc xét xử các vụ tranh chấp, phạt vạ, khao vọng,
từ thu tô thuế đến việc bắt lính, bỏ các xuất phu đinh
Chủ thể tiến hành các hoạt động hành chính ở đình làng là các vị có chức danh
Chánh tổng, Lý trưởng, Phó lý, Trưởng tuần và các viên quan của Hội đồng hương
kì, kì mục Cơ sở để giải quyết các công việc của làng được dựa vào lệ làng hoặc
hương ước Hương ước là một hình thức luật tục Gắn với hoàn cảnh, phong tục, tập quán lâu đời của từng làng mà nhân dân có các bộ luật nhà nước không thể bao
quát được
Các làng đều có hương ước riêng với nội dung rất cụ thể khác nhau Tuy
nhiên, hương ước làng bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
+ Những qui ước về ruộng đất: việc phân cấp công
điền, công thổ theo định kì và qui ước về việc đóng góp
(tiền và thóc)
+ Qui ước về khuyến nông, bảo vệ sản xuất, duy
trì đê đập, cấm lạm sát trâu bò, cấm bỏ ruộng hoang,
chặt cây bừa bãi
+ Những quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm
của các chức dịch trong làng Việc xác định chức dịch trong làng nhằm hạn chế họ lợi dụng quyền hành và thế lực để mưu lợi riêng
+ Những quy định về văn hóa tư tưởng, tín ngưỡng Đó là những quy ước
nhằm đảm bảo các quan hệ trong làng xóm, dòng họ, gia đình, láng giềng, được duy trì tốt đẹp Quy định về việc sử dụng hoa lợi của ruộng công vào việc sửa chữa, xây dựng đình, chùa, điện, quy định về thể lệ tổ chức lễ hội, khao vọng, lễ ra làng, lễ nộp cheo…
Hương ước còn có những quy định về hình phạt đối với ai vi phạm Vi phạm
mức độ nào thì nộp phạt hoặc phải làm cỗ ở đình làng để tạ tội với Thành Hoàng
làng Hình phạt cao nhất là bị đuổi ra khỏi làng
Có thể nói, hương ước là một bộ luật của làng xã Về cơ bản, hương ước chứa đựng nhiều giá trị văn hóa dân gian tốt đẹp, được hình thành lâu đời và nếu được chắt lọc có thể phát huy những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống làng xã hiện nay
Với đặc điểm của tính tự trị và tính cộng đồng của làng xã, hoạt động hành chính và quản lí của làng xã được tiến hành có hiệu quả Đình làng với tư cách là trụ
sở hành chính đã trở thành biểu tượng của tính tự trị và sự cố kết cộng đồng trong suốt chiều dài lịch sử của mình
(2b)
Trang 93) Chức năng văn hóa.
Đình làng là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cả làng “Cây đa, bến nước, sân đình” đã đi vào tâm hồn của người dân quê Đỉnh cao của các hoạt động văn hóa ở đình làng là lễ hội Làng vào hội cũng được gọi là vào đám, là hoạt động có quy mô
và gây ấn tượng nhất trong năm đối với dân làng Ở các làng quê Việt Nam còn có hội chùa, hội đền nhưng phần lớn là hội làng được diễn ra ở đình làng gắn với đời sống của dân làng Lễ hội bao gồm hai phần chính là: Phần lễ và phần hội:
+ Lễ là các hoạt động có tính nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng
+ Hội là hoạt động mang tính giải trí, gắn liền với thế tục, nghệ thuật, thể dục, thể thao Nhưng trong một số trò chơi hội làng cũng có ý nghĩa tâm
linh, gắn với mục đích cầu mưa, cầu mùa Lễ hội ở làng diễn ra “xuân thu, nhị kì” vào các dịp nông nhàn
Lễ hội phần lớn vào tháng Giêng, có nơi vào thành hai, tháng ba âm lịch Lễ hội thu thường vào tháng bẩy, tháng tám Đó là hai lễ hội lớn, còn trong năm người ta cúng
lễ Thành Hoàng làng
Sau phần tế lễ là các hoạt động vui chơi, giải trí Sân đình trở thành sân khấu diễn xướng, ca hát Ở những hội làng Bắc Bộ, sân đình thường có chiếu chèo, vùng Bắc Ninh, Bắc Giang sân đình gắn với hội hát quan họ
Mỗi địa phương có trò chơi khác nhau, thỏa mãn con người với nhiều nhu cầu như: Nhu cầu tâm linh (các trò chơi gắn với cầu mưa, cầu mùa, cầu ngư ), nhu cầu cộng cảm, nhu cầu thể hiện sức mạnh, sự tài trí Các trò chơi gắn liền với nghi lễ
cầu mưa, cầu mùa, như: Cướp cầu, kéo co, đua thuyền…
Cho đến nay, cúng đình và lễ hội vẫn là hình thức sinh hoạt cộng đồng tiêu
biểu ấn tượng nhất của làng xã Trong sinh hoạt tín ngưỡng đó, người dân vẫn tin vào sự phù hộ của các vị thần trong mùa màng và đời sống Hội làng ở đồng bằng Bắc Bộ sau một thời gian bị đứt đoạn đã có sự phục hồi nhanh chóng, chứng tỏ dân làng vẫn có nhu cầu về tâm linh Điều đó cũng chứng tỏ sức sống bền bỉ của tín
ngưỡng thờ Thành Hoàng làng
Lễ hội đua thuyền ở đình làng Túy Loan (2d)
Lễ hội chơi cờ người ở đình Hòa Ninh (2c)
Trang 10Đại đình:
Là nơi hành lễ sinh hoạt công cộng, hành chính nên cần không gian và diện tích lớn, trang trọng, bề thế Các Đại đình thường có 5,7 gian có trái hoặc không trái
Mái Đại đình có 2 dạng: Dạng có 4 mái và dạng có 2 mái, tường xây bịt 2 trái ( loại này niên đại muộn hơn) Những Đình có niên đại sớm thường không có tường hay vách gỗ bao quanh Đại đình ban đầu có dạng chữ Nhất, về sau hậu cung phát triển lùi phía sau tạo thành hình chữ Đinh, Công Có những ngôi đình có sàn gỗ, thường cách mặt đất khoảng 50-60 cm Gian chính giữa thường không có sàn còn gọi là gian lòng thuyền Gian này được coi là lối của Thánh hay Thành hoàng làng được thờ
trong đình và nó cũng là nơi để thực hiện các nghi lễ thờ cúng Sàn ở các gian đối xứng 2 bên, sàn có các mức cốt, cốt thấp nhất là dành cho các bô lão và chức sắc trong làng Họ sẽ ngồi đối diện qua gian lòng thuyền Đây điều rất bất ngờ theo
cách nghĩ thông thường thì các cụ chức sắc và bô lão thường ngồi chiếu trên trong các bữa tiệc nhưng ở đây họ lại ở cốt sàn thấp nhất, những người khác sẽ ở phía sau Điều này cho thấy rõ công năng hội họp của đình
CHƯƠNG III: BỐ CỤC VÀ THÀNH PHẦN CỦA ĐÌNH
Đình có thể là một công trình độc lập hay một quần thể kiến trúc cũng có khi nằm cạnh chùa thành một quần thể lớn Các công trình được bố cục đối xứng qua trục chính chạy dài Các công trình thành phần: Hồ nước, Nghi môn, Nhà Tiền tế, Đại Đình – hậu cung, 2 bên có thêm nhà hành lang hữu, tả vu đối xứng 2 bên Ngoài
ra phía trước Đình làng thường có nhiều cây xanh, sân rộng để có thể tập hợp đông người những ngày lễ hội
Mô hình phát triển đình dạng sơ khai (hình trái), Mô hình phát triển đình quy mô đầy đủ (hình phải)
(3a)