Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động thì những chủ thể sau đây có quyền khởi kiện vụ án lao động: Người lao động; tập thể lao động; người sử dụng
Trang 1khởi kiện vụ án lao động
ThS Lưu Bình Nhưỡng *
1 Về mặt lí luận, tranh chấp lao động
không tự nhiên được cơ quan tòa án xét
xử Bởi vì điều đó vi phạm quyền tự định
đoạt của đương sự
Quyền khởi kiện vụ án lao động thực
chất là quyền yêu cầu giải quyết tranh
chấp lao động Chính vì nhận định đó mà
nội dung của quyền khởi kiện bao hàm
những vấn đề quan trọng như: Quyền đó
do ai thực hiện, phương thức thực hiện
như thế nào, những trường hợp qua đó
quyền khởi kiện được đảm bảo (ví dụ như
trong trường hợp có sự trắc trở), tính hợp
pháp của quyền khởi kiện Trong phạm
vi của bài viết này, quyền khởi kiện được
đề cập thông qua những nội dung cơ bản
sau đây:
a Những ai có quyền khởi kiện vụ án
lao động?
Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
thì những chủ thể sau đây có quyền khởi
kiện vụ án lao động: Người lao động; tập
thể lao động; người sử dụng lao động và
công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở
+ Người lao động khởi kiện vụ án lao
động có thể tự mình hoặc thông qua chủ
thể khác Việc thông qua chủ thể khác có
thể xảy ra trong những trường hợp:
- Người lao động ủy quyền cho cá
nhân khác tham gia tố tụng;
- Người lao động có hạn chế về năng
lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi có
thể thông qua người đại diện (ví dụ:
Trường hợp người lao động là người dưới
15 tuổi, người lao động có nhược điểm
về thể chất hoặc tâm thần mà không thể
tham gia tố tụng, người lao động chưa đủ
18 tuổi);
+ Trong trường hợp người lao động đT chết thì người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng sẽ khởi kiện và tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao
động
+ Tập thể lao động khởi kiện thông thường thông qua tổ chức công đoàn cơ
sở Tuy nhiên, việc tập thể lao động khởi kiện là vấn đề có nhiều tranh luận Bình thường công đoàn cơ sở sẽ đứng ra tổ chức việc khiếu kiện nhưng sẽ là không bình thường khi có một trong hai trường hợp sau xảy ra:
- Đơn vị sử dụng lao động chưa có hoặc không có tổ chức công đoàn cơ sở;
- Đơn vị có tổ chức công đoàn cơ sở nhưng công nhân - viên chức không tín nhiệm các thành viên của tổ chức công
đoàn cơ sở này và họ tự khởi kiện không thông qua công đoàn
Về mặt khoa học thì bất cứ tranh chấp nào giữa tập thể lao động và đơn vị sử dụng lao động đều được xác định là tranh chấp lao động tập thể và vì vậy tập thể lao
động hoặc người sử dụng lao động đều có quyền khởi kiện Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng muốn được xác định
là tranh chấp lao động tập thể thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải
có sự tham gia của tổ chức công đoàn
Đây là quan điểm không có tính khoa học vì nó đT lấy nhu cầu tham gia công đoàn một cách tự nguyện làm điều kiện cho tranh chấp lao động tập thể
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2+ Người sử dụng lao động khởi kiện
cũng có thể là chính đơn vị sử dụng lao
động đó hoặc là đơn vị sử dụng lao động
kế thừa các quyền và nghĩa vụ tố tụng
(như trong trường hợp sáp nhập, phân
chia, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lí
hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh
nghiệp) Nếu đơn vị sử dụng lao động là
tổ chức thì hành vi khởi kiện do người đại
diện theo quy định của pháp luật, theo
điều lệ thực hiện hoặc có thể do người
được ủy quyền thực hiện Tuy nhiên, cần
phân biệt giữa hành vi ủy quyền trong nội
bộ với hành vi ủy quyền cho cá nhân
khác thực hiện
+ Liên quan đến việc bảo vệ quyền và
lợi ích của tập thể lao động, pháp luật còn
quy định quyền khởi kiện vụ án lao động
của công đoàn cấp trên của công đoàn cơ
sở Trong trường hợp "công đoàn cấp trên
của công đoàn cơ sở khởi kiện thì sẽ tham
gia tố tụng như nguyên đơn và công đoàn
cơ sở của tập thể lao động có quyền và
lợi ích cần được bảo vệ phải tham gia tố
tụng với tư cách là nguyên đơn" (Điều 19
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh
chấp lao động) Vấn đề cần được làm rõ ở
đây là công đoàn cấp trên của công đoàn
cơ sở là cơ quan nào?
Theo quy định về cơ cấu tổ chức hệ
thống công đoàn thuộc Tổng liên đoàn
lao động Việt Nam thì công đoàn cấp trên
của công đoàn cơ sở khởi kiện có thể là
một trong các trường hợp: Tổng liên đoàn
lao động, liên đoàn lao động cấp tỉnh, liên
đoàn lao động cấp huyện; công đoàn
ngành trung ương; công đoàn ngành địa
phương hoặc công đoàn tổng công ti
Tuy nhiên, ở đây cũng cần phải có sự
phân biệt giữa quyền khởi kiện và tư cách
đương sự trong mối quan hệ giữa công
đoàn với tập thể lao động và những người
lao động (có trường hợp tổ chức công
đoàn tham gia tố tụng vì cá nhân người lao động do được yêu cầu hoặc chỉ định)
để tránh hiện tượng từ chỗ nhầm lẫn tư cách đến nhầm lẫn trong việc lựa chọn phương thức xử sự khi tham gia tố tụng
So sánh quy định này với quy định tại
Điều 29 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự thì tư cách của tổ chức xT hội khởi kiện vì lợi ích chung khác với công đoàn cấp trên của công đoàn cơ cở khởi kiện Theo quy định của luật tố tụng dân sự nếu tổ chức xT hội khởi kiện vì lợi ích chung thì chính tổ chức xT hội đó phải tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn
b Việc khởi kiện phải được tiến hành trong phạm vi nào?
ở đây có 2 vấn đề cần đề cập đó là vấn đề không gian và thời gian
+ Về phạm vi không gian Quyền khởi kiện phải được thực hiện trong phạm vi không gian theo quy định của pháp luật Không có quyền khởi kiện nào được tự do thực hiện một cách tuyệt
đối mặc dù nó phải đảm bảo là vấn đề tự nguyện Với lập luận như vậy thì cá nhân hoặc tổ chức muốn khởi kiện vụ án lao
động phải đưa vụ việc mà họ đang quan tâm đến tòa án
Việc khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân có thể được tiến hành tại tòa án nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh tùy thuộc vào tính chất của tranh chấp đó Nếu tranh chấp lao động cá nhân có "yếu tố nước ngoài" thì "tòa
án có thẩm quyền" giải quyết là tòa án nhân dân cấp tỉnh và vì vậy, việc khởi kiện phải được thực hiện tại tòa án nhân dân cấp tỉnh Theo quy định của pháp luật thì hầu hết các tranh chấp đều được khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp huyện (Điều
12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động)
Trang 3Việc khởi kiện tranh chấp lao động
tập thể thì trái lại luôn luôn được khởi
kiện tại tòa án nhân dân cấp tỉnh vì tòa án
nhân dân cấp huyện không có thẩm
quyền giải quyết (Điều 12 Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các tranh chấp lao động)
Tuy nhiên, ở đây lại phải phân biệt
giữa việc khởi kiện và thẩm quyền giải
quyết của tòa án nhân dân cấp tỉnh Có
những vụ việc cụ thể tuy thẩm quyền giải
quyết thuộc tòa án nhân dân cấp huyện
nhưng tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để
giải quyết Trong trường hợp này, việc
khởi kiện trước đó vẫn được tiến hành tại
tòa án nhân dân cấp huyện và sau đó
được tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết
Phạm vi không gian của quyền khởi
kiện còn liên quan đến thẩm quyền của
tòa án theo lTnh thổ và theo sự lựa chọn
của nguyên đơn Điều này có nghĩa là
việc khởi kiện ra tòa án cụ thể cần phải
được người khởi kiện cân nhắc nếu muốn
đơn kiện đến được địa chỉ cần thiết Theo
quy định tại các Điều 13 và Điều 14 của
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh
chấp lao động thì việc khởi kiện cần chú
ý tới những chi tiết sau:
Nếu xét về khía cạnh lTnh thổ (thực
chất là theo địa hạt hành chính) thì việc
khởi kiện phải được tiến hành tại tòa án
nơi làm việc hoặc cư trú của bị đơn (nếu
bị đơn là cá nhân) hoặc nơi có trụ sở
chính của bị đơn (nếu bị đơn là pháp
nhân), trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác
Nếu xét về khía cạnh thỏa thuận của
các bên thì pháp luật cho phép các bên có
quyền thỏa thuận chọn tòa án nơi làm
việc hoặc cư trú của bị đơn để yêu cầu
giải quyết
Nếu xét về khía cạnh quyền của
nguyên đơn thì pháp luật cho phép
nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong
các tòa án quy định tại Điều 2 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
để khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động và tùy theo những cơ sở và
lí do nêu tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6
Điều 14 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động mà nguyên đơn sử dụng quyền tự do lựa chọn của mình để tiến hành khởi kiện tại một trong những tòa án nêu trên
+ Về mặt thời gian Yêu cầu về mặt không gian nếu chỉ rõ
địa chỉ khởi kiện thì quy định về thời gian xác định tranh chấp lao động còn nằm trong thời hiệu bắt buộc giải quyết hay không
Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động thì thời hạn khởi kiện được xác định như sau:
- 1 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp hoặc 6 tháng kể từ ngày hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hòa giải không thành đối với các tranh chấp về xử
lí kỉ luật lao động theo hình thức sa thải,
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc về bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động;
- 6 tháng kể từ ngày hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hòa giải không thành đối với các tranh chấp lao động cá nhân khác;
- 3 tháng kể từ ngày có quyết định về tranh chấp lao động tập thể của hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh mà tập thể lao
động, người sử dụng lao động không
đồng ý với quyết định đó
Tuy nhiên, có những vấn đề cần phải
được làm rõ và xác định một cách rành mạch về những sự kiện liên quan đến thời hiệu khởi kiện nêu trên
Trang 4Theo quy định tại Điều 167 Bộ luật
lao động thì thời hiệu yêu cầu giải quyết
tranh chấp lao động cá nhân là một năm
đối với các tranh chấp về xử lí kỉ luật lao
động theo hình thức sa thải hoặc đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động,
tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho
người sử dụng lao động; 6 tháng đối với
các loại tranh chấp lao động khác kể từ
ngày mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền,
lợi ích của mình bị xâm hại Vấn đề cần
được làm sáng tỏ và cần được xác định
thống nhất ở đây là giữa "ngày phát sinh
tranh chấp" được Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các tranh chấp lao động quy định
và "ngày mỗi bên cho rằng quyền và lợi
ích của mình bị vi phạm" có phải là một
hay không?
Nếu theo cách hiểu thông thường thì
"ngày phát sinh tranh chấp" không thể là
"ngày mỗi bên cho rằng quyền và lợi ích
của mình bị vi phạm" được Phải chăng ở
đây đT không có sự nhất quán giữa thời
hiệu quy định của Bộ luật lao động và
thời hiệu khởi kiện do Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các tranh chấp lao động quy
định? Tuy nhiên, quan điểm lấy điểm bắt
đầu của thời hiệu là "ngày phát sinh tranh
chấp" là hợp lí hơn vì nó nói rõ thời điểm
mà tranh chấp xuất hiện hay nói cách
khác, kể từ thời điểm đó, trong các chủ
thể đT bắt đầu xuất hiện sự cảm nhận về
nhu cầu hoặc đT xuất hiện nhu cầu giải
quyết xung đột của họ
Để đảm bảo quyền của người khởi
kiện, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
các tòa án khi xem xét thời hiệu khởi kiện
"cần áp dụng các quy định tại các Điều
từ 168 đến 171 của Bộ luật dân sự về thời
gian không tính vào thời hạn khởi kiện,
tính lại thời hạn khởi kiện" (Công văn số
40/KHXX ngày 6/7/1996)
c Thủ tục khởi kiện vụ án lao động
Người khởi kiện vụ án lao động phải
có đơn kiện Đơn kiện chính là bằng chứng về việc yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động, được quy định tại khoản 2
Điều 32 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Ngoài những nội dung cơ bản, đơn kiện phải được nguyên đơn hoặc đại diện của nguyên đơn kí đồng thời kèm theo
đơn kiện, người khởi kiện phải có các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình Tuy các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động không quy
định về mẫu đơn kiện nhưng với những nội dung như vậy cũng có thể dễ dàng hình dung về đơn kiện cho vụ án lao
động
2 Việc khởi kiện vụ án lao động tạo
ra những hậu quả pháp lí khác nhau tùy thuộc vào giá trị của vấn đề được yêu cầu giải quyết, thời hiệu yêu cầu giải quyết và các yếu tố khác liên quan tới tranh chấp
và việc giải quyết tranh chấp đó Tuy nhiên, tựu trung lại có thể thấy rõ những hậu quả pháp lí sau đây:
a Tòa án chấp nhận đơn kiện và thụ
lí vụ án để giải quyết theo thủ tục luật
định Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động thì "khi tòa
án xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình thì thông báo ngay cho nguyên đơn biết" và "trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nộp đơn, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí" (khoản 1 Điều 35) Việc thụ lí vụ án được tiến hành kể từ ngày nguyên đơn xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí hoặc từ ngày nhận
đơn (nếu nguyên đơn thuộc một trong những trường hợp được quy định tại Điều 31) Nếu vụ việc được tòa án thụ lí thì
Trang 5trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thụ lí,
tòa án phải thông báo cho bị đơn và người
có quyền và nghĩa vụ liên quan biết nội
dung đơn kiện của nguyên đơn (khoản 1
Điều 36)
b Tòa án trả lại đơn kiện
Tòa án có thể trả lại đơn kiện khi có
một trong những trường hợp sau:
- Người nộp đơn không có quyền khởi
kiện;
- Đơn kiện làm không đúng quy định
tại khoản 2 Điều 32 của Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án lao động;
- Thời hiệu khởi kiện đT hết;
- Tranh chấp chưa được hội đồng hòa
giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao
động của cơ quan lao động cấp huyện cử
ra hoặc hội đồng trọng tài lao động cấp
tỉnh giải quyết trước, trừ những tranh
chấp không nhất thiết phải qua hòa giải
được quy định tại khoản 2 Điều 166 Bộ
luật lao động;
- Tranh chấp đó đT được giải quyết
bằng bản án hoặc quyết định đT có hiệu
lực pháp luật của tòa án hoặc bằng quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền khác;
- Tranh chấp đó không thuộc thẩm
quyền giải quyết của tòa án
Về việc trả lại đơn kiện trong trường
hợp tranh chấp chưa được giải quyết
thông qua hoà giải hoặc trọng tài: Đây là
quy định nghe ra có vẻ hợp lí và đúng với
tiến trình giải quyết tranh chấp lao động
mà Bộ luật lao động đT quy định Nhưng
trong thực tế, nhiều doanh nghiệp hoặc
đơn vị sử dụng lao động chưa có hội đồng
hòa giải lao động cơ sở, một số địa
phương chưa thành lập hội đồng trọng tài
lao động Nếu tòa án không thụ lí giải
quyết thì tranh chấp đó sẽ được cơ quan
nào giải quyết hay gác tranh chấp đó lại
để chờ thành lập xong hội đồng hòa giải
hoặc hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh
để các cơ quan, tổ chức này giải quyết tranh chấp xong mới đưa ra giải quyết tại tòa án? Thực ra, kể cả hai trường hợp trên
đều không phù hợp với phương châm là tranh chấp lao động phải được giải quyết kịp thời - nhanh chóng và càng không đáp ứng được tính chất nóng bỏng của thực tiễn Nên chăng cần có quy định tạo cho các bên được quyền lựa chọn cá nhân hay
tổ chức trung gian đứng ra giải quyết thay vì quy định tiến trình cứng nhắc như hiện nay là cứ nhất thiết phải qua hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh
c Tòa án di lí vụ việc tới tòa án có thẩm quyền để giải quyết
Việc khởi kiện vụ án lao động có thể
được tiến hành tại tòa án cụ thể Mặc dù tòa án đó đT tiến hành thụ lí nhưng chưa chắc tòa án đó đT có thẩm quyền xét xử Trong trường hợp này tòa án đT thụ lí vụ
án phải có trách nhiệm chuyển hồ sơ vụ án cho tòa án có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho đương sự, các cơ quan, tổ chức và những người liên quan biết Quy
định này không ảnh hưởng đến quyền khởi kiện và thực chất là bảo toàn hậu quả pháp
lí của hành vi khởi kiện trước đó Vì vậy, người khởi kiện không phải thực hiện lại việc khởi kiện hoặc thực hiện những nghĩa
vụ khác vì trước đó họ đT không khởi kiện đúng địa chỉ Hơn nữa, ngay ở thời
điểm thụ lí vụ án, chính bản thân tòa án
đT nhận đơn của họ cũng không hình dung được hết vấn đề nên đT không có sự chỉ dẫn cần thiết cho người khởi kiện./