1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Phân loại tội phạm " pptx

5 368 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 7,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, trong lĩnh vực luật hình sự, phân loại tội phạm có ý nghĩa đối với việc xây dựng nhiều chế định của phần chung như tái phạm, tái phạm nguy hiểm, chuẩn bị phạm tội, phạm tội

Trang 1

VỆ phân loại tội phạm có ý nghĩa lớn

về các mặt chính trị, xã hội, pháp lí

và thực tiễn, không chỉ trong lĩnh vực lập

pháp và áp dụng luật hình sự mà còn có ý

nghĩa đối với hoạt động lập pháp tố tụng

hình sự, thực tiễn áp dụng nhiều quy định

của luật tố tụng hình sự Ngoài ra, việc

phân loại tội phạm còn có ý nghĩa đối với

việc phân loại và xây dựng chế độ của

từng loại trại giam giữ, thực hiện chính

sách phân hóa đối tượng giam giữ Đặc

biệt, trong lĩnh vực luật hình sự, phân loại

tội phạm có ý nghĩa đối với việc xây

dựng nhiều chế định của phần chung như

tái phạm, tái phạm nguy hiểm, chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt, che giấu tội

phạm, không tố giác tội phạm và trong

phần các tội phạm, việc phân loại tội

phạm là cơ sở để thống nhất cho việc xây

dựng các cấu thành tội phạm và các

khung hình phạt tương ứng đối với từng

loại tội Thực hiện chính sách hình sự của

Nhà nước, việc phân loại tội phạm trong

luật hình sự vừa là biểu hiện rõ rệt các

nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt

Nam mà trước hết là nguyên tắc pháp chế

XHCN, nguyên tắc cá thể hóa trách

nhiệm hình sự vừa là đòi hỏi của các

nguyên tắc này trong thực tiễn áp dụng

Với những ý nghĩa to lớn đó, việc phân

loại tội phạm đã được đặt ra và thực hiện

trong luật

Thực ra, việc phân loại tội phạm

không phải là vấn đề mới, trái lại, nó đã

được thực hiện trong thực tiễn áp dụng

luật hình sự nước ta trước khi có Bộ luật

hình sự năm 1985 Pháp luật hình sự của

nhiều nước trên thế giới cũng quy định

việc phân loại tội phạm Tuy vậy, do

38 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

PHAN LOAI TOI PHAM

PHAM VAN BAU *

những đặc điểm riêng của mỗi nước, mỗi

thời kì, trình độ lập pháp, chính sách hình sự nên có các cách phân loại tội phạm khác nhau

Ở các nước cộng hòa thuộc Liên Xô

cũ, nhà làm luật căn cứ vào tính chất và

mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội

phạm chia tội phạm ra bốn loại: Các tội không nguy hiểm lớn cho xã hội; các tội

ít nghiêm trọng; các tội nghiêm trọng; các tội đặc biệt nghiêm trọng

Ở Pháp, Bộ luật hình sự năm 1992

chia tội phạm thành ba loại: Tội đại hình (tội có mức hình phạt cao nhất đến tù

chung thân); tội tiểu hình (tội có mức

phạt cao nhất đến 10 năm tù); tội vi cảnh

(tội chỉ bị áp dụng các hình phạt vi cảnh)

Bộ luật hình sự năm 1972 của Việt Nam cộng hòa cũng chia tội phạm thành

ba loại: Trọng tội (tội có quy định các hình phạt đại hình - tử hình, khổ sai chung thân); khinh tội (tội có quy định

hình phạt tiểu hình tối thiểu 11 ngày, tối

đa 5 năm tù); tội vi cảnh (tội có quy định hình phạt vi cảnh tối thiểu l ngày, tối đa

1Ô ngày)

Ở MI, cơ sở của việc phân loại tội

phạm là mức hình phạt luật định Trong

Bộ tổng luật của Hợp chủng quốc Hoa Kì

đã quy định: I) Bất kì hành vi xâm phạm

nào bị luật quy định mức án tử hình hoặc

phạt tù có thời hạn đến l năm là trọng

tội; 2) Các hành vi xâm phạm còn lại là khinh tội; 3) Những khinh tội nào mà

hình phạt quy định không quá 6 tháng tù

hoặc phạt tiền 500 USD hoặc đồng thời

cả hai hình phạt đó là hành vi xâm phạm

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường Đại học luật Hà Nội

Trang 2

không đáng kể

Trong khi đó, luật hình sự một số

nước lại không có quy định phân loại tội

phạm Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa ©

nhân dân Trung Hoa nam 1979 có định

nghĩa khái niệm tội phạm và phân biệt tội

phạm với trường hợp không phải là tội

phạm trong Điều 10 nhưng không phân

loại tội phạm Luật hình sự Nhật Bản

không định nghĩa khái niệm tội phạm và

cũng không quy định phân loại tội phạm

Ở nước ta, thời kì trước khi Bộ luật

hình sự 1985 được ban hành vì những lí

do khác nhau chưa có định nghĩa khái

niệm tội phạm và việc phân loại trong

luật Nhưng trong các sách báo pháp lí đã

có định nghĩa tội phạm và việc phân loại

tội phạm đã được đặt ra trong thực tiễn áp

dụng luật hình sự, tuy chưa thống nhất và

chưa có tính khái quát cao như trong Bộ

luật hình sự hiện hành Dưới đây xin nêu

ra một số cách phân loại:

Cách thứ nhất: Trong một số đạo luật

như Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 ấn

định thẩm quyên các tòa án, Pháp lệnh

ngày 23/3/196I quy định cụ thể về tổ

chức Tòa án nhân dân tối cao và tòa án

nhân dân địa phương, Nghị định số 32

ngày 6/4/1952 của Bộ tư pháp có nói đến

các khái niệm “tội hình sự nhỏ”, “tội hình

sự thường”, “trọng tội”

Cách thứ hai: Các tội phạm được phân

thành ba nhóm lớn: Các tội phản cách

mạng (nay là các tội đặc biệt nguy hiểm

xâm phạm an ninh quốc gia); các tội

phạm kinh tế (hiểu ở nghĩa rộng bao gồm

cả tội xâm phạm sở hữu và các tội về

kinh tế hiểu ở nghĩa hẹp); các tội hình sự

khác

Cách thứ ba: Theo cách phân loại này,

các tội phạm được phân thành hai loại:

Loại những tội phạm nghiêm trọng và

loại những tội phạm ít nghiêm trọng như

luật hình sự hiện nay nhưng: cơ sở của

việc phân loại khác nhau Trong tờ trình

về dự thảo hai pháp lệnh ngày 19/10/1970 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công

an gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội trong phần Chính sách xử lí có đoạn viết:

%Tái phạm nguy hiểm: Theo hai pháp lệnh này có tái phạm nguy hiểm là khi nào trong điều luật quy định là có tái phạm nguy hiểm và khi nào:

- Trước đã bị xử án về một tội nghiêm

trọng sau cũng phạm một tội nghiêm trọng;

- Hoặc trước đã vài ba lần bị xử án về tội không nghiêm trọng nay phạm vào một tội không nghiêm trọng

Tội nghiêm trọng là những tội:

- Tự bản chất nó là tội nghiêm trọng

(cướp, cố ý húy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản);

- Hoặc xảy ra với những tình tiết tăng

nặng quy định ở các khung 2 và 3 của

các điêu luật về các tội phạm mà pháp lệnh quy định là có tái phạm nguy hiểm,

ví dụ: Cướp giật, tham ô, trộm cắp

- Các văn bản pháp luật hình sự cũ trừng trị các tội xâm phạm tài sản không quy định cụ thể các khung hình phạt như hai pháp lệnh mới Nên nếu can phạm bị

xử phạt từ Š năm tù trở lên thì coi là đã phạm một tội nghiêm trọng”®)

Kế thừa kinh nghiệm lập pháp của

Nhà nước ta, tổng kết thực tiễn xét xử, diễn biến của tình hình phạm tội, tham

khảo kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài, trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985, sau định nghĩa khái niệm tội

phạm tại khoản 1 Điều 8, ở khoản 2 điều

luật này nhà làm luật đã phân tội phạm thành hai loại: Tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 39

Trang 3

khung hình phạt đối với tội đó là trén 5

năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Những tội phạm khác là tội phạm ít

nghiêm trọng

Với quy định này, lần đầu tiên về mặt

lập pháp, tất cả các tội phạm được phân

thành hai loại Điều này đã phản ánh

bước phát triển mới tiến tới hoàn thiện

pháp luật hình sự Việt Nam

Tuy vậy, từ thực tiễn áp dụng BLHS

hơn 10 năm qua, thực tiễn tình hình phạm

tội, tham khảo pháp luật hình sự các nước

trên thế giới cho thấy cùng với nhiều quy

định khác, quy định về phân loại tội

phạm trong khoản 2 Điều 8 BLHS nước

ta cần được sửa đổi nhằm đáp ứng đồi hỏi

ngày càng cao của nguyên tắc pháp chế,

nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình

sự Việc sửa đổi này theo hướng khắc

phục những hạn chế của luật hình sự hiện

hành trong việc phân loại tội phạm

Những hạn chế đó theo chúng tôi là:

- Chưa chỉ rõ cơ sở của việc phân loại

tội phạm;

- Chỉ có định nghĩa tội phạm nghiêm

trọng, không định nghĩa tội phạm ít

nghiêm trọng;

- Việc phân tội phạm thành hai loại là

quá khái quát dẫn đến hạn chế tính chính

xác của các chế định khác của luật hình

sự và các ngành luật liên quan, hạn chế

việc thực hiện chính sách xử lí có phân

hóa trong thực tiễn áp dụng luật hình sự

1 Về cơ sở của việc phân loại tội

phạm

Hiện nay, đang có những ý kiến rất

khác nhau về cơ sở của việc phân loại tội

phạm

- Ý kiến thứ nhất lấy mức chế tài

(hình phạt) làm cơ sở cho việc phân loại

tội phạm;

- Ý kiến thứ hai cho rằng việc phân

loại tội phạm phải dựa vào cơ sở là hình

40 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

thức lỗi;

- Ý kiến thứ ba phân loại tội phạm

trên cơ sở mức hình phật mà tòa án

tuyên;

- Ý kiến thứ tư cho rằng hình thức lỗi

và mức hình phạt là cơ sở của việc phân loại tội phạm;

- Ý kiến thứ năm cho rằng mức độ nguy hiểm cho xã hội và hình thức lỗi là

cơ sở của việc phân loại tội phạm??

Thực ra, dựa trên những cơ sở khác

nhau, có rất nhiều cách phân loại tội

phạm Nếu dựa trên cơ sở khách thể có

thể phân tội phạm thành các nhóm (loại)

tội phạm khác nhau Dựa trên cơ sở này, BLHS năm 1985 phân các tội phạm thành

13 nhóm (loại) tội phạm (các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm những

quyền tự do dan chủ của công dân; các

tội xâm phạm sở hữu XHCN ) Nếu dựa trên cơ sở mặt chủ quan (lỗi và hình thức

lỗi) có thể phân tội phạm thành loại các

tội phạm cố ý và loại các tội phạm vô ý

Bởi vậy, cần tìm một hay nhiều cơ sở có

tính khái quát nhất phản ánh được đầy đủ

các thuộc tính khách quan, chủ quan, các dấu hiệu cơ bản của tội phạm để phân

loại tội phạm

Sẽ là không cần thiết nếu tranh luận

các ý kiến trên đây là đúng hay sai bởi phân loại theo căn cứ nào cho hợp lí còn phụ thuộc vào mục đích của sự phân loại Mặt khác, chúng ta cần xem xét các cơ sở trên đây có tính khái quát, phản ánh được

đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã

hội của các trường hợp phạm tội hay

không Theo chúng tôi, mỗi ý kiến trên

đây đều có hạt nhân hợp lí của nó song

cơ sở để phân loại tội phạm chưa dap ứng

được yêu cầu (đòi hỏi) trên

Điều cần chú ý là việc phân loại tội

Trang 4

XAY DUNG PHAP LUAT |

phạm, việc chọn căn cứ này hay căn cứ

khác làm cơ sở đều phải dựa vào tội

phạm, vào những thuộc tính cơ bản của

tội phạm Bởi vì, “khi phân loại một sự

vật mà không dựa vào những thuộc tính

vốn có của sự vật đó thì sự phân loại sẽ

thiếu chính xác, thiếu tính ổn định”®°)

Chính vì vậy, việc phân loại tội phạm

phải dựa vào định nghĩa tội phạm (khoản

1 Điều 8 BLHS) Trong các dấu hiệu của

tội phạm đã được luật quy định (tính

nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính

trái pháp luật hình sự, tính chịu hình

phạt) Dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã

hội là dấu hiệu cơ bản và quan trọng

nhất, quy định các dấu hiệu khác Các

dấu hiệu: Có lỗi, trái pháp luật hình sự,

phải chịu hình phạt tuy là những dấu hiệu

của tội phạm và cũng có ý nghĩa độc lập

tương đối nhưng xét cho cùng, các dấu

hiệu này đều bị quy định bởi dấu hiệu

tính nguy hiểm cho xã hội” Tính nguy

hiểm cho xã hội ở định nghĩa tội phạm

không nên hiểu chỉ là đặc tính khách

quan của hành vi mà cần hiểu rằng nó là

dấu hiệu phản ánh sự đánh giá tổng hợp,

khái quát các thuộc tính khách quan và

chủ quan của tội phạm của nhà làm luật

Nhà làm luật quy định tội phạm trong

luật hình sự chỉ là sự xác nhận thực tế

khách quan đã được nhận thức qua việc

đánh giá nhiều tính tiết khác nhau của

hành vi hoặc có liên quan đến hành vi

như tính chất của quan hệ xã hội bị xâm

hại, tính chất của hành vi khách quan,

mức độ thiệt hại gây ra, tính chất và mức

độ lỗi

Từ những phân tích trên đây theo

chúng tôi, dấu hiệu phản ánh một cách

khái quát nhất, đầy đủ nhất các thuộc tính

khách quan và chủ quan của các trường

hợp phạm tội là tính nguy hiểm cho xã

hội của tội phạm Nó không chỉ là dấu

hiệu cơ bản, quan trọng nhất của tội

phạm mà còn là cơ sở duy nhất của việc

phân loại tội phạm trong luật hình sự Việt Nam thành các loại tội nghiêm trọng và Ít

nghiêm trọng Tính nguy hiểm cho xã hội

nói ở đây là dấu hiệu vật chất, phản ánh

không chỉ về “chất” mà còn phản ánh cả

vệ “lượng” nguy hiểm cho xã hội của tội

phạm Những “lượng” và “chất” nguy

hiểm này được xác định qua việc đánh giá tổng hợp nhiều tình tiết khách quan

và chủ quan nói trên và việc đánh giá này

là quyền của các nhà làm luật Những

“lượng” và “chất” nguy hiểm cho xã hội của tội phạm phải được đo bằng đại lượng đo lường để không những phân biệt

tội phạm với không phải tội phạm mà còn

là đấu hiệu để nhận biết đâu là tội

nghiêm trọng và đâu là tội phạm ít nghiêm trọng nhất là đối với người áp dụng luật và mọi công dân Đại lượng đó chính là hình phạt Loại và mức hình phạt được quy định trong luật đối với từng loại tội phụ thuộc vào tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội đó, là kết quả của sự đánh giá về mặt chính trị - xã hội của nhân dân thông qua nhà làm luật đối với tội phạm Như vậy, loại và mức hình phạt không phải là cơ sở của việc phân loại tội phạm Tuy vậy, khi đã được quy định trong luật hình sự tương ứng với mỗi loại tội phạm, hình phạt cũng là một trong các dấu hiệu

để ta nhận biết được tội nào là tội nghiêm

trọng, tội nào là tội ít nghiêm trọng

Từ những điều trình bày trên, theo

chúng tôi, cơ sở của việc phân loại tội

phạm là tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Cơ sở này cần phải được thể

hiện rõ trong luật Trong định nghĩa về tội phạm nghiêm trọng và về tội phạm ít nghiêm trọng tại khoản 2 Điều § BLHS

1985, nhà làm luật tuy không chỉ rõ cơ sở phân loại tội phạm nhưng theo chúng tôi, nhà làm luật đã phân loại tội phạm dựa

trên cơ sở tính nguy hiểm cho xã hội của

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 41

Trang 5

tội phạm Trong tờ trình Quốc hội thông

qua Phần chung BLHS có đoạn viết:

“Điều 8 phân biệt tội phạm nghiêm trọng

và tội phạm ít nghiêm trọng Sự phân biệt

này căn cứ vào tính chất của quan hệ xã

hội bị xâm phạm, tính chất và mức độ

nguy hiểm của hành vi phạm tội, vào tính

chất và mức độ của hậu quả gây ra”

Tổng hợp những dấu hiệu này chính là

tính nguy hiểm cho xã hội, hay nói cách

khác, tính nguy hiểm cho xã hội của tội

phạm chỉ được thể hiện một cách đầy đủ

trong sự tổng hợp của nhiều tình tiết

khách quan và chủ quan nói trên

2 Tội phạm cần được phân thành

bao nhiêu loại

Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề

này Về mặt lí luận, việc phân chia tội

phạm thành nhiều loại sẽ thuận lợi cho

việc thực hiện nguyên tac cá thể hóa

trách nhiệm hình sự trong thực tiễn áp

dụng Nhưng nói như vậy không có nghĩa

là phải chia thành thật nhiều loại, bởi vì

không thể cá thể hóa trách nhiệm hình sự

một cách tuyệt đối trong luật Không thể

định ra các loại và mức hình phạt cho

từng trường hợp phạm tội cụ thể Việc

phân loại tội phạm vừa để giải quyết vấn

để xác định tính nguy hiểm cho xã hội

của những loại tội phạm vừa là để đáp

ứng yêu cầu xây dựng các chế định khác

của luật hình sự và các ngành luật liên

quan, thực hiện các nguyên tắc của luật

hình sự và đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh

phòng, chống tội phạm BLHS 1985 phân

tội phạm thành hai loại là quá khái quát,

hạn chế việc quy định chính xác các chế

định khác của luật hình sự, hạn chế khả

năng thực hiện nguyên tắc xử lí có phân

biệt đối với từng loại tội phạm có tính

nguy hiểm cho xã hội khác nhau trong

_ thực tế Nhưng nếu chia thành quá nhiều

loại tội cũng sẽ dẫn đến những khó khăn

42 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

về mặt lập pháp

Trên cơ sở thực tiễn của hoạt động lập

pháp hình sự trong những năm qua và việc áp dụng luật hình sự, tình hình phạm tội trong thực tế và việc vận dụng các quy định hiện hành của luật hình sự, tham khảo pháp luật hình sự của một số nước,

chúng tôi thấy rằng sẽ là hợp lí nếu phân

các tội phạm thành ba loại: Tội phạm Ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho

rằng nên có điều luật riêng quy định về phân loại tội phạm Điều luật đó quy định

TÕ cơ sở của việc phân loại tội phạm trong một khoản và chỉ rõ loại tội và định

nghĩa khái quát loại tội Điều luật đó có

thể như sau:

Điều: Phân loại tội phạm Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, các tội phạm được quy

định trong Bộ luật này được phân chia thành ba loại:

1 Tội phạm ít nghiêm trọng là tội

phạm có tính nguy hiểm không lớn cho

xã hội mà luật quy định hình phạt đối với

tội ấy là 5 năm tù trở xuống hoặc các

hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn

2 Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm

có tính nguy hiểm lớn cho xã hội mà mức

cao nhất của khung hình phạt đối với tội

ấy là trên 5 năm tù đến 15 năm tù

3 Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là

tội phạm có tính nguy hiểm rất lớn cho

xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình./

(1) Xem: Hệ thống hóa luật lệ hình sự, Tập 2,

tr.240

(2) Xem: Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng

hình sự Việt Nam Nxb CTQG, 1994, tr.176, 177

(3) Xem: Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam Nxb CAND, 1991, tr.14, 15.

Ngày đăng: 08/03/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w