Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt
Trang 1Đặt Vấn Đề
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt Định nghĩa khái niệm tội phạm này vừa đúng, nhưng cũng có thể chưa đúng Nó chỉ đúng với thời đại ngày nay thôi, còn trong giai đoạn phong kiến Việt Nam, nó chỉ đúng một phần Tội phạm ở thời đó không chỉ ở trong luật hình sự mà là
tất cả các lĩnh vực của luật pháp Tại sao lại thế ? Giải quyết bài tập: “Quan niệm về tội phạm, cách phân loại tội phạm và ý nghĩa của việc phân loại tội phạm trong pháp luật phong kiến Việt Nam”, chúng ta có thể tự trả lời
Giải quyết vấn đề
I Quan niệm về tội phạm và những yếu tố ảnh hưởng
1.Quan niệm về tội phạm
Nếu như trong luật hình sự hiện nay, việc quy dịnh về tội phạm thông qua nội dung trong việc định nghĩa tội phạm là vấn đề đầu tiên, thì pháp luật phong kiến Việt Nam không như thế Và nếu như hiện nay tội phạm chỉ là đối tượng duy nhất đối với luật hình sự thì theo quan niệm của ông cha ta trong cổ luật, tội phạm là đối tượng của tất cả các lĩnh vực pháp luật phong kiến Việt Nam
Các bộ luật phong kiến Việt Nam cho chúng ta thấy pháp luật hình sự lúc đó mang tính phổ biến, có quan niệm rất rộng về tội phạm Biện pháp trừng phạt hình sự được áp dụng không những đối với các tội phạm hiểu theo khái niệm của luật hình sự hiện đại thuộc đối tượng xử lý của luật hình sự mà còn đối với các hành vi vi phạm của quy định về các quan hệ trong lĩnh vực hành chính, lĩnh vực lễ nghi, lĩnh vực gia đình, lĩnh vực ruộng đất, lĩnh vực thuế,… Trong các bộ luật phong kiến Việt Nam không có điều luật định nghĩa khái niệm tội phạm nhưng qua các điều luật cụ thể của chúng thì cũng đã phần nào phản ánh được quan niệm về tội phạm của các nhà làm luật lúc bấy giờ
Trang 2Thứ nhất, quan niệm về tội phạm theo hướng thiên về dấu hiệu hình thức Cụ thể,
phần lớn các điều luật luôn chứa một công thức: “người nào phạm tội X thì phải chịu hình phạt Y” Hay quy định tại năm loại hình phạt có thể áp dụng Đó là xuy,
trượng, đồ, lưu, tử tương ứng với năm loại tội được thừa nhận trong các bộ luật Như vậy dựa vào hình phạt vừa có thể phân biệt giữa các loại tội phạm vừa gắn tên với từng loại tội phạm với chính từng hình phạt
Thứ hai, chỉ là tội phạm khi được quy định trong luật Việc thừa nhận dấu hiệu này khẳng định sự hiển diện của nguyên tắc “ không có luật thì không có tội ”(vô luật bất hình, pháp căn hay luật định) - một sự biểu hiện của nguyên tắc pháp chế trong bộ luật Trong các bộ luật không có điều luật cụ thể quy định trực tiếp vấn đề này nhưng
việc quy định xử phạt quan xử án không đúng luật trong hành vi “tự mình xét
xử”(Điều 683 QTHL) hay “xử án không đúng luật”(Điều 686 QTHL) đã gián tiếp
khẳng định dấu hiệu “được quy định trong luật của tội phạm”
Thứ ba, pháp luật phong kiến Việt Nam không có điều luật khẳng định dấu hiệu nội dung của tội phạm Nhưng các quy định về tội phạm thể hiện, tội phạm xâm phạm trước hết đến sự an toàn, bất khả xâm phạm của chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam, mà trước hết là sự an toàn của nhà vua và hoàng cung, xâm phạm trật tự, kỉ cương, đạo đức xã hội theo quan điểm Nho giáo, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, tài sản Đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ khác nhau Nếu như luật hình sự hiện đại phân biệt mức độ của tính nguy hiểm của tội phạm với mức độ nguy hiểm của những hành vi mà theo luật hiện đại chỉ là vi phạm hành chính, đạo đức, kỷ luật thì theo pháp luật phong kiến Việt Nam tất cả các hành vi nói trên đều bị coi là tội phạm, không phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm Như vậy, tội phạm theo pháp luật phong kiến Việt Nam rộng hơn rất nhiều khái niệm tội phạm trong pháp luật hình sự hiện đại
Thứ tư, theo quan niệm của các nhà làm luật lúc bấy giờ, họ không đặt vấn đề phân biệt giữa trường hợp có lỗi và phải chịu trách nhiệm hình sự với trường hợp
Trang 3không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm hình sự Họ chỉ đặt ra vấn đề phân biệt giữa trường hợp cố ý và trường hợp lầm lỡ (vô ý) để xác định mức độ trách nhiệm hình sự trong áp dụng cũng như trong công việc quy định hình phạt khác nhau ở một
số tội phạm cụ thể Từ nguyên tắc chung này trong các chương quy định về tội phạm
cụ thể của pháp luật phong kiến Việt Nam, các hình phạt cụ thể được quy định cho một số trường hợp cố ý hoặc lầm lỡ ở một số tội phạm VD: Điều 497 QTHL quy định
về việc đánh lầm lỡ Điều 261 HVLL quy định về làm chết, bị thương người bởi vui chơi, lầm lỡ, ngộ sát, mức phạt đều thấp hơn mức bình thường Bên cạnh đó, độ tuổi của chủ thể tuy được đặt ra nhưng nhằm mục đích giải quyết vấn đề nhân đạo trong chính sách hình sự Với mục đích đó, các điều luật gộp tuổi thấp với độ tuổi cao và phát triển không bình thường thành từng cặp để xác định trách nhiệm hình sự VD: Điều 16 QTHL: người 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống cùng người bị phế tật phạm tội lưu trở xuống có thể chuộc bằng tiền; 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống cùng người
bị ác tật phạm tội ác nghịch cũng có thể cho chuộc; 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống phạm tội chết cũng không được hành hình Trong HVLL, đối với tội mưu phản Điều
223, “người già trên 90 tuổi vẫn xử chém bởi tuổi đã già nhưng vẫn nhận biết được.
Còn trẻ em dưới 15 tuổi còn ấu trĩ không biết gì nên khỏi chết”
Ngoài ra, pháp luật phong kiến Việt Nam có những quy định mang tính khái quát
về tình tiết giảm nhẹ hay loại trừ trách nhiệm hình sự, nhưng có những quy định cụ thể, đơn lẻ về những tình tiết đó VD: phòng vệ chính đáng (thừa nhận quyền tự vệ của cá nhân); tình tiết cấp thiết ( khẩn cấp: quy định đối với cả việc công lẫn việc tư ); thi hành mệnh lệnh ; quá thất sát thương ( những việc lầm lỡ, xét theo tình trạng để giảm tội Lầm lỡ nghĩa là việc xảy ra ngoài sứ
c người, tai mắt không kịp nhận thấy, không kịp nghĩ tới, hay vì vật nặng, sức người không chống nổi hoặc trèo lên trên cao tới những chỗ nguy hiểm để săn bắt cầm thú, để đến nỗi sát thương người)
Trang 4Thứ năm, pháp luật phong kiến Việt Nam không phân biệt mức độ nguy hiểm khi xác định tội phạm nhưng khi xác định mức độ trách nhiệm hình sự cho tội phạm cụ thể thì vấn đề đó được đặt ra Như vậy, yếu tố ảnh hưởng đến hình phạt hay mức độ nặng nhẹ của tội phạm chính là mức độ nguy hiểm của tội phạm So với quan niệm của các nhà làm luật hiện đại thì quan niệm của các nhà làm luật phong kiến Việt Nam cho rằng, quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân xét về địa vị xã hội, địa vị trong dòng họ, gia đình theo lễ giáo phong kiến là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ nặng nhẹ của hình phạt và mức hình phạt Mức nguy hiểm cho xã hội tỉ lệ thuận với địa vị của nạn nhân và tỉ lệ nghịch với địa vị của người phạm tội Bên cạnh đó, chức quyền hay lợi dụng chức quyền của chủ thể cũng làm tính nguy hiểm của tội phạm Ngoài những điểm đó, các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của tội phạm cũng tương tự pháp luật hình sự hiện nay Cụ thể: tính chất quan trọng của đối tượng cần bảo vệ, mức độ vi phạm, mức độ hậu quả của tội phạm, nội dung lỗi, động cơ của tội phạm
Pháp luật phong kiến Việt Nam cũng đã thể hiện vấn đề đồng phạm Các nhà làm luật đã có quy đinh riêng đối với người phạm tội - đồng phạm và phân biệt vai trò cụ thể của từng người Đồng phạm khi đồng tội, giải nghĩa và giải thích hợp nhất: đồng tội là cùng có tội nhưng trong đồng tội cũng có hai nghĩa, đem chỗ nặng nhẹ của mỗi người mà chia khác nhau Người thực hiện tội phạm chia làm hai loại đó là người thực hiện đồng thời là người chủ mưu - người khởi xướng và người chỉ giữ vai trò thực hiện – người a tòng Trên cơ sở đó người khởi xướng phải chịu hình phạt cao hơn người a tòng Đối với người thực hiện cũng đã phân biệt thủ phạm (người thực hiện chính) và tòng phạm (không phải người thực hiện chính).Trong đó thủ phạm và chủ mưu chịu trách nhiệm như nhau, tòng phạm nhẹ hơn Bên cạnh đó, pháp luật phong kiến Việt Nam còn quy định trách nhiệm hình sự của người có hành vi xúi giục người khác phạm tội hoặc hành vi tạo điều kiện (giúp sức) hoặc hành vi dung túng người
Trang 5khác phạm tội Đây là điểm đáng chú ý thể hiện thể hiện thái độ trừng trị của Nhà nước đối với mọi tội phạm
Ngoài ra, cổ luật còn xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong trường hợp các giai đoạn phạm tội như: đã hành động, chưa hành động (chuẩn bị) hay
đã thành, chưa thành Như vậy các nhà làm luật phong kiến Việt Nam cũng đã trừng trị những trường hợp mà hậu quả chưa xảy ra hoặc xảy ra nhưng chưa gây ra kết quả nhằm ngăn ngừa hậu quả gây ra cho gia đình và xã hội
2 Những tư tưởng, quan niệm ảnh hưởng đến quan niệm tội phạm trong Pháp luật phong kiến Việt Nam
Nguyên nhân của quan niệm tội phạm gần như đồng nhất với nguyên nhân vì sao trong giai đoạn phong kiến, luật pháp đồng nhất với luật hình sự
Từ rất lâu, xã hội loài người đã tồn tại một tư tưởng: “thiên hạ vi công” Thiên
hạ là của chung hay tất cả những gì trong thiên hạ là của chung.Trong xã hội phong kiến, thiên hạ thuộc về người đứng đầu, đại diện cho nhân dân - đó là vua Những hành vi xâm phạm đến lợi ích, quan hệ xã hội mà vua đã quy định, đều phải bị trừng trị bởi hình phạt
Xã hội phong kiến chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi giáo lý Nho giáo Nho giáo truyền
bá vào nước ta mang theo bao giáo lý của Khổng tử, Mạnh Tử hay Trang tử trong đó
có những tích cực và hạn chế tới mức cực đoan của nó Tuy nhiên, giá trị nhân văn,
giá trị nhân đạo của Nho giáo là không thể phủ nhận Ngũ luân (năm quan hệ vua tôi, cha con, thầy trò , vợ chồng, anh em), ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), tam cương (ba mối quan hệ cơ bản: vua tôi, cha con, vợ chồng), tam tòng (quan niệm về người phụ nữ), hay chín chữ vàng của Nho giáo( tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) là
những giáo lý nhằm giáo dục còn người hướng đến cái chân, thiện, mỹ Con người trở nên tốt đẹp hơn khi biết giữ mình dưới những khuôn thước đó Mặt khác, giai đoạn này Nho giáo đã trở thành giáo lý chính thống trong hoạt động chính trị Bất kì sự vi phạm nào đối với các chuẩn mực Nho giáo đều bị xã hội lên án, Nhà nước cùng với
Trang 6pháp luật trừng trị Bên cạnh Nho giáo, tư tưởng của Pháp gia cũng được giai cấp thống trị phong kiến đề cao Lý luận của Pháp gia từ rất lâu đã được Quản Trọng,
Thương ưởng mà nổi bật nhất là Hàn Phi Tử nêu ra rằng:chỉ có “dĩ hình chỉ hình” là
phương pháp đúng đắn Chính vì vậy, xuyên suốt trong giai đoạn phong kiến, đường lối cai trị kết hợp giữa Đức trị và Pháp trị Không phải cái gì cũng có thể dùng Đức để
xử lý Cuộc sống luôn phức tạp, bản chất con người ngày càng thay đổi cho dù “nhân
tri sơ, tính bản thiện” Chính vì thế, những nghi lễ mà Đức không giải quyết được thì
bắt buộc pháp luật phải giải quyết Sự trừng phạt bởi pháp luật luôn là biện pháp nghiêm khắc và làm người ta sợ hơn là giáo dục
II Phân loại tội phạm và ý nghĩa của việc phân loại tội phạm
1 Phân loại tội phạm
Phân loại tội phạm là đòi hỏi cần thiết cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự trong luật cũng như áp dụng luật, chính vì thế vấn đề này được đặt ra trong các bộ luật Việc phân loại tội phạm chẳng những hỗ trợ cho việc áp dụng đúng luật mà nếu nhìn rộng
ra, nhà làm luật còn có thể dựa vào tính nguy hiểm quan hệ xã hội mà nó xâm hại để đánh giá, nhằm bảo vệ cho chế độ chính trị hiệu quả hơn
Trong giai đoạn phong kiến, chế độ quân chủ chính là hình thức chính thể xuyên suốt Nguyên thủ quốc gia - vua là người nắm quyền một cách tuyệt đối Việc tranh giành, nổi loạn, cướp ngai vàng hay làm thiên hạ đại loạn nó sẽ có tính chất khác với những tội phạm thông thường nên việc phân loại tội phạm giúp củng cố và bảo vệ cho địa vị của giai cấp thống trị
Cho đến nay, tuy còn một số bộ luật chưa xác định (ví dụ như luật Hình Thư ), nhưng nhìn chung, trong phần chung của các bộ luật phong kiến thì đã nêu ra các căn
cứ và đã phân loại tội phạm Có nhiều căn cứ để phân loại và sau đây là các căn cứ chính:
a Căn cứ vào loại hình phạt (chế tài):
Trang 7Đây là cách phân loại tội phạm dựa theo loại hình phạt được quy định cho tội đó Hệ thống hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam được chia làm hai loại là ngũ hình và các hình phạt ngoài ngũ hình, trong đó các hình phạt thuộc về ngũ hình đóng vai trò chủ đạo, và các hình phạt ngoài ngũ hình thường được coi là phụ hình kèm với chính hình trong ngũ hình Trong pháp luật phong kiến Việt Nam năm loại hình phạt
cụ thể là dấu hiệu để phân biệt giữa năm loại tội trong áp dụng luật Đó chính là xuy hình(đánh bằng roi); trượng hình(đánh bằng gậy);đồ hình(tù khổ sai); lưu hình(đi đày); tử hình(giết chết) Năm loai tội phạm đó, xét về mặt nội dung có sự phong kiến Việt Nam khác nhau về mức độ của tính nguy hiểm xã hội, chính vì thế nó trở thành một tiêu chí để phân loại tội phạm Trong các bộ luật, tội phạm nhiều chỗ cũng được gọi bằng các tội danh như: tội xuy, tội trượng, tội đồ, tội lưu, tội tử Cụ thể theo điều 1 chương Danh lệ của QTHL cũng như HVLL thì:
Tội xuy:có 5 bậc, từ 10 đến 50 roi gồm 10,20, 30, 40, 50 roi
Tội trượng: có 5 bậc từ 60 đến 100 trượng gồm 60, 70, 80, 90, 100 trượng
Tội đồ:
Theo QTHL: 3 bậc, phân biệt giữa công việc của đàn ông và đàn bà
Đối với đàn ông: 3 bậc bao gồm dịch đinh, tượng phường binh, chung điền binh
Đối với đàn bà: 3 bậc bao gồm dịch phu, xuy thất tỳ, thung thất tỳ
Theo HVLL: có 5 bậc đồ: 1 năm với 60 trượng; 1,5 năm với 70 trượng; 2 năm với
80 trượng; 2,5 năm với 90 trượng; 3 năm với 100 trượng
Tội lưu: 3 bậc lưu
Theo QTHL: gồm có lưu cận châu, lưu ngoại châu, lưu viễn châu
Theo HVLL: gồm 2000 dặm với 100 trượng; 2500 dặm với 100 trượng; 3000 dặm với 100 trượng
Tội tử:
Trang 8Theo QTHL: có 3 bậc giảo (thắt cổ), trảm (chém đầu); trảm kiêu (chém bêu đầu); lăng trì (tùng xẻo)
Theo HVLL: có 2 bậc giảo (thắt cổ), trảm (chém) Ngoài ra còn quy định nhuận tử(chết 2 lần) bao gồm lăng trì (xẻo chậm), trảm kiêu (chém bêu đầu); lục thi (chặt xác chết)
Bên cạnh ngũ hình còn có hình phạt ngoài ngũ hình như biếm, phạt tiền, thích chữ, tịch thu tài sản, sung vợ con làm nô tỳ nhưng chủ yếu là hình phạt đi kèm
Nhiều điều luật trong các bộ luật phong kiến Việt Nam cũng được xây dựng dựa trên phân loại tội phạm này VD: Trong QTHL và HVLL, điều 4 quy định về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho đối tượng phạm tội thuộc diện bát nghị (điều 3) đã phân biệt giữa trường hợp phạm tử tội với các trường hợp phạm tội khác Ngoài ra, một số điều luật quy định tội phạm cụ thể cũng dựa trên sự phân loại tội phạm này VD: Điều
131 QTHL quy định: “ông bà, cha mẹ và chồng bị tội tử hình còn đang phải giam mà
con cháu hay vợ lại đàn hát thì xử biếm 2 tư”
Phân loại tội phạm theo căn cứ này còn cho phép chúng ta nhận thấy rõ được quan điểm của các nhà làm luật thời bấy giờ trong việc đánh giá mức nguy hiểm của từng loại tội phạm, tính nghiêm khắc của từng loại hình phạt cũng như vai trò của các hình phạt trong việc duy trì trật tự xã hội có lợi cho Nhà nước phong kiến
b Căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm ( khách thể):
Theo căn cứ này, phân biệt được tội thập ác và tội thường Căn cứ này là kết quả gián tiếp của việc liệt kê mười loại tội được xem là nguy hiểm nhất đối với chế độ quân chủ cũng như đối với trật tự, kỉ cương, đạo đức xã hội
Loại tội thập ác bao gồm mười nhóm tội khác nhau, đó là nhóm mưu phản, nhóm mưu đại nghịch, nhóm mưu chống đối(mưu phiến), nhóm ác nghịch, nhóm bất đạo, nhóm đại bất kính, nhóm bất hiếu, nhóm bất mục, nhóm bất nghĩa và nhóm nội loạn
Do tính chất nguy hiểm đặc biệt của tôi thập ác nên cả QTHL và HVLL đều thể hiện thái độ trừng trị nghiêm khắc của Nhà nước đối với loại tội này Một trong những biểu
Trang 9hiện đó là các bộ luật có các quy định loại trừ không cho người phạm tội thập ác được hưởng các chế độ miễn giảm trách nhiệm hình sự như các tội phạm thường VD: Theo điều 4 QTHL quy đinh việc miễn giảm cho người phạm tội thuộc diện bát nghị đã
khẳng định: “ nếu phạm tội thập ác thì không theo luật này” Còn theo HVLL thì
phải tâu lên để vua quyết định Ngoài ra những quy định miễn giảm cho những trường hợp cụ thể cũng loại trừ trường hợp phạm tội thập ác Điều 11 QTHL còn quy định:
“những kẻ tội phạm tội tội ác nghịch thì dẫu có dịp ân xá cũng không được ân xá”.
Cùng với các quy định chung như vậy, các quy định về các tội cụ thể của tội thập ác cũng thể hiện thái độ trừng trị nghiêm khắc của Nhà nước phong kiến đối với tội thập
ác
Đối với các tội thường khác, các nhà làm luật đã căn cứ vào tính chất, mức độ của các hành vi để tạo thành những nhóm, những chương tương đối hợp lý(đương nhiên trừ những điều luật liên quan đến tội thập ác) Cụ thể:
Đối với QTHL phân ra như sau:
Nhóm tội xâm phạm về an toàn thân thể của vua, xâm phạm sự an toàn,yên tĩnh, nghi lễ cung phủ (Chương 2-Vệ cấm: từ điều 50 đến 96 )
Nhóm tội xâm phạm lễ nghi, quan hệ vua tôi, và chế độ quân chủ (Chương 3-Vi chế: từ điều 97 đến 240)
Nhóm tội phạm về quân sự (Chương 4-Quân chính: từ điều 241 đến 283)
Nhóm tội xâm phạm chế độ hôn nhân, gia đình, chế độ quản lý nhân khẩu (Chương 5-Hôn nhân: từ điều 284 đến 341)
Nhóm tội xâm phạm chế độ quân điền (Chương 6-Điền sản: từ điều 342 đến 400) Nhóm tội thông gian (Chương 7-Thông gian: từ điều 401 đến 410)
Nhóm tội đạo tặc (Chương 8-Đạo tặc: từ điều 411 đến 464)
Nhóm tội đấu tụng (Chương 9-Đấu tụng: từ điều 465 đến 514)
Nhóm tội trá nguỵ (Chương 10-Trá nguỵ: từ điều 515 đến 552)
Trang 10Nhóm tội xâm phạm an toàn nơi đông người (Chương 11-Tạp phạm: từ điều 553 đến 644)
Nhóm tội bộ vong (Chương 12-Bộ vong: từ điều 645 đến 656)
Nhóm tội đoán ngục (Chương 13-Đoán ngục: từ điều 658 đến 772)
Đối với HVLL:
Đạo tặc (giặc cướp): từ điều 223 đến 250
Nhân mạng (giết người): từ điều 251 đến 270
Đấu ẩu (đánh nhau): từ điều 271 đến 292
Lăng mạ (chửi mắng): từ điều 293 đến 300
Hối lộ (nhận của đút lót): từ điều 312 đến 320
Trá nguỵ (man trá, giả mạo): từ điều 321 đến 331
Phạm gian (gian dâm): từ điều 332 đến 340
Tạp phạm (nhóm tội cho phép chuộc bằng tiền): từ điều 341 đến 351
Các nhóm tội khác như:
Vi phạm chế độ quan chức
Vi phạm về dân sự, ruộng đất, nhà ở, cưới gả
Vi phạm về trật tự nghi chế, lăng tẩm các thời vua
Vi phạm về thương khố, chính sách thuế
Tội phạm về quân sự lưu thông
Vi phạm về tư pháp xét xử
Vi phạm về xây dựng, đê điều
c Căn cứ theo lỗi của chủ thể:
Theo căn cứ này tội phạm được chia thành hai loại là tội do cố ý và tội do vô ý Pháp luật phong kiến Việt Nam không quy định nội dung của lỗi cố ý và lỗi vô ý, tức
là không có định nghĩa thống nhất, đồng thời không quy định tội cố ý và tội vô ý riêng
rẽ khi quy định tội phạm cụ thể Nhưng quy định nguyên tắc chung, các nhà làm luật lại khẳng định rõ quan điểm xử phạt phân biệt giữa tội cố ý và tội vô ý