Nguồn lực phải hi sinh ở đây có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức laođộng và trí tuệ.Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính tiềnvốn, tài sản vật chất
Trang 1Mục lục
3
Lời mở đầu 3
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 4
1 Khái niệm 4
1.1 Đầu tư và phân loại đầu tư 4
1.1.1 Khái niệm: 4
1.1.2 Phân loại đầu tư: 5
1.1.2.1 Đầu tư tài chính (Đầu tư tài sản tài chính) 5
1.1.2.2 Đầu tư thương mại: 6
1.1.2.3 Đầu tư phát triển: 6
1.2 Các yếu tổ tác động tới đầu tư phát triển 10
1.2.1 Vốn 10
1.2.2 Sản lượng nền kinh tế 13
1.2.3 Môi trường đầu tư 14
1.2.4 Các nhân tố khác 16
1.3 Phát triển kinh tế 16
2 Phát triển kinh tế tác động đến đầu tư 17
2.1 Phát triển kinh tế làm tăng tích lũy, cung cấp thêm vốn cho đầu tư 17
2.2 Phát triển kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến đầu tư thông qua hệ số gia tốc đầu tư 20
2.2.1 Ưu điểm 23
2.2.2 Nhược điểm 23
2.3 Phát triển kinh tế góp phần cải thiện môi trường đầu tư 25
2.4 Phát triển kinh tế góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, năng lực công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển 28
2.5 Chính sách phát triển kinh tế giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển 30
2.6 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý giúp đầu tư đúng trọng tâm có hiệu quả 31
2.7 Phát triển kinh tế tác động đến đầu tư phát triển qua lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư:.32 2.8 Chu kì kinh doanh: 33
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2001 - 2010 35 1 Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư 35
1.1 Đầu tư trong nước 36
1.2 Đầu tư nước ngoài 37
2 Tình hình phát triển kinh tế Việt Nam từ 2001-2010 38
Trang 2CHƯƠNG III TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠO ĐIỀU KIỆN
CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM 40
1 Tác động của phát triển kinh tế đến đầu tư phát triển ở Việt Nam 40
1.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế góp phần cải thiện môi trường đầu tư 40
1.1.1 Sự ra đời và hoàn thiện luật đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy lượng vốn đầu tư vào Việt Nam 41
1.1.2 Kinh tế chính trị Việt Nam ổn định tạo môi trường đầu tư an toàn cho các nhà đầu tư 44
1.2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế làm tăng tỷ lệ tích luỹ, cung cấp thêm vốn cho đầu tư 44
1.3 Tăng trưởng kinh tế góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, năng lực công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển 45
2 Giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tạo điều kiện cho đầu tư phát triển 47
2.1 Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng nhằm thu hút đầu tư 47
2.1.1 Giải pháp thu hút đầu tư từ nguồn vốn trong nước 47
2.1.1.1.Chính sách tài chính: 47
2.1.1.2 Chính sách tiền tệ và tín dụng: 49
2.1.2 Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng nhằm tạo điều kiện thu hút đầu tư từ nước ngoài50 2.1.2.1.Giải pháp thu hút nguồn vốn ODA 51
2.1.2.2 Giải pháp thu hút nguồn vốn FDI 51
2.2 Áp dụng chặt chẽ các biện pháp về quản lý môi trường 54
KẾT LUẬN 54
Danh mục tài liệu tham khảo 55
Trang 3Nhóm thảo luận chúng em xin chân thành cám ơn PGS.TS Từ Quang Phương cùng các thầy cô giáo trong khoa đầu tư đã giúp đỡ chúng em thực hiện bài viết này
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kiến thức nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được những góp ý của thầy cô
để bài viết hoàn thiện hơn!
Lời mở đầu
Sau gần hai lăm năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước phát triển vượtbậc cả về kinh tế, văn hoá và xã hội Đảng ta đã thực hiện đường lối đổi mới,với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, đến nay, có thể khẳng định rằng Việt Nam đã bước đầu thực hiệnthành công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng vị thế quốcgia lên một tầm cao mới trên trường khu vực cũng như quốc tế
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tếtương đối cao, một vấn đề cấp thiết được đặt ra là làm thế nào để duy trì tốc độtăng trưởng và phát triển kinh tế ấy trong một thời gian dài Để phát triển kinh tế
Trang 4xã hội một cách bền vững thì một trong những điều kiện quan trọng là phải mởrộng đầu tư, đầu tư phát triển đúng hướng Đã là thành viên của tổ chức thươngmại thế giới WTO, Việt Nam đã chứng tỏ được mình là một điểm thu hút đầu tưhấp dẫn đối với các nhà đầu tư lớn trên thế giới Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
đổ vào Việt Nam tăng lên hết sức ấn tượng Nhưng đồng nghĩa với nó là nềnkinh tế nước ta đang phải đương đầu với bài toán lạm phát và thâm hụt cán cânthương mại
Câu hỏi đặt ra là chúng ta cần có những chính sách gì để không chỉ đầu tưtạo nên sự tăng trưởng v phát triển kinh tế, mà còn là vấn đề phát triển bền vững,hay là việc phát triển kinh tế đã tác động ngược trở lại đầu tư như thế nào? Pháttriển kinh tế khiến đầu tư phát triển có những bước chuyển biến ra sao? ViệtNam cần có những biện pháp gì để có sự tương tác tích cực tới đầu tư phát triển?
Nhận thức được tính chất quan trọng của vấn đề, chúng tôi lựa chọn đề
tài: “Tác động của phát triển kinh tế đối với hoạt động đầu tư phát triển”,
với mục đích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động của việcphát triển kinh tế tác động đến hoạt động đầu tư Trên cơ sở đó đưa ra một sốgiải pháp nhằm phát huy tối đa mối quan hệ này để phục vụ cho sự nghiệp pháttriển đất nước
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN
KINH TẾ ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư
Trang 5Nguồn lực phải hi sinh ở đây có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức laođộng và trí tuệ.
Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiềnvốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học…), tài sản trítuệ (trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề, trình độ quản lý,khoa học kĩ thuật… ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suấtlao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội Lợi ích trực tiếp do sự hoạt độngcủa nhà máy này đem lại cho nhà đầu tư là lợi nhuận, còn cho nền kinh tế là thoảmãn nhu cầu tiêu dùng (cho sản xuất và cho sinh hoạt ) tăng thêm của nền kinh
tế, đóng góp cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động…
1.1.2 Phân loại đầu tư:
Có nhiều cách để phân loại đầu tư theo các tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào đặc điểm chung nhất của hoạt động đầu tư thì chia thành đầu
tư tài chính - đầu tư phát triển - đầu tư thương mại
- Căn cứ vào bản chất đầu tư thì đầu tư phát triển chia thành: đầu tư cơ sở
hạ tầng - đầu tư sản xuất kinh doanh
- Căn cứ vào tài sản tạo thành: đầu tư tài sản hữu hình- đầu tư tài sản vôhình
- Căn cứ theo ngành chia thành: đầu tư các ngành sản xuất kinh doanh- đầu
tư vào các ngành phi sản xuất
- Căn cứ theo quá trình đầu tư: đầu tư theo chiều rộng- đầu tư theo chiềusâu
Trong phạm vi nghiên cứu của để tài, chúng ta có thể chia đầu tư ra làm 3loại : đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển
1.1.2.1 Đầu tư tài chính (Đầu tư tài sản tài chính)
- Khái niệm:
Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặcmua các giấy tờ có giá để hưởng lãi suất định trước( gửi tiết kiệm, mua tráiphiếu chính phủ), hay lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty phát hành( mua cổ phiếu, trái phiếu công ty)
Trang 6- Đặc điểm:
+ Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (Nếu không xétđến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chínhcủa các tổ chức, cá nhân đầu tư Nó tác động gián tiếp đến làm tăng tài sản củanền kinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích luỹ của các hoạt động đầu tưnày cho đầu tư phát triển và cung cấp vốm cho hoạt động đầu tư phát triển.+ Đầu tư tài chính thường được thực hiện gián tiếp thông qua các trung giantài chính như các ngân hàng, các quĩ đầu tư, công ty chứng khoán
+ Với sự hoạt động của hình thức đầu tư này, vốn được lưu chuyển dễ dàng,khi cần có thể rút ra nhanh chóng Đây thực sự là một nguồn cung cấp vốn quantrọng cho đầu tư phát triển
1.1.2.2 Đầu tư thương mại:
- Khái niệm:
Đầu tư thương mại là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra muahàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giákhi mua và khi bán
- Đặc điểm:
Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu khôngxét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của nhà đầu tư trongquá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán vớinhà đầu tư và giữa nhà đầu tư với khách hàng của họ Tuy nhiên đầu tư thươngmại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông, phân phối của cải vật chất do đầu
tư phát triển tạo ra Từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách,tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sảnxuất xã hội nói chung
1.1.2.3 Đầu tư phát triển:
- Khái niệm:
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn tronghiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài
Trang 7sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kĩ năng…), giatăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theonghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc,thiêt bị, tài nguyên Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giáhiệu quả hoạt động đầu tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực thamgia
Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏvốn thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phân cônglao động XH, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tưtheo lãnh thổ Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư chiathành hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợinhuận Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành:loại được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loạicấm đầu tư Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu tư chia thành: tài sản hữuhình( những tài sản cố định được sử dụng cho sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động) và tài sản vô hình( phát minh sángchế, bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá, uy tín, thương hiệu…)
Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sảnxuất của xã hội Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữakết quả kinh tế xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt được kết quả đó Kếtquả và hiệu quả đầu tư phát triển cần được xem xét cả trên phương diện chủ đầu
tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích phát huy vai trò chủđộng sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lí, kiểm tra giám sát của cơ quanquản lí nhà nước các cấp Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếptạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưđầu tư cho y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo… Nhưng lại rất quan trọng đểnâng cao chất lượng cuộc sống và vì mục tiêu phát triển, do đó cũng được xem
là đầu tư phát triển
Trang 8Trong các hình thức đầu tư trên thì đầu tư phát triển là tiền đề, là cơ sởcho các hoạt động đầu tư khác.
- Mục đích:
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốcgia, cộng đồng và nhà đầu tư Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nângcao đời sống của các thành viên trong xã hội Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tốithiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượngnguồn nhân lực…
Hoạt động của đầu tư phát triển là một quá trình diễn ra trong thời kì dài
và tồn tại vấn đề “độ trễ thời gian” Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữathời gian đầu tư và thời gian vận hành các kết quả đầu tư Đầu tư hiện tại nhưngkết quả thường được thu trong tương lai Đặc điểm này của đầu tư cần đượcquán triệt khi đánh giá kết quả ,chi phí và hiệu quả đầu tư phát triển
- Đặc điểm của đầu tư phát triển:
+ Quy mô tiền vốn vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triểnthường rất lớn Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiệnđầu tư Bên cạnh đó lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối vớicác dự án trọng điểm quốc gia
+ Thời kì đầu tư kéo dài: thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự
án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu tư pháttriển có thời gian kéo dài hàng chục năm
+ Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: thời gian vận hành các kếtquả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sửdụng và đào thải công trình Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài,
có thể tồn tại vĩnh viễn như các kim tự Tháp ở Ai Cập, nhà thờ La Mã ở Rôm,Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc…Trong suốt quá trình vận hành, các thànhquả đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực, của nhiều yếu tố tựnhiên, chính trị, kinh tê, xã hội…
Trang 9+ Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựngthường phát huy tác dụng ở ngay nơi no được tạo dựng nên, do đó, quá trìnhthực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởnglớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, XH vùng Không thể dễ dàng di chuyểncác công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác, nên công tác quản lí hoạtđộng đầu tư phát triển cần phải quán triệt đặc điểm này trên một số nội dungsau:
▪ Trước tiên, cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng đắn
▪ Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý
+ Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao, do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu
tư kéo dài, thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức độ rủi
ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao Rủi ro đầu tư do nhiều nguyênnhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lýkém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu…có nguyên nhân khách quan nhưgiá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt côngsuất thiết kế…
- Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển:
Hoạt động đầu tư phát triển bao gồm nhiều nội dung, tuỳ theo cách tiếpcận
Căn cứ vào lĩnh vực phát huy tác dụng, đầu tư phát triển bao gồm các nộidung sau: đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuậtchung của nền kinh tế, đầu tư phát triển văn hoá giáo dục y tế và dịch vụ XHkhác, đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật và những nội dung phát triển khác.Cách tiếp cận này là căn cứ để xác định quy mô vốn đầu tư, đánh giá kết quả vàhiệu quả hoạt động cho từng ngành lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân
Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư những tài sảnvật chất (tài sản thực) và đầu tư những tài sản vô hình Đầu tư các tài sản vậtchất gồm: đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) và đầu tư vào hàngtồn trữ Đầu tư tài sản vô hình gồm các nội dung sau: đầu tư nâng cao chất lượng
Trang 10nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học, kĩthuật, đầu tư xây dựng thương hiệu, quảng cáo.
Xuất phát từ quá trình hình thành và thực hiện đầu tư, nội dung đầu tưphát triển bao gồm: đầu tư cho các hoạt động chuẩn bị đầu tư, đầu tư trong quátrình thực hiện đầu tư và đầu tư trong giai đoạn vận hành Nội dung đầu tư pháttriển trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều nội dung chi tiết khác nhau
1.2 Các yếu tổ tác động tới đầu tư phát triển
1.2.1 Vốn
Vốn là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư.Các nguồn lực có thể là của cải vật chất tài nguyên thiên nhiên là sức lao động
và tất cả các tài sản vật chất khác Còn nguồn vốn đầu tư là gì?
Trong nền kinh tế quốc dân, để thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng vàgóp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội thì chúng ta phải thực hiệntích lũy và tiết kiệm cả trên góc độ toàn bộ nền kinh tế vĩ mô cũng như là trongtừng doanh nghiệp Nó bao gồm các nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tíchlũy nội bộ của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chứckinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ hoặc là từ các nguồn vốnnước ngoài như kiều hối, quỹ hỗ trợ tín dụng của các ngân hàng thương mạiquốc tế được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội, và các nguồn nàytồn tại dưới dạng giá trị Có thể có một thời điểm nào đó có một số cá nhân,doanh nghiệp có tích lũy nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư Trong khi đó,
có một số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiện đầu tư khi chưa hoặc tích lũychưa đủ Khi đó, thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiếtkhoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang người có nhu cầu đầu tư
sử dụng Ví dụ, doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy độngvốn thực hiện một dự án đầu tư nào đó từ các doanh nghiệp khác, hộ gia đìnhhay các cá nhân – người dư thừa hoặc tạm thời dư thừa vốn
Như vậy có thể khẳng định rằng: nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phầntích lũy được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đápứng yêu cầu phát triển của xã hội
Trang 11Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệgiữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề có liên quan trực tiếpđến quá trình tích lũy, theo C.Mác ông đã phân chia nền kinh tế thành hai khuvực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất, khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng.Trong đó cơ cầu tổng giá trị của từng khu vực đó là : (c + v + m) trong đó c làphần tiêu hao vật chất, (v + m) là phần giá trị mới sáng tạo ra Khi đó điều kiện
để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì xã hội phải đảm bảo rằng tưliệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi hoàn tiêu dùng tiêu hao vậtchất của toàn bộ nền kinh tế mà còn phải dư thừa để tăng quy mô tư liệu sảnxuất cho nền kinh tế tức là:
(C + V + M) ( I) > C (I) + C (II)
Và đối với khu vực II thì cũng cần đảm bảo rằng: toàn bộ giá trị của cảhai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất của khu vực II tức là :
(C + V +M) (II) < (V+ M) (I) + ( V + M ) (II)
Như vậy theo C.Mác con đường về cơ bản quan trọng và lâu dài để tái sảnxuất mở rộng đó là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất
và tiêu dùng hay nói cách khác nguồn lực cho đầu tư phát triển chỉ có thể đượcđáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại được các nhà kinh tế họchiện đại chứng minh Theo Keynes, đã chứng minh rằng : Đầu tư chính bằng
Trang 12phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng Đồng thời ông chỉ ra rằng tiếtkiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng
Tức là
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng Hay Tiết kiệm = Đầu tư
Trong đó thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán hànghóa hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí Nhưng toàn bộ sản phẩm sản xuất raphải được bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác Mặt khácđầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ Vìvậy chính phần dôi ra của tiêu dùng chính là bằng phần đầu tư của doanhnghiệp Nhưng điều kiện cân bằng chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng, và phầntiết kiệm chính là phần tiết kiệm của toàn bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của
cá nhân và tiết kiệm của chính phủ không nhất thiết là được tiến hành cùng bởicùng một cá nhân hay cùng một doanh nghiệp Có thể có những cá nhân thựchiện đầu tư khi chưa tích lũy đủ Khi đó thị trường vốn sẽ hình thành và thamgia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạmthời dư hừa sang cho người có nhu cầu sử dụng
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm không phải baogiờ cũng được thiết lập Mức chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm chính là tàikhoản vãng lai Phần tích lũy của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tạinước sở tại, và tài khoản vãng lai thặng dư và khi đó sẽ xuất hiện dòng vốn chảy
ra ngoài để thực hiện đầu tư, hoặc cho nước ngoài vay vốn để nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn của nền kinh tế Và ngược lại, vốn tích lũy của nền kinh tế có thểnhỏ hơn nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt, khi đónền kinh tế có thể huy động được nguồn vốn từ nước ngoài Khi đó thu hút đầu
tư nước ngoài hay vay nợ nước ngoài có thể trở thành một trong những nguồnvốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế
Như vậy thông qua việc nghiên cứu các quan điểm của các trường phái kinh
tế có thể thấy rằng thực chất của nguồn vốn đầu tư đó là phần tiết kiệm của nền
Trang 13kinh tế để thực hiện tái sản xuất mở rộng đáp ứng sự gia tăng sản xuất và tíchlũy của nền kinh tế
1.2.2 Sản lượng nền kinh tế
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sảnsản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuốicùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời giannhất định (thường là một năm tài chính)
Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tínhbằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân mộtnước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốcdân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng
Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia chodân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia chodân số
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bìnhquân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sựthay đổi về lượng của nền kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối,tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trongmột giai đoạn
Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳcần so sánh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy
mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế
kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:
y = dY/Y × 100(%),
trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng Nếu quy môkinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởngGDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay
Trang 14GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thôngthường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩaSản lượng nền kinh tế là yếu tố quan trọng quyết định đến tăng trưởng kinh tế.Quan hệ giữa đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ đặc biệtquan trọng đối với các quá trình phát triển Đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh
tế có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau Vốn đầu tư tăng về mặt lý thuyết
sẽ dẫn đến gia tăng mức sản lượng kinh tế và tăng trưởng kinh tế và tăng trưởngkinh tế cao sẽ làm cho khả năng tích lũy tăng, kéo theo nguồn vốn đầu tư sẽtăng, làm cho chi đầu tư tăng
Vốn đầu tư và sản lượng nền kinh tế phát triển cùng chiều, quy mô vàmức độ biến động của vốn đầu tư và sản lượng kinh tế (tăng trưởng kinh tế)tương đối song hành Khi sản lượng sản phẩm tăng tức nền kinh tế tăng trưởngmạnh sẽ tạo điều kiện để tăng quy mô vốn đầu tư Nhưng đến một lúc nào đó tốc
độ tăng trưởng kinh tế sẽ tăng chậm hơn tốc độ vốn đầu tư Đó là điểm nút, hayđiểm “ngưỡng” trong mối quan hệ giữa vốn đầu tư và sản lượng, hay đầu tư pháttriển và tăng trưởng kinh tế
Ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về tác động của sản lượng nền kinh tế tới đầu tưphát triển khi đi đến khái niệm số nhân đầu tư và gia tốc đầu tư
1.2.3 Môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư là một thuật ngữ đã được đề cập nghiên cứu trong lĩnhvực kinh tế và quản trị kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới Môi trường đầu tư
là một thuật ngữ không phải mới mẻ nhưng đến nay vẫn có rất nhiều tranh luận
về khái niệm này Môi trường đầu tư được nghiên cứu và xem xét theo nhiềukhía cạnh khác nhau tuỳ theo mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Theo Wim P.M Vijverberg (Wim PM Vijverberg, Pd.D., is Professor ofEconomics at the City University of New York) , khái niệm môi trường đầu tưđược hiểu là bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, kinh
tế, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt độngcủa doanh nghiệp Trong nghiên cứu của mình, Vijverberg cho thấy rất nhiềucác vấn đề ảnh hưởng tới đầu tư đối với các doanh nghiệp nhất là các vấn đề liên
Trang 15quan đến chính sách như tài chính, tín dụng, chính sách thương mại, chính sáchthị trường lao động, các quy định, cơ sở hạ tầng, các vấn đề liên quan đến thumua và tiêu thụ, chính sách thuế, chính sách phát triển các khu công nghiệp vàcác vấn đề liên quan đến hỗ trợ kỹ thuật và tài chính khác Như vậy với kháiniệm này, môi trường đầu tư được hiểu khá rộng
Một cách hiểu khác về môi trường đầu tư đó là tổng hợp các yếu tố: điềukiện về pháp luật, kinh tế, chính trị-xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lựcthị trường và cả các lợi thế của một quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng đầu tư của các nhà đầu tư tại một quốc gia
Hay có quan điểm khác cho rằng, môi trường đầu tư là số lượng và chấtlượng các dòng vốn đầu tư đổ vào một quốc gia hay một khu vực cụ thể nào đóphụ thuộc hoàn toàn vào các lợi ích, lợi nhuận mà nhà đầu tư sẽ thu được như dựtính, kể cả những lợi ích kinh tế thu được do các yếu tố tác động ngoài dự tính.Những yếu tố có tác động đến các lợi ích của các nhà đầu tư mà có thể dự tính,được phân loại dựa trên các yếu tố có liên hệ tương tác lẫn nhau như các vấn đề
về cơ sở thượng tầng hay vĩ mô liên quan tới kinh tế, ổn định chính trị, các chínhsách về ngoại thương về đầu tư nước ngoài mà ta thường gọi là kinh tế vĩ mô…Như vậy các khái niệm môi trường đầu tư dù tiếp cận ở góc độ nào cũng đề cậpđến môi trường tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh, các yếu tố có ảnhhưởng đến hiệu quả đầu tư
Do vậy, có thể khẳng định: Môi trường đầu tư là tổng hợp các yếu tố vàđiều kiện khách quan, chủ quan bên trong, bên ngoài của doanh nghiệp hay cácnhà đầu tư, có mối liên hệ tương tác lẫn nhau, có ảnh hưởng trực tiếp hay giántiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư
1.2.4 Các nhân tố khác
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phậncấu thành nền kinh tế, nó xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về qua mô,tốc độ giữa các ngành, vùng Với cơ cấu kinh tế được hiểu là: cơ cấu của tổngthể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểudiễn về cả mặt chất và mặt lượng, tùy thuộc mục tiêu của nền kinh tế
Trang 16- Tiến bộ công nghệ: là những thay đổi trong công nghệ sản xuất, côngnghệ quản lý Tiến bộ công nghệ mang lại nhiều thuận lợi hơn cho quá trình sảnxuất, có thêm nhiều phương án đầu tư có thể đem ra lựa chọn Những công nghệmới, công nghệ cao được đầu tư sẽ mang lại năng suất, chất lượng cao hơn sovới công nghệ cũ.
- Sự phát triển của trình độ quản lý: Trình độ quản lý cũng là yêu cầu quantrong khi thực hiện dự án Trình độ quản lý cao, có những định hướng, nhữngquyết định khôn ngoan mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, cho quốc gia
- Chính sách của nhà nước: Số lượng, chất lượng đầu tư phát triển trongmỗi giai đoạn còn chịu ảnh hưởng từ các chính sách của nhà nước Với cácchính sách kinh tế vi mô, và vĩ mô, nhà nước có thể điều chỉnh hoạt động đầu tưphát triển phù hợp với định hướng của mình
Các nhân tố này sẽ phân tích kỹ hơn trong phần phân tích tác động củaphát triển kinh tế đối với đầu tư phát triển
1.3 Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế
Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơcấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống
Điều kiện đầu tiên là phải có sự tăng trưởng kinh tế (gia tăng về quy môsản lượng của nền kinh tế, nó phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và
ổn định) Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: thể hiện ở tỷ trọng các vùng, miền,ngành, thành phần kinh tế thay đổi Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôngiảm tuơng đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng các ngành dịch vụ, côngnghiệp tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ Cuộc sống của đại bộ phận dân số trong
xã hội sẽ trở lên tươi đẹp hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm
lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo Trình độ tư duy, quan điểm sẽ thay đổi
Để có thể thay đổi trình độ tư duy, quan điểm đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế.Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tốnội tại quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó
Trang 17Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và chất,
nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và
xã hội ở mỗi quốc gia Theo cách hiểu như vậy, nội dung của phát triển kinh tếđược khái quát theo ba tiêu thức:
- Một là, sự tăng lên tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thunhập bình quân trên một đầu người Có nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế phảilớn hơn tốc độ tăng dân số
- Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế
- Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại màkhông làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai
Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí,hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện cácvấn đề xã hội và bảo vệ môi trường
2 Phát triển kinh tế tác động đến đầu tư
2.1 Phát triển kinh tế làm tăng tích lũy, cung cấp thêm vốn cho đầu tư
Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốnđầu tư trong nước (Id) và nguồn vốn đầu tư nước ngoài (If)
+ Tiết kiệm của chính phủ: Sg = Thu – Chi = T – G
Thu chính phủ: Thuế (chủ yếu, chiếm khoảng 90% thu của CP), phí lệphí, thu khác
Chi chính phủ: G (chi mua hàng hóa và dịch vụ), trả lãi và nợ gốc, trợ cấp+ Tiết kiệm gia đình (Sh):
Trang 18Hàm tiêu dùng của Keynes C = a+ b* DI
Trong đó b = MPC
+ Tiết kiệm của doanh nghiệp:
Tiết kiệm doanh nghiệp (Se)
Lợi nhuận trước thuế = Doanh thu – Chi phí
Lợi nhuận sau thuế = Pr trước thuế - Thuế TNDN
Pr để lại = Pr sau thuế - công ty trả cổ tức
Se = Pr để lại
Ba nguồn tiết kiệm trên có mối quan hệ tác động lẫn nhau trong nền kinhtê,khi tăng trưởng kinh tế sẽ làm gia tăng thu nhập quốc dân (NI) nên thu nhậpquốc dân sử dụng ( DI) cũng tăng và tiêu dùng cũng tăng (
)l tuy nhiên thu nhập quốc dân sử dụng tăng nhiều hơn (vìMPC<1) kết quả tiết kiệm của hộ gia đình tăng Tiết kiệm hộ gia đình tăng làmtăng cung vốn vay, lãi suất cho vay giảm, chi phí của doanh nghiệp giảm, lợinhuận tăng dẫn đến tiết kiệm của doanh nghiệp tăng Phát triển kinh tế giúp vớiviệc đời sống của nhân dân được cải thiện hơn làm giảm đáng kể các khoản trợ
Trang 19cấp và tăng nguồn thu của chính phủ(chủ yếu là thuê) làm cho tiết kiệm củachính phủ tăng Tóm lại tăng trưởng kinh tế sẽ góp phần làm gia tăng tích lũycủa nền kinh tế dẫn đến làm tăng đầu tư của nền kinh tế.
quốc tế, thị trường vốn quốc tế (Trong đó ODA và FDI là hai kênh bổ sung vốnquan trọng nhất)
+ ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, bao gồm các khoản việntrợ hoàn lại và không hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổchức phi chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liênhiệp quốc,các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang phát triển
+ FDI là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư của quốc gia này (thường là mộtcông ty hay một cá nhân cụ thể) mang các nguồn lực cần thiết sang một quốc giakhác để thực hiện hoạt động đầu tư Chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào quá trìnhkhai thác kết quả đầu tư và chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn của mìnhtheo quy định của quốc gia nhận đầu tư
Một trong những yếu tố quan trọng tác động dến việc thu hút vốn đầu tưnước ngoài là môi trường đầu tư Môi trường đầu tư của nước chủ nhà gồmnhững yếu tố chính sau: tình hình chính trị, môi trường luật pháp, vị trí địa lý vàđiều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, đặc điểm văn hóa xã hội Trong đótrình độ phát triển kinh tế của một quốc gia ảnh hưởng rất nhiều đến việc thu hút
và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài Trình độ phát triển kinh tế được thểhiện qua những nội dung sau:
+ Mức độ phát triển về quản lý kinh tế vi mô, chất lượng cung cấp dịch vụphục vụ cho hoạt động sản xuất và kinh doanh, mức độ cạnh tranh của thịtrường trong nước
+ Mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô thấp dần tới các hiện tượnglạm phát cao, nợ nước ngoài nhiều, tham nhũng, thủ tục hành chính rườm rà,tăng trưởng kinh tế thấp,… là nguyên nhân tiểm ẩn gây nên khủng hoảng
Trang 20+ Chất lượng dịch vụ cơ sở hạ tầng kém ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hànhcác hoạt động sản xuất và kinh doanh cũng như đời sống của các nhà đầu tưnước ngoài, khiến tăng chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm không cao
+ Chất lượng các dịch vụ khác như cung ứng lao động, tài chính cũng lànhững yếu tố rất cần thiết để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
+ Tính cạnh tranh của nước chủ nhà cao sẽ giảm được rào cản đối với đầu
tư nước ngoài, các nhà đầu tư có thể lựa chọn lĩnh vực đầu tư để phát huy lợi thế
so sánh của mình
Như vậy phát triển kinh tế tạo điều kiện cải thiện môi trường đầu tư gópphần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài cũng nhưtrong nước đầu tư vào các lĩnh vực
2.2 Phát triển kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến đầu tư thông qua hệ số gia tốc đầu tư
Theo Keynes, đầu tư cũng được xem xét dưới góc độ tổng cung, nghĩa làmỗi sự thay đổi của sản lượng làm thay đổi đầu tư như thế nào Các doanhnghiệp thực hiện các dự án đầu tư để đưa mức tư bản đạt mức mong muốn.Lượng tư bản mong muốn phụ thuộc vào mức sản lượng là điều dễ dàng chấpnhận được Khi mức sản lượng cao hơn, các hãng có nhu cầu lớn hơn về tư bản
vì tư bản là một trong nhiều nhân tố để tạo ra sản lượng Tư tưởng trung tâm của
mô hình gia tốc dựa trên mối quan hệ đơn giản này
Mô hình gia tốc giả thiết rằng lượng tư bản mong muốn là bội số của mứcsản lượng :
K d
t= α Yt α>0 (1)
Trong đó: K d
t : Vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu
Yt : Sản lượng tại thời kỳ nghiên cứu
α: Hệ số gia tốc đầu tư
Như vậy nếu α không đổi thì qui mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến nhucầu vốn đầu tư tăng theo và ngược lại Nói cách khác, chi tiêu đầu tư tăng haygiảm phụ thuộc nhu cầu vè tư liệu sản xuất và phân công Nhu cầu các yếu tốsản xuất lại phụ thuộc vào qui mô sản phẩm cần sản xuất
Trang 21Theo công thức (1), có thể kết luận: sản lượng phải tăng liên tục mới làmcho đầu tư tăng cùng tốc độ, hay không đổi so với thời kỳ trước.
Lý thuyết gia tốc đầu tư cho thấy: đầu tư tăng tỷ lệ với sản lượng ít ra làtrong trung và dài hạn
Ở dạng đơn giản nhất của mô hình gia tốc, đầu tư ròng đúng bằng chênhlệch giữa lượng tư bản mong muốn với lượng tư bản hiện có vào cuối thời kìtrước Nếu tạm thời bỏ qua hao mòn tư bản trong quá trình sử dụng, chúng ta cómối liên hệ sau:
Δ I n,t = K d
t - K d
t -1 = It –D (2) với D là khấu haoLượng tư bản có được vào cuối thời kỳ trước chính là lượng tư bản mongmuốn phụ thuộc vào thu nhập của thời kỳ đó
Mức đầu tư phụ thuộc vào sự thay đổi của sản lượng
Dạng đơn giản này cho ta thấy một đặc điểm quan trọng của mô hình giatốc Từ phương trình (1), α có thể được coi là tỷ lệ giữa mức tư bản mong muốn
Trang 22ta cần phải điều chỉnh lý thuyết gia tốc về đầu tư trước khi có thể sử dụng nó đểgiải thích cho quá trình đầu tư trong nền kinh tế thực.
Điều chỉnh đầu tiên mà chúng ta cần làm để mô hình gia tốc đơn giản trởnên thực tế hơn bằng cách cho rằng lượng tư bản thực tế sẽ điều chỉnh dần đếnmức mong muốn Giả sử rằng chúng ta sử dụng mô hình cho một năm nào đó.Cũng giả sử rằng, do sản lượng tăng lên nên lượng tư bản mong muốn cũng tăngtheo Các dự án đầu tư sẽ được thực hiện nhằm đưa lượng tư bản tiến tới mứcmong muốn Bên cạnh những chi phí mà ta gọi là chi phí trực tiếp của đầu tư,chúng ta cần tính đến những chi phí điều chỉnh, và việc coi chi phí này tăng lênkhi mức đầu tư tăng cũng là điều hợp lý Những ví dụ về chi phí điều chỉnh nhưphải đóng cửa nhà máy hoặc thuê thêm công nhân làm việc ngoài giờ để lắp đặtthiết bị, chi phí tăng thêm do muốn tăng tiến độ xây dựng nhà máy và hoạt độngsản xuất có thể bị đình trệ do bộ máy quản lý phải tập trung vào việc triển khaicác dự án đầu tư Nếu chi phí điều chỉnh tăng mạnh, thì quyết định tối ưu đối vớidoanh nghiệp sẽ là điều chỉnh dần lượng tư bản thực tế đến mức mong muốn.Khi đó chênh lệch giữa hai lượng tư bản này chỉ bị triệt tiêu một phần trong từngthời kỳ
Để phản ánh được độ trễ điều chỉnh này, chúng ta có thể viết (2) như sau:
Δ I n,t= λ.( Kd
t-Kt-1) 0< λ<1 (6)
Sử dụng (1), ta có:
Δ I n,t= λ.( α.Yt - Kt-1) (7)
Trong đó, thông thường, Kt-1 khác K d
t -1 do lượng tư bản thực tế khác vớilượng tư bản mong muốn trong mỗi thời kỳ Phương trình (7) xác định cơ chếđiều chỉnh một phần mà ở đó hệ số λ thể hiện phần của chênh lệch giữa lượng tưbản mong muốn với lượng tư bản thực tế được thực hiện thông qua đầu tư Dochỉ một phần sự thay đổi của lượng tư bản mong muốn được thực hiện trong mộithời kỳ nên trong một thời kỳ nhất định nào đó đầu tư sẽ phản ứng với nhữngthay đổi của thu nhập trong một số thời kỳ trước đó Phương trình (7) hàm ýrằng, đầu tư phản ứng chậm hơn với sự thay đổi của thu nhập hiên tại, và vì thế
mà cũng hàm ý rằng đầu tư không thay đổi nhiều trong ngắn hạn như mô hình
Trang 23gia tốc đơn giản dự báo (ở phương trình 4) Phương trình (7) được gọi là mô
hình gia tốc linh hoạt- có thể thích hợp hơn với những biến động của đầu tư
trong thực tế Mặc dù đầu tư là nhân tố dễ biến động, nhưng nó không biến đôngnhiều như dự đoán của mô hình gia tốc đơn giản
Mô hình gia tốc linh hoạt cũng có thể được điều chỉnh nhằm thể hiện sựbiến động về tốc độ thay đổi của đầu tư nhằm lấp đầy lỗ hổng giữa lượng tư bảnthực tế với lượng tư bản mong muốn (tham số λ) Đây chính là biến lựa chọn đốivới hãng kinh doanh và có thể bị tác động bởi các điều kiện tín dụng, bao gồmlãi suất, thuế và các biến số khác Ví dụ, chúng ta có thể kỳ vọng rằng, trongđiều kiện các nhân tố khác không thay đổi, có ít đầu tư hơn sẽ được thực hiện đểtriệt tiêu lỗ hổng giữa lượng tư bản thực tế với lượng tư bản mong muốn khi lãisuất cao hơn và ngược lại
2.2.1 Ưu điểm
- Lý thuyết gia tốc đầu tư phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư Nếu
α không thay đổi trong kỳ kế hoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế hoạchkhá chính xác
- Lý thuyết phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế dẫn đến đầu tư.Khi kinh tế tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn,dẫn đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư nhiều
Lấy (8) trừ đi (9), ta có:
K d
t - Kt-1d = α.Yt -α.Yt-1d = α.( Yt -Yt-1d) (10)
Trong đó:
Trang 24và đầu tư ròng ΔI= α.ΔY
Như vậy theo lý thuyết này đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản lượngđầu ra Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn α lần) Nếu sản lượnggiảm, đầu tư thuần sẽ âm Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dài khôngđổi, đầu tư ròng sẽ bằng 0 (khi ΔY=0 thì ΔI = 0)
Tuy nhiên khi sản lượng không thay đổi giữa hai thời kỳ đầu tư thuầnbằng 0 nhưng tổng đầu tư là một số dương vì các doanh nghiệp vẫn phải đầu tưthay thế máy móc thiết bị đã hao mòn hết
- Theo lý thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiệnngay trong cùng một thời kỳ Điều này không đúng vì nhiều lý do, chẳng hạn doviệc cung cấp các yếu tố có liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp ứng,
do cầu vượt qúa cung…do đó lý thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục được hoàn thiệnqua thời gian Theo lý thuyết gia tốc đầu tư sau này thì vốn đầu tư mong muốnđược xác định như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa làquy mô đầu tư mong muốn được xác định trong dài hạn
Nếu gọi Ktd và Kt-1d là vốn đầu tư thực hiện ở thời kì t và t-1
Trang 25Để xác định tổng đầu tư, chúng ta giả định: Dt =δ.Kt-1
2.3 Phát triển kinh tế góp phần cải thiện môi trường đầu tư
Sự phát triển kinh tế đóng góp một phần không nhỏ vào việc cải thiện môitrường đầu tư, tăng cường thu hút các hoạt động đầu tư cả trong lẫn ngoài nước.Điều này đc thể hiện ở những khía cạnh sau :
- Sự phát triển kinh tế, đi kèm với sự gia tăng chất lượng dịch vụ cơ sở hạ tầng (môi trường đầu tư cứng).
Có thể nói, cơ sở hạ tầng có vai trò làm nền móng cho các hoạt động đầu
tư, đó chính là hệ thống đường xá, giao thông, bến bãi, nhà ga, hệ thống cungcấp điện nước, thông tin bưu điện Những nhà đầu tư thường tập trung đầu tưvào những vùng miền có chất lượng cơ sở hạ tầng tốt để giúp giảm được chi phíđầu tư Ngược lại, chất lượng dịch vụ cơ sở hạ tầng kém ảnh hưởng trực tiếp tới
sự vận hành các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống các nhà đầu
tư , khiến tăng chi phí sản xuất và làm chất lượng sản phẩm ko cao Sự phát triểncủa nền kinh tế luôn sánh đôi với sự phát triển những cơ sở hạ tầng, đóng vai tròquan trọng trong việc thu hút các hoạt động đầu tư trong và ngoài nước
- Sự phát triển kinh tế, đi kèm với sự gia tăng chất lượng dịch vụ cung ứng lao động, tài chính
Sự phát triển kinh tế kéo theo chất lượng đời sống người dân tăng, cộngvới sự phát triển của giáo dục - đào tạo cũng làm tăng chất lượng của đội ngũ
Trang 26lao động Nhân tố con người là chủ đạo trong các hoạt động đầu tư, trình độngười lao động cao cũng thu hút các hoạt động đầu tư vào những lĩnh vực côngnghệ cao và cần nhiều chất xám, tuy nhiên với những nhà đầu tư nc ngoài, đếnViệt Nam bởi nguồn lao động dồi dào, và giá rẻ, thì chất lượng nguồn lao độngcũng cực kì quan trọng mặc dù sau khi tuyển dụng lao động những doanhnghiệp FDI phải đào tạo lại, nhưng sự khác biệt quá lớn trong quan điểm cũngnhư nội dung đào tạo ở nc nhận đầu tư và nhu cầu của doanh nghiệp sẽ làm hạnchế hiệu quả đầu tư và làm nản lòng những nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng nhiềulao động
Tương tự vậy, sự phát triển những dịch vụ tài chính ngân hàng cũng giúpnhà đầu tư dễ dàng hơn trong những hoạt động tài chính của mình
- Sự phát triển kinh tế đi kèm với sự phát triển về chất trong trình độ quản
lí kinh tế vĩ mô của chính phủ, trong việc tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho những nhà đầu tư trong và ngoài nước thông qua những chính sách pháp luật, đơn giản thủ tục hành chính, giải quyết vấn nạn quan liêu tham nhũng.
Quá trình đầu tư liên quan đến rất nhiều lĩnh vực hoạt động trong một thờigian dài, nên một môi trường pháp lí ổn định và có hiệu lực là một yếu tố quantrọng để quản lý và thực hiện đầu tư một cách hiệu quả môi trường này baogồm các chính sách, quy định, luật cần thiết đảm bảo sự nhất quán, ko mâuthuẫn, ko chồng chéo, và có tính hiệu lực cao
Chính sách thuế: bao gồm các nội dung liên quan đến các loại thuế, mứcthuế, thời gian miễn giảm thuế, thời gian khấu hao và các điều kiện ưu đãi khác
Chính sách lệ phí: quy định các khoản tiền phải nộp như phí dịch vụ cấpgiấy phép, dịch vụ cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông … ) chính sách 2 giá ởViệt Nam đã làm các nhà ĐTNN bất bình
Chính sách và quy định khác: chính sách về công nghệ, chính sách về bảo
vệ môi trường, chính sách về lao động tiền lương …
Trình độ quản lí vĩ mô của chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trongcải thiện môi trường đầu tư đó là những chính sách tiền tệ tác động mạnh tới lãisuất, có thể làm tăng hoặc giảm khả năng tạo lợi nhuận cho các nhà đầu tư, hay
Trang 27khả năng kiềm chế lạm phát, và những chính sách XNK cũng ảnh hưởng trựctiếp đến nhà đầu tư trong và ngoài nước, sự phát triển kinh tế gắn với trình độquản lí vĩ mô tốt cũng làm những nhà đầu tư an tâm hơn khi thực hiện nhữnghoạt động đầu tư
- Sự phát triển kinh tế, nâng cao đời người dân, giảm thất nghiệp, đi kèm với sự ổn định về môi trường chính trị
Môi trường chính trị đóng vai trò quan trọng hàng đầu với thu hút đầu tư,một môi trường chính trị ổn định , không chỉ là không có chiến tranh, mà còn là
sự ổn định trong chính sách và đường lối phát triển Cùng với sự đi lên của nềnkinh tế là sự gia tăng chất lượng cuộc sống nhân dân, giảm tỉ lệ thất nghiệp, điềunày giúp ổn định về xã hội, và giảm bớt rủi ro cho những nhà đầu tư, đặc biệt lànhững nhà đầu tư nước ngoài
Ta lấy ví dụ như một số nước, khi chính phủ mới lên lãnh đạo sẽ thay đổiđịnh hướng đầu tư, khiến những nhà đầu tư rút lui cũng không được, tiến hànhtiếp cũng không xong, và cuối cùng phải chấp nhận thua lỗ
- Sự phát triển kinh tế đi kèm với sự gia tăng các khu chế xuất, khu côngnghiệp, khu công nghệ cao
Sự gia tăng những khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, là
sự gia tăng những khu vực đặc biệt cung cấp những dịch vụ đầu tư tốt nhất cùngvới những điều kiện ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài
Khu chế xuất là khu vực địa lí được khoanh vùng với các quy chế đặc biệttách khỏi các quy định về thuế quan, thương mại của một nước, trong đó chủyếu là để phát triển công nghiệp chế tạo, và sản phẩm dung để xuất khẩu
Khu công nghiệp là khu vực địa lí được phân chia và phát triển một cách
có hệ thống , theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp các dịch vụ kỹ thuậtcần thiết Cơ sở hạ tầng phù hợp với sự phát triển của một liên ngành côngnghiệp và sản phẩm không nhất thiết phải xuất khẩu
Khu công nghệ cao là những khu nhằm thu hút những nhà đầu tư nướcngoài vào những lĩnh vực công nghệ hiện đại
Trang 282.4 Phát triển kinh tế góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, năng lực công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển
Ta đã biết phát triển kinh tế làm tăng tỷ lệ tích luỹ, cung cấp thêm vốn chođâu tư, hiểu rộng ra là tăng trưởng kinh tế sẽ tăng thêm nguồn vốn đầu tư vàoxây dựng nâng cao cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phát triển năng lực công nghệ từ đótạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trước hết là xây dựng giao thông, thực hiện
“giao thông đi trước một bước” Có hệ thống giao thông đồng bộ sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho sự giao lưu kinh tế, thương mại, trao đổi hàng hoá giữa cộngđồng dân cư vùng nghèo nông thông miền núi với dân cư vùng thành thị Từ đócũng tạo điều kiện dễ dàng cung cấp các dịch vụ văn hoá, y tế, giáo dục, thôngtin liên lạc đối với dân cư vùng nghèo, vùng khó khăn Tiếp theo việc đầu tư xâydựng hệ thống đường giao thông là đầu tư xây dựng một số cơ sở hạ tầng quantrọng khác như: cơ sở y tế khám chữa bệnh; cơ sở giáo dục dạy nghề; hệ thốngcung cấp điện, nước sinh hoạt, các công trình thuỷ lợi, phục vụ sản xuất chocộng đồng dân cư các vùng nghèo
Trong mô hình tiến bộ công nghệ của Solow: Tiến bộ công nghệ ở đâyđược hiểu là bất kỳ biện pháp nào cho phép tạo ra nhiều sản lượng hơn
Chính phủ sẽ có các chính sách nhằm khuyến khích tiến bộ công nghệnhư bao gồm miễn thuế cho hoạt động nghiên cứu và triển khai, có thể chínhphủ sẽ trực tiếp cung cấp vốn cho các nghiên cứu cơ bản
Tiến bộ công nghệ trong mô hình solow:
Tiến bộ công nghệ ở đây được hiểu là bất kỳ biện pháp nào cho phép tạo
ra nhiều sản lượng hơn qui mô tư bản và lao động như cũ
Hiệu quả lao động:
Tiến bộ công nghệ được đưa vào mô hình một cách tinh tế hơn Lý do là ởchỗ nó có thể đưa vào hàm sản xuất theo những cách khác nhau: nó có thể làmtăng năng suất của tư bản hoặc lao động Ta có hàm sản xuất:
Y = F(K,L,E)
Trong đó: