1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

BỆNH KÝ SINH TRÙNG MÁU DO Ehrlichia và Anaplasma

78 175 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 4,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SHAPE MERGEFORMAT BỆNH KÝ SINH TRÙNG MÁU DO Ehrlichia và Anaplasma Các Rickettsiae mà gây bệnh nhiễm Ehrlichia (ehrlichiosis) và bệnh nhiễm Anaplasma (anaplasmosis) được xếp vào nhóm vi khuẩn α pro.

Trang 2

BỆNH KÝ SINH TRÙNG MÁU DO

Ehrlichia và Anaplasma

Trang 3

Các Rickettsiae mà gây bệnh nhiễm Ehrlichia (ehrlichiosis) và bệnh nhiễm Anaplasma

(anaplasmosis) được xếp vào nhóm vi khuẩn α-proteobacteria Các vi khuẩn này làmtrung gian cho các virus dạng ký sinh nội bào bắt buộc, và vi khuẩn này sử dụngoxygen, có các enzyme trao đổi chất, có mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh, và cóthành tế bào Các thành viên của α-proteobacteria, trong họ Rickettsiaceae vàAnaplasmataceae thuộc bộ Rickettsiales, theo phân loại lài vào năm 2001 Phân loại lạinày đã được thực hiện sau khi đã phân tích rõ kết chuỗi phân tử của gen 16S rRNA vàgen groESL.Giống Ehrlichia và Wolbachia đã được chuyển từ họ Rickettsiaceae đến

họ Anaplasmataceae Giống Rickettsia và Orientia vẫn còn trong họ Rickettsiaceae Ngoài ra, các loài trước kia được bao gồm trong giống Ehrlichia (Ehrlichia

phagocytophilum, Ehrlichia equi, và Ehrlichia platys) đã được chuyển đến giống Anaplasma, và Ehrlichia risticii và Ehrlichia sennetsu đã được chuyển đến giống Neorickettsia Một giống mới được đề xuất, là Neoehrlichia, có chứa vi sinh Candidatus Neoehrlichia mikurensis, mà đã phân lập được từ loài gặm nhấm và người

bị bại huyết Các vi sinh có liên quan gần khác, phát hiện thấy trong ve và loài hoang

dã, thì vẫn chưa được xếp loại

Giống Ehrlichia gồm vi khuẩn gram âm truyền lây qua ve và ký sinh nội bào bắt

buộc, nhiễm chủ yếu đến các bạch cầu – leukocytes (bạch cầu đơn nhân – monocytes,đại thực bào – macrophages, bạch cầu hạt – granulocytes) Dạng cầu trực khuẩn nhạyvới độ acid này có đường kính khoảng 0,5 μm và hiếu khí, không phân giải glycogen(non-glycolytic pathway).Ehrlichia canis, Ehrlichia chaffeensis, Ehrlichia ewingii, và Ehrlichia muris vẫn còn thuộc giống Ehrlichia Ehrlichia ruminantium (trước kia có tên

là Cowdria ruminantium), tác nhân gây bệnh tim nước (heartwater disease) ở bò tại

Châu Phi, đã được thêm vào giống này

Họ Anaplasmataceae gồm các vi sinh gram âm nội bào bắt buộc, ký sinh trong bạchcầu, hồng cầu, các tế bào nội mạc hay tiểu cầu Các tác nhân gây bệnh này truyền lây tựnhiên đến người và nhiều loài gia súc bao gồm chó và mèo, qua trung gian ve bị nhiễm

từ khi hút máu của thú có vú hoang dã là nguồn tàng trữ mầm bệnh Anaplasma

phagocytophilum được phân bổ vào nhóm gồm: tất cả các dòng Ehrlichia hướng ký

sinh trong bạch cầu hạt của người (human granulocytotropic Ehrlichia – HGE) phát hiện thấy trên khắp thế giới, Ehrlichia equi ở miền tây của nước Mỹ, và mầm bệnh ở Châu Âu nhiễm đến thú nhai lại và gây bệnh sốt do ve là Ehrlichia phagocytophila/um.

Các vi sinh này thể hiện giống nhau về sinh học, ngoại trừ vị trí địa lý, ký chủ và khảnăng gây bệnh Các khác biệt nhỏ về gen di truyền, được mô tả sau trong phần nói về

A phagocytophilum, giúp giải thích các biến thiên về khả năng gây bệnh và phân bố

cua visinh Anaplasma bovis, Anaplasma platys, và A phagocytophilum đã được xếp vào giống Anaplasma do chúng có liên quan gần về gen di truyền với Anaplasma

marginale Dữ liệu phân tử về gen di truyền cho thấy chó ở Nhật Bản có thể bị nhiễm

A bovis.

Trang 4

Về lịch sử, các vi sinh này đã được đặt tên theo giống của tác nhân gây bệnh, tế bàomục tiêu ký sinh và thú vật là ký chủ (như canine monocytotropic ehrlichiosis [vi sinhchủ yếu cư ngụ trong các bạch cầu đơn nhân và các đại thực bào], canine/felinegranulocytotropic anaplasmosis [vi sinh chủ yếu nhiễm vào bạch cầu trung tính –neutrophils và bạch cầu ưa acid – eosinophils], và canine thrombocytotropicanaplasmosis [vi sinh ký sinh trong tiểu cầu]) (Bảng 26-1) Với tiến bộ của xét nghiệm

di truyền phân tử để xác nhận giống và loài của vi sinh gây bệnh, và để tránh nhầm lẫn,chương này có thể sử dụng các tên gọi theo chuyên môn cho vi sinh

BỆNH NHIỄM EHRLICHIA Ở CHÓ (EHRLICHIA CANIS INFECTION)

Shimon Harrus, Trevor Waner, và T Mark Neer

I- Tác nhân gây bệnh và Dịch tễ học

Bệnh nhiễm Ehrlichia hướng bạch cầu đơn nhân ở chó (canine

monocytotropic ehrlichiosis – CME) là do vi sinh nội bào bắt buộc có tên là

E canis (xem Bảng 26-1). Đây là vi khuẩn gram âm đa hình thái, cỡ nhỏ, thấy trong bào tương của các bạch cầu đơn nhân và các đại thực bào là các cụm tập trung của vi sinh gọi là bọc mầm (morulae, Hình 26-1) Vi sinh này ban đầu phát hiện thấy ở chó bởi Donetein và Lestoquard tại Algeria năm

lớn quân khuyển của Mỹ, trong đó phần lớn là giống chó German shepherds,

bị chết do bệnh này trong Chiến tranh tại Việt Nam E canis có được tầm

quan trọng thêm vào cuối những năm 1980 khi có nghi ngờ sai về nhiễm

rickettsia ở người Tuy nhiên, đến năm 1991, một loài thuộc giống Ehrlichia,

là E chaffeensis, đã cho thấy gây bệnh nhiễm Ehrlichia nhiễm bạch cầu đơn

nhân ở người (human monocytotropic ehrlichiosis).

BẢNG 26-1

Trang 5

Các loài Ehrlichia và Anaplasma hướng bạch cầu đơn nhân (monocytotropic Ehrlichia and Anaplasma Species) nhiễm

đến gia súc

Phân bố địa lý Dạng tế bào bị nhiễm

Ký chủ loài thú Loài (bệnh) Trung gian truyền lây Nguồn tàng trữ Hoang dã, Thuần dưỡng Thực nghiệm a

EHRLICHIA HƯỚNG BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN (EHRLICHIA MONOCYTOTROPIC)

Mono, macro Rhipicephalus sanguineus,

Dermacentor variabilis b

Các loài chó hoang dã và thuần dưỡng

Họ chó (Canids) Chỉ ở chó

Mono, macro, neut, lymph

Amblyomma americanum, Amblyomma testudinarium, D

variabilis, Ixodes ovatus,

Haemaphysalis yeni,

Haemophysalis flava, Ixodes persulcatus

Hươu đuôi trắng, chó sói đồng cỏ, thú có túi opossums, chồn raccoons, chuột đồng (voles)

Người, chó, dê, vượn cáo (lemurs)

Chuột chân trắng (white- footed mice), cáo đỏ (red foxes)

mono, macro, neut

Amblyomma hebraeum Loài móng guốc hoang dã? Bò, cừu, dê, chó Chó

Ehrlichia spp. Mỹ, Pháp, Tây

Ấn Độ, Brazil, Kenya, Thái Lan

EHRLICHIA HƯỚNG BẠCH CẦU HẠT (GRANULOCYTOTROPIC EHRLICHIA)

Ehrlichia ewingii Miền tây và nam

nước Mỹ c Granulocyte

s A americanum Chó, các loài chó hoang? Chó, người ?

ANAPLASMA HƯỚNG BẠCH CẦU HẠT (GRANULOCYTOTROPIC ANAPLASMA)

Anaplasma

phagocytophilum

Khắp thế giới, Bắc Bán Cầu ở vùng ôn đới

Granulocyte

s

Ixodes spp. Hươu đuôi

trắng, chuột cống (wild mice), sóc chuột (chipmunk), chuột đồng (vole), các loài chim di trú

Chó, mèo, người, ngựa, bò, cừu, dê, lạc đà

Giống như ký chủ tự nhiên

và các loài linh trưởng không phải người

ANAPLASMA HƯỚNG TIỂU CẦU (THROMBOCYTOTROPIC ANAPLASMA)

Các loài chó?

Thú nhai lại nhỏ?

Chó, cừu của Nam Phi?

Dê của Thổ Nhĩ Kỳ?

Chỉ ở chó

Endothel, Endothelial cells – tế bào nội mạc; lymphocytes – tế bào lâm ba;

macrophages – đại thực bào; monocytes – bạch cầu đơn nhân; neutrophils – bạch cầu

trung tính; ? – không rõ

- Các ký chủ bị nhiễm tự nhiên cũng bị nhiễm thực nghiệm; tuy nhiên không thể hiệntrong cột Một số bệnh nhiễm thực nghiệm là cận lâm sàng hay tạm thời

Trang 6

- Chỉ bệnh nhiễm thực nghiệm được ghi nhận với trung gian truyền lây này.

- Nhận diện ban đầu của E ewingii ở Brazil và Cameroon bằng phân tích phân tử gen di

truyền, cần có nghiên cứu thêm để xác định mức độ phân bố và tầm quan trọng của mầm bệnh trong những vùng này

E canis hiện diện khắp nơi và gây tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cho chó Vi sinh

này phân bố khắp thế giới bao gồm Châu Á, Châu Phi, Châu Âu và Châu Mỹ Úc được

cho là không có bệnh nhiễm E canis Bệnh được báo cáo ở Nhật Bản Các ký chủ có xương sống của E canis bao gồm các thành viên thuộc họ chó (family Canidae) Chó

sói đồng cỏ (coyote), cáo (fox), và chó rừng (jackal), ngoài chó nhà, được cho là các ký

chủ tàng trữ (xem Bảng 26-1) Một nghiên cứu đã thấy là E canis hay một vi sinh có liên quan gần cũng nhiễm đến mèo (xem phần dưới về Bệnh nhiễm Ehrlichia hướng

bạch cầu đơn nhân ở mèo – Feline Monocytotropic Ehrlichiosis) Loài chân đốt làm

trung gian truyền lây cho E canis là ve chó nâu (brown dog tick: Rhipicephalus

sanguineus, Hình 26-2) Loài ve một ký chủ này ưa thích hút máu chó ở tất cả các giai

đoạn của chu kỳ sống và có thể sống trong môi trường trong nhà có nuôi chó Trong

thực nghiệm, bệnh cũng truyền lây được bằng ve chó Mỹ (Dermacentor variabilis).

Kiểu truyền lây là qua giai đoạn sống (transstadial), trong đó mầm bệnh truyền đến giaiđoạn tiếp theo trong chu kỳ sống của ve, nhưng không truyền đến trứng qua thế hệ sau

Ve nhiễm E canis ở cả gia đoạn ấu trùng lẫn thiếu trùng, do hút máu chó bị nhiễm

rickettsia và truyền mầm bệnh trong thời gian ít nhất 155 sau đó đến chó có mẫn cảm.Khả năng này cho phép mầm bệnh tồn tại qua mùa đông trong ve và sau đó đến mùaxuân nhiễm đến chó có mẫn cảm Hầu hết các trường hợp CME xảy ra vào mùa ấmnóng, khi có nhiều ve trung gian truyền lây; tuy nhiên, bệnh có thể xảy ra quanh năm dogiai đoạn cận lâm sàng kéo dài ở thú bệnh nhiễm mãn tính Thời gian tối thiểu cần thiết

cho ve tấn công để truyền E canis đã được xác định Chó sống trong vùng hay đi đến

vùng dịch bệnh thường bị nhiễm

II- Sinh bệnh học

Việc phân tích kết chuỗi toàn bộ gen di truyền của E canis đã giúp nhận diện các gen

liên quan đến tiến trình của bệnh, cho phép hiểu rõ hơn sinh bệnh học của CME Gen ditruyền này gồm một nhiễm sắc thể vòng đơn (single circular chromosome) có1.315.030 nucleotides Đáng chú ý là phần gen có kích thước nhỏ (984 genes) liên quanđến ehrlichia khác Theo thể hiện ký sinh nội bào bắt buộc, gen di truyền của vi sinhnày mất đi nhiều mã hóa cho các enzyme trao đổi chất

Do có gen di truyền gần gũi giữa E canis và E chaffeensis, có thể cho là các phát hiện ở vi sinh này cũng là phát hiện ở vi sinh kia E chaffeensis được nghiên cứu nhiều

hơn do có tầm quan trọng đối với người Các protein gây phản ứng miễn dịch ở bề mặt

được cho là các yếu tố kết bám, đã nhận diện được ở E chaffeensis và E ruminantium

mà có các đơn vị lặp lại chứa nhiều serine và threonine Người ta cho rằng các yếu tốbám dính này giúp cho ehrlichial kết bám và xâm nhập vào trong tế bào ký chủ

Do thiếu nhiều gen liên quan đến trao đổi chất, vi sinh này phải thu thập nhiều dưỡng

Trang 7

chất khác nhau từ môi trường xung quanh qua các lỗ hay kênh ở màng bao của nó Các

protein màng ngoài là P28 và OMP-1F của E chaffeensis có các hoạt tính hở lỗ giúp vi

sinh điều chỉnh dưỡng chất thu nạp trong quá trình phát triển ở nội bào Phân tích gencủa 16S rDNA và các gen mã hóa kháng nguyên cho thấy có nhiều nhánh (clades) của

E canis exist.Thông tin này có thể giúp ích cho các mục đích phân loại về dịch tễ

HÌNH 26-1 A, Bọc mầm (morula) của Ehrlichia canis trong bào tương của một bạch cầu đơn nhân trong mẫu máu (X

1000) B, Bọc mầm trong tế bào nuôi DH82 hiển thị bằng kính hiễn vi quang học (X 400) C, Bọc mầm trong tế bào nuôi DH82 soi bằng kính hiển vi điện tử (X 20,000) Lưu ý thấy nhiều vi sinh trong bọc mầm Có thể thấy hai vi sinh đang trong giai đoạn phân chia nhị phân (Tài liệu của Dr Itamar Aroch, Koret School of Veterinary Medicine, The Hebrew University

of Jerusalem, Israel.)

Thời gian nung bệnh của CME từ 8 đến 20 ngày Vi sinh sinh sôi trong đại thực bàocủa hệ thống thực bào đơn nhân bằng phân chia nhị phân (xem Hình 26-1, C) và pháttán khắp cơ thể (Hình 26-3) Vi sinh lan truyền giữa các tế bào bằng cách thoát ra vàchui vào tế bào kế cận bằng các mấu lồi của bào tương Quá trình nhân sao của vi sinhdiễn ra trong các không bào (vacuole) nối đến màng tế bào, bảo vệ cho vi sinh khỏikiểm soát của hệ thống miễn dịch, các thể dung giải và các trung gian phản ứngoxygen Một cơ chế thích nghi cho phép ehrlichiae cư ngụ trong các không bào và liên

hệ với tế bào ký chủ qua mạng lưới nội bào đã được phát hiện ở một nhóm gen ankyrin

mã hóa cho các protein được cho là làm trung gian cho các tương tác đặc trưng vềprotein-protein Các protein dạng ankyrin cũng ảnh hưởng đến thể hiện của chất tiếttiền viêm của tế bào (proinflammatory cytokine) và điều chỉnh giảm chu kỳ phát triểncủa tế bào Ehrlichiae có thể được phóng thích đến các tế bào mới, theo đường vỡ bểcủa màng tế bào ở cuối giai đoạn hình thành bọc mầm

Giống như các ehrlichiae khác, E chaffeensis thiếu các enzyme sinh tổng hợp các

peptidoglycans và lipopolysaccharide (LPS) để củng cố màng ngoài của vi sinh Việcthiếu LPS và peptidoglycans cũng ảnh hưởng nhiều đến khả năng gây nhiễm và sốngsót của các vi sinh ehrlichia trong cả ký chủ thú vật cũng như ve Hệ thống miễn dịchcủa ve có khả năng đáp ứng với hiện diện của LPS, do đó tình trạng thiếu LPS trong visinh ehrlichia là có lợi cho chúng Ở ký chủ là thú có vú, các đại thực bào hay các bạchcầu trung tính sử dụng các thụ thể dạng ghi nhớ (pattern-recognition receptors), như cácthụ thể dạng Toll (Toll-like receptors), để kết nối đến các phân tử riêng biệt của mầmbệnh, như LPS hay peptidoglycan

Trang 8

Phản ứng này tạo ra một đáp ứng miễn dịch hướng đến tiêu diệt mầm bệnh; do đó,

tình trạng thiếu LPS và peptidoglycan tạo cho E chaffeensis, và các vi sinh tương tự

rickettsia có thêm lợi thế sống sót trong bạch cầu

HÌNH 26-2 Ve chó nâu (brown dog tick: Rhipicephalus).

Ve đực (bên trái) và ve cái đã hút no máu (bên phải) (Tài

liệu của Prof Israel Yeruham, Koret School of Veterinary

Medicine, The Hebrew University of Jerusalem, Israel.)

HÌNH 26-3 Chu kỳ phát triển của Ehrlichia canis trong tế

bào của chó (Tài liệu của Kip Carter © 2004 University of Georgia Research Foundation Inc.)

Thời gian nung bệnh gồm ba giai đoạn liên tiếp: cấp tính, cận lâm sàng và mãn tính.Giai đoạn cấp tính kéo dài từ 1 đến 4 tuần Hầu hết chó hồi phục từ bệnh cấp tính khiđược điều trị đầy đủ Chó không được điều trị và không điều trị đầy đủ có thê khỏi bệnh

về lâm sàng nhưng sau đó chuyển sang giai đoạn cận lâm sàng, trong đó chỉ thấy bấtthường về tổng số tiểu cầu máu (platelet counts).Những chó trong giai đoạn này có thể

thể hiện “lâm sàng khỏe mạnh” nhưng mang trùng cho E canis đến hàng tháng và có

khi hàng năm, như đã nêu ở một nghiên cứu là trên 3 năm Các kết quả của gây nhiễm

thực nghiệm cho thấy lách có khả năng nhất về chứa chấp E canis trong gian đoạn cận

lâm sàng của CME và có thể là cơ quan cuối cùng còn chứa rickettsia trước khi chúng

bị tiêu diệt hoàn toàn Hơn nữa, trong các bệnh nhiễm tự nhiên, thường phát hiện thấybọc mầm ở các mẫu dịch hút lách nhiều hơn so với các mẫu máu ngoại biên phết kính

Lách được cho là có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học và dẫn đến thể hiện lâmsàng của bệnh Những chó được phẫu thuật cắt bỏ lách (splenectomized dogs) được

thực nghiệm gây nhiễm bằng E canis thì thể hiện bệnh lâm sàng nhẹ hơn so với chó

không bị phẫu thuật cắt bỏ lách

Trang 9

Chó bị nhiễm kéo dài có thể tự động khỏi bệnh, hay có thể phát triển bệnh mãn tínhnặng nề Không phải tất cả chó đều tiến triển đến giai đoạn mãn tính của CME, và cácđiều kiện dẫn đến phát triển bệnh mãn tính là chưa rõ So sánh 16S rRNA từ ehrlichiaephân lập được ở chó trong các giai đoạn cấp tính và mãn tính của bệnh thì không thấy

có khác biệt, cho thấy là các khác biệt theo dòng của ehrlichiae không dẫn đến khác biệt

về các triệu chứng lâm sàng thấy ở chó Tuy nhiên, do 16S rRNA là gen riêng của visinh, phải thực hiện so sánh giữa các vi sinh này

Giảm nặng nề ở tế bào máu (severe pancytopenia), là hậu quả của thoái triển tủyxương, là phát hiện điển hình của bệnh mãn tính Tương tự, tổng số bạch cầu và tiểucầu giảm thấp và giảm thể tích tế bào máu (hematocrit) trở thành nguy cơ cao dẫn đến

tử vong Giảm nặng nề bạch cầu máu, thiếu máu, kéo dài thời gian kích hoạtthromboplastin tạo đông máu (activated partial thromboplastin time – aPTT) và tănghàm lượng K+ trong máu là tiên lượng chính xác cho tỷ lệ tử vong với xác suất đến100%.Chết có thể là hậu quả của xuất huyết hoặc phụ nhiễm

Các biến đổi về huyết học trong CME có liên quan đến các quá trình viêm và miễndịch được khởi phát bởi bệnh nhiễm Giảm tiểu cầu máu (thrombocytopenia), là bất

thường phổ biến nhất về huyết học ở chó bị nhiễm E canis, thấy ở tất cả các giai đoạn

của bệnh Thể hiện nặng của giảm tiểu cầu máu càng nặng nề, thì khả năng phát hiện

16S rRNA của E canis trong máu càng cao, ở chó trong các vùng dịch Có nhiều cơ

chế khác nhau tham gia trong sinh bệnh học của tình trạng giảm tiểu cầu máu, mà baogồm gia tăng tiêu thụ tiểu cầu và giảm thời gian tồn tại của tiểu cầu, có thể là hậu quảcủa vấn đề của lách và hủy hoại qua trung gian miễn dịch Các kháng thể kháng tiểu cầutrong tuần hoàn máu kết nối đến tiểu cầu đã phát hiện thấy trong máu nguyên và huyết

thanh của chó trong giai đoạn cấp tính ở bệnh nhiễm tự nhiên và thực nghiệm bằng E.

canis Ngoài ra, một chất tiết tế bào trong huyết thanh (serum cytokine), là yếu tố ức

chế xâm nhập của tiểu cầu (platelet migration-inhibition factor – PMIF), đã thấy có ở

chó bệnh nhiễm Ehrlichia, và hàm lượng chất tiết này tỷ lệ nghịch với tổng số tiểu cầu Các hàm lượng cao hơn của PMIF có liên quan đến dòng độc lực cao hơn của E canis.

PMIF ức chế xâm nhập của tiểu cầu và được tạo ra bởi các tế bào lâm ba, khi các tế bàonày tiếp xúc với các bạch cầu đơn nhân đã bị nhiễm Giảm sản sinh tiểu cầu là hậu quảcủa thoái triển tủy xương, là tình trạng được cho là cơ chế chịu trách nhiệm gây giảmtiểu cầu máu trong giai đoạn mãn tính Mặc dù có rối loạn ở tủy xương và giảm tế bàomáu ở chó bệnh nhiễm mãn tính, nhưng không thấy có tình trạng thoái hóa dạng sợi ởtủy xương (myelofibrosis) Tình trạng giảm tiểu cầu máu cũng kèm theo rối loạn chứcnăng của tiểu cầu ở chó bệnh Rối loạn chức năng tiểu cầu, trong tình trạng giảm sốlượng tiểu cầu, góp phần cho xuất huyết thấy ở CME Các kháng thể kháng tiểu cầu(anti-platelet antibodies) có thể tham gia trong bệnh của tiểu cầu ở CME bằng cáchcạnh tranh kết nối đến các thụ thể của tiểu cầu

Hầu hết chó bị nhiễm E canis đều phát triển tăng protein máu (hyperproteinemia) do

tăng gammaglobulin trong máu (hypergammaglobulinemia), globulin này thường là đa

giá, nhưng có thể là đơn giá ở một số chó Vai trò của kháng thể kháng E canis trong

tuần hoàn máu đối với việc triệt tiêu ehrlichial nhiễm ở nội bào là rất thấp Các hiệu giá

Trang 10

cao của kháng thể kháng E canis không tạo được bảo hộ khi thử thách gây nhiễm Hơn

nữa, các kháng thể này có thể gây ảnh hưởng phá hủy trong tiến trình của bệnh, do cáchậu quả của tương tác miễn dịch – mầm bệnh Những chó mà có bệnh tích đơn giá(monoclonal gammopathy) có thể phát triển tăng độ nhớt máu (hyperviscosity) liênquan đến các dấu hiệu và bệnh tích (như xuất huyết dưới võng mạc – subretinalhemorrhage và tróc võng mạc dẫn đến mù lòa cấp tính)

Có bằng chứng cho thấy các cơ chế siêu miễn dịch có thể liên quan đến sinh bệnh họccủa CME Một số cơ chế này đã được làm sáng tỏ Các cơ chế này bao gồm gia tăngthấm nhập tế bào huyết tương vào tủy xương và các nhu mô cơ quan; gia tănggammaglobulin đa giá trong máu (polyclonal hypergammaglobulinemia) mà không liên

quan đến hiệu giá của các kháng thể tương ứng kháng E canis; các kết quả dương tính

trong xét nghiệm Coombs và ngưng kết tự động (autoagglutination test); giảm sản sinhkháng thể kháng tiểu cầu sau khi bị nhiễm tự nhiên hay thực nghiệm; và sự hiện diệncủa các phức hợp miễn dịch trong tuần hoàn máu của chó trong bệnh nhiễm tự nhiên

hay thực nghiệm do E canis Mặc dù một số thể hiện bệnh tích và lâm sàng của CME

được cho là qua trung gian phức hợp miễn dịch, nhưng các kháng thể kháng nhân

(antinuclear antibodies) không thấy ở chó bị nhiễm tự nhiên hay thực nghiệm bởi E.

Oklahoma của E canis và thấy tồn tại đến ngày thứ 56 sau khi gây nhiễm Hơn nữa,

IFN-γ và TNF-α thể hiện tác động kháng rickettsia qua kích thích sinh tổng hợp nitricacid Rõ ràng là miễn dịch do kích thích tế bào lâm ba T và xuất tiết IFN-γ đóng vai tròchính trong hồi phục bệnh nhiễm ehrlichia Kháng thể IgM có vai trò thực chất trongCME và có thể không phát hiện thấy trong giai đoạn cấp tính của bệnh Chó giốngGerman shepherd thấy có mẫn cảm hơn với CME, so với các giống chó khác, thể hiệnbệnh nặng nề hơn với tỷ lệ tử vong cao hơn Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bàocủa chó giống German shepherd thấy kém hơn so với chó giống beagle, dù không thấykhác biệt về đáp ứng miễn dịch dịch thể giữa hai giống chó này Phát hiện này chứng

minh vai trò chính của miễn dịhc qua trung gian tế bào trong bệnh nhiễm E canis.

E canis tồn tại lâu do vượt qua được hệ thống miễn dịch Khả năng này có được do

vi sinh thường xuyên thay đổi các kháng nguyên bề mặt và thể hiện các dạng khác nhaucủa protein Theo hướng này, các protein có các bộ phận lắp ghép đóng vai trò quantrọng trong khả năng gây bệnh và tương tác giữa mầm bệnh – ký chủ

Trang 11

Có 12 protein chứa các bộ phận lắp ghép được phát hiện thấy trong mã hóa di truyền

của E canis, với ngoại trừ 3 protein thể hiện đặc trưng của E canis, tất cả các protein

khác là tương tự như ở các Rickettsiales khác

Tồn tại dai dẳng của vi sinh cũng liên quan đến điều chỉnh giảm của các thụ thể phứchợp tương thích mô chính cấp II (major histocompatibility complex class II receptors).Trong các nghiên cứu ở nội môi trường thấy có điều chỉnh giảm các bạch cầu đơn nhân.Điều này có thể làm giảm chuyển giao tín hiệu bệnh nhiễm, rối loạn thông tin giữa các

tế bào, rối loạn sản sinh chất tiết tế bào, ảnh hưởng các phản ứng thể dịch, rối loạnchuyển đổi đáp ứng theo chủng vi sinh và rối loạn đáp ứng kháng rickettsia

Tình trạng sống sót và sinh sôi của ehrlichia trong các tế bào bị nhiễm làm tăng thêm

khả năng của vi sinh trong ức chế thể dung giải của thực bào, như thấy ở Neorickettsia

risticii Oxytetracycline thể hiện khôi phục được khả năng thực bào của ký chủ, có thể

do gây ức chế sinh tổng hợp protein chống tan chảy của vi khuẩn

III- Các phát hiện lâm sàng và các dấu hiệu đa hệ thống

CME là một tình trạng rối loạn đa hệ thống Bệnh nhiễm E canis có thể là cấp tính, cận

lâm sàng hay mãn tính ở chó Các dấu hiệu lâm sàng thường thấy bao gồm ủ rũ, lờ đờ,kém ăn, giảm cân và có khuynh hướng xuất huyết Xuất huyết thường thể hiện là lấmtấm hay thành đốm, hay cả hai (Hình 26-4 và 26-5) Chảy máu cam (epistaxis) thườngthấy ở chó bị CME (Hình 26-6) Khám lâm sàng cũng có thể phát hiện thấy sưng hạchlâm ba (lymphadenomegaly) 20% và sưng lách (splenomegaly) 25% ở chó bệnh Do vi

sinh truyền lây bởi ve R sanguineus, bệnh có thể biến chứng do nhiễm cùng lúc với các mầm bệnh khác như Babesia canis vogeli và Hepatozoon canis cũng truyền từ ve này.

Các dấu hiệu ở mắt

Chó có thể có các biến đổi về màu mắt hay có thể bị mù do gia tăng paraprotein trongmáu (paraproteinemia), tăng huyết áp, xuất huyết giác mạc (hyphema), xuất huyết dướivõng mạc (subretinal bleeding), và tróc võng mạc (retinal detachment) (các Hình 26-7đến 26-9) Viêm trước đồng tử (anterior uveitis) và bệnh ở võng mạc, như viêm củngmạc võng mạc (chorioretinitis), phù đáy cầu mắt (papilledema), xuất huyết võng mạc(retinal hemorrhage), thấm mạch máu quanh võng mạc (retinal perivascular infiltrates),

và mụn tróc võng mạc (bullous retinal detachment), là các phát hiện thường thấy trongCME

Trang 12

HÌNH 26-4 Xuất huyết lấm tấm vùng bụng do giảm tiểu

cầu máu ở chó cái bị nhiễm Ehrlichia canis (Tài liệu của

Dr Pedro Paulo Diniz, Western University of Health

Sciences, Pomona, CA.)

HÌNH 26-5 Xuất huyết lấm tấm ở màng nhày do bệnh

nhiễm Ehrlichia canis (Tài liệu của Dr Pedro Paulo Diniz,

Western University of Health Sciences, Pomona, CA.)

Các dấu hiệu thần kinh cơ bắp

Các thể hiện thần kinh của bệnh nhiễm Ehrlichia chủ yếu là hậu quả của viêm màng

não (meningitis) hay xuất huyết màng não, hay cả hai, dẫn đến tổn thương hệ thốngthần kinh kế cận hay các mô của hệ thống thần kinh ngoại biên Lơ mơ, đần độn, mấtđiều hòa vận động với rối loạn chức năng thần kinh vận động phần trên hay dưới thân,rối loạn tiền đình vùng trung tâm hay ngoại biên, đồng tử hai bên không đều(anisocoria), rối loạn hành tủy, run rẩy không kiểm soát được, và tăng cảm giác cục bộhay toàn thân, là những quan sát thấy được ở hệ thần kinh trung ương Trong các trườnghợp hiếm, bọc mầm cũng thấy trong các tế bào của dịch não tủy (cerebrospinal fluid –CSF)

HÌNH 26-6 Chảy máu cam (epistaxis) ở chó do Ehrlichia

canis (Tài liệu của Dr Pedro Paulo Diniz, Western

University of Health Sciences, Pomona, CA.) HÌNH 26-7 Xuất huyết giác mạc (hyphema) ở chó doE.canis (Prof Gad Baneth, Koret School of Veterinary

Medicine, The Hebrew University of Jerusalem, Israel.)

Trang 13

HÌNH 26-8 Lòng trắng xuất huyết (scleral bleeding) ở chó

do Ehrlichia canis (Tài liệu của Dr Pedro Paulo Diniz,

Western University of Health Sciences, Pomona, CA.)

HÌNH 26-9 Xuất huyết võng mạc dẫn đến bong tróc do

bệnh nhiễm Ehrlichia hướng bạch cầu đơn nhân ở chó

(canine monocytotropic ehrlichiosis) dẫn đến mù lòa cấp tính và đồng tử bị bất động, giãn ra Các mạch máu ở võng mạc xung huyết và xuất huyết thấy rõ qua soi mắt (Tài liệu của Prof Ron Ofri, Koret School of Veterinary Medicine, The Hebrew University of Jerusalem, Israel.)

Bệnh nhiễm cùng lúc hay bệnh phụ nhiễm

Ve có thể chứa nhiều mầm bệnh, dẫn đến gây nhiễm cùng lúc cho chó Do đó, các kếtquả dương tính về phản ứng kháng thể hay các kết quả của các phương pháp phát hiện

nucleic acid phải được diễn giải cần thận khi xác định E canis là nguyên nhân duy nhất

của bệnh, nếu không loại trừ được khả năng các mầm bệnh khác truyền lây qua ve.Ngoài ra, chó với các kết quả xét nghiệm miễn dịch không đạt đối với ehrlichiosis cóthể đã bị nhiễm vi khuẩn cơ hội khác, nhiểm nấm hay nguyên sinh động vật khác

Các dấu hiệu ở tim

Có bằng chứng cho thấy là bệnh nhiễm Ehrlichia có thể là một yếu tố nguy cơ gây tổn

thương cơ tim, như đã thấy là gia tăng các hàm lượng tropinin trong cơ tim ở một chó

bị nhiễm E canis cấp tính Trong một trường hợp, các biến đổi về điện tâm đồ có liên quan đến nhiễm E canis.

IV- Chẩn đoán:

Việc chẩn đoán bệnh nhiễm Ehrlichia thường dựa vào kết hợp của tiền sử bệnh (như

Trang 14

sống trong vùng dịch, lịch sử du lịch, nhiễm ve), các dấu hiệu lâm sàng, các bất thường

về huyết học, và các phát hiện về huyết thanh học Phản ứng chuỗi phân tử (polymerasechain reaction – PCR) hiện nay được áp dụng trong điều kiện lâm sàng để cho ra mộtchẩn đoán (xem phần Phát hiện về Phân tử của Di truyền – Molecular Genetic

Detection trong chương này) Do E canis truyền lây qua trung gian ve R sanguineus,

phải luôn kiểm tra tình trạng nhiễm chung với các mầm bệnh khác truyền qua cùng mộttrung gian truyền lây

Các phát hiện về lâm sàng trong phòng thí nghiệm

Trong giai đoạn cấp tính, các bất thường điển hình về xuất huyết bao gồm đặc điểmgiảm tiểu cầu máu mức độ trung bình đến nặng nề, thiếu máu nhẹ và giảm bạch cầumáu Giảm tiểu cầu máu là dấu hiệu của giai đoạn cấp tính và có đặc tính là trương totiểu cầu (megathrombocytosis) Thiếu máu thấy trong giai đoạn cấp tính của CME đượccho là “thiếu máu ở bệnh viêm” và có đặc điểm là số lượng tế bào và sắc tố máu ở mứcbình thường hay giảm nhẹ, và không thể hiện tái sinh Ở chó bị nhiễm mãn tính, thấygiảm tích tụ của hemosiderin trong tủy xương, cho thấy rối loạn về chuyển hóa sắt (irondeficiency) có liên quan đến mất máu kéo dài có thể làm cho thiếu máu, chứ không phảihoàn toàn là do hậu quả của viêm hay suy thoái tủy xương

Những chó đã qua bệnh cấp tính, là những chó mà không nhận được điều trị hay điềutrị không đầy đủ, có thể chuyển sang giai đoạn bệnh mãn tính Phát hiện về huyết học

rõ nhất trong so sánh chó bị nhiễm trước đó với chó bệnh CME cận lâm sàng, là thểhiện giảm tiểu cầu huyết ở chó bệnh CME cận lâm sàng Trong một nghiên cứu, 8/9 chóđược kiểm tra có tình trạng giảm nhẹ tiểu cầu máu (dưới 200.000 tiểu cầu/μL) Sự giatăng cùng lúc thể tích của tiểu cầu so với trung bình cũng thấy ở tất cả chó bị giảm tiểu

cầu máu Trong các nghiên cứu thực nghiệm, 8 chó bị nhiễm E canis cũng bị nhiễm cùng lúc với E platys đã phát triển tình trạng giảm tổng số tiểu cầu thấp hơn, so với chó

chỉ bị nhiễm một mầm bệnh Các thông số huyết học quan trọng khác bao gồm giảmcạn số lượng bạch cầu (leukocyte count) ở 7/9 chó, giảm cạn số lượng bạch cầu trungtính (neutrophil count) ở 5/9 chó, suy giảm khối lượng tế bào trong máu (hematocrit) vàgiảm hàm lượng huyết sắc tố máu ở 3/9 chó, giảm thể tích trung bình của tế bào thể ở5/9 chó, và gia tăng hàm lượng trung bình của huyết sắc tố trong tế bào thể ở 4/9 chó,trong một thử nghiệm

Dạng mãn tính nặng nề của CME có đặc điểm là thoái hóa tủy xương và mất đi các tếbào của tủy xương, do đó dẫn đến giảm tế bào trong máu Tiên lượng của những chó bịdạng bệnh mãn tính nặng nề là rất xấu Các biến đổi về huyết học và lâm sàng trongnhững chó này không cải thiện được bằng điều trị với doxycycline Giai đoạn mãn tínhnặng nề thường xảy ra nhiều hơn ở giống chó German shepherd, và có thể xảy ra vớigiống chó spitz hound

Bệnh ở bạch cầu hạt cũng đã được ghi nhận là một đặc điểm của bệnh nhiễm E.

canis Chó bệnh có số lượng tế bào lâm ba từ 5.200 đến 17.200 tế bào/μL với bào tương

Trang 15

dạng hạt điển hình của tình trạng bệnh ở tế bào lâm ba Một số chó này cũng có cácbệnh tích bất thường về protein miễn dịch đơn giá trong máu (monoclonalgammopathies), mà dẫn đến nhầm lẫn thêm về chẩn đoán là thiếu máu với thiếu tế bào

lâm ba (lymphocytic leukemia) Do đó, việc xét nghiệm bệnh nhiễm Ehrlichia phải

được thực hiện ở những chó mà có các tình trạng bệnh ở tế bào lâm ba với các kết quảkhác thường về tổng số tế bào máu

Các bất thường về hóa sinh thường thấy nhất bao gồm tăng protein trong máu(hyperproteinemia), tăng globulin trong máu (hyperglobulinemia), giảm albumin trongmáu (hypoalbuminemia), và gia tăng hoạt tính của alanine aminotransferase và alkalinephosphatase Tình trạng gia tăng protein trong máu là do gia tăng các hàm lượngglobulin, nhưng không có mối liên quan trực tiếp giữa các hàm lượng của globulin với

các kháng thể kháng E canis trong huyết thanh Kết quả điện di huyết thanh thường thể

hiện gia tăng glubulin đa giá trong máu (polyclonal hyperglobulinemia), mặc dù tìnhtrạng gia tăng protein miễn dịch đơn giá (monoclonal gammopathies) cũng có thể xảy

ra Do đó phải đo lường hiệu giá kháng thể kháng E canis ở tất cả chó có tình trạng gia tăng protein miễn dịch đơn giá Chó bị nhiễm E canis thường có bệnh ở tế bào gốc

(plasmacytosis) của tủy xương hay trong các mô khác, điều này dễ gây nhầm lẫn vớiung thư tế bào gốc tủy xương (plasma cell myeloma) Những chó bị giảm tế bào máuthường có các hàm lượng thấp của γ-globulin trong huyết tương, so với chó không bịgiảm tế bào máu

Các phát hiện bệnh tích khác trong lâm sàng bao gồm kéo dài thời gian chảy máu,hình chụp X quang phổi thấy rõ kẽ phổi trương giãn với các khoảng mờ quanh phếnang, niệu huyết (hematuria), và protein niệu (proteinuria) Trong thực nghiệm, đỉnhđiểm của thất thoát protein qua nước tiểu, chủ yếu là albumin, quan sát thấy lúc 2,5 đến3,5 tuần sau khi gây nhiễm, và có thể có thời gian kéo dài khác nhau trong bệnh nhiễm.Trong đỉnh điểm thất thoát protein qua nước tiểu, các tỷ lệ protein/creatinine trong nướctiểu là từ 4,5 đến 23,2 (tỷ lệ bình thường là dưới 1,0) Tình trạng giảm tương ứng củacác hàm lượng albumin trong huyết thanh cũng đã được ghi nhận (trung bình là 2,1g/dL) Phân tích dịhc não tủy ở chó có các dấu hiệu thần kinh cho thấy có gia tăng cáchàm lượng protein và chủ yếu là có bệnh đa dạng ở tế bào lâm ba, tương tự như ởnhững bệnh nhiễm virus Các phát hiện ở dịch não tủy đã được ghi nhận tương tự như

trong bệnh nhiễm Ehrlichia hướng bạch cầu đơn nhân ở người (human monocytotropic

về khả năng sống sót với xác suất 100%

Chẩn đoán tế bào học (cytology)

Trang 16

Một chẩn đoán về CME có thể lập ra bằng cách chứng minh có bọc mầm (morulae)trong các bạch cầu đơn nhân của mẫu máu hay trong các đại thực bào của các mẫu dịchhút mô khác, như dịch hút mô lách, phổi và hạch lâm ba Việc phát hiện bọc mầm làkhó khăn và tốn thời gian, nhưng có thể tối ưu được bằng thực hiện các mẫu dịch lắng(buffy coat smears) hay kiểm tra các mẫu máu phết kính lấy từ mao mạch ngoại biêncủa vành tai Bọc mầm có thể nhìn thấy được trong các bạch cầu đơn nhân ở mẫu máungoại biên, trong dịch xoang, hay ít thấy hơn ở dịch não tủy Tuy nhiên các mẫu dịchlắng cho thấy có độ nhạy cao hơn trong phát hiện bọc mầm Các tiểu cầu, các thể dạnghạt bắt màu nhuộm tím của tế bào lâm ba (lymphocytic azurophilic granules), các tếbào thể dạng hạt, và các chất liệu nhân được thực bào vùi nuốt vào đều có thể gây nhầm

lẫn với các thể vùi của Ehrlichia.

Xét nghiệm kháng thể huỳnh quang (Fluorescent Antibody Testing) Xét nghiệm kháng

thể huỳnh quang gián tiếp này được áp dụng rộng rãi và được cho là xét nghiệm tiêuchuẩn vàng trong huyết thanh học (serologic gold standard test), áp dụng được cho phát

hiện phơi nhiễm đến E canis Các protein có phản ứng miễn dịch có tính kháng nguyên

riêng của vi sinh đã được chứng minh trong một số nghiên cứu, cho thấy có phản ứngmiễn dịch mạnh và thực chất của các protein gây phản ứng miễn dịch ở chó bệnh nhiễm

E canis, trong chẩn đoán bằng xét nghiệm FA gián tiếp Tuy nhiên, các bệnh nhiễm với

các thành viên khác của giống Ehrlichia, và đôi khi là Anaplasma, có thể cho ra các kết quả xét nghiệm dương tính Hơn nữa, xét nghiệm FA gián tiếp trong phát hiện E canis

chưa được chuẩn hóa giữa các phòng xét nghiệm thú y Do đó, các biến thiên trongphương pháp xét nghiệm FA gián tiếp, cũng như các biên thiên trong chất lượng và số

lượng kháng nguyên của E canis được sử dụng để sửa soạn các phiến ngưng kết, đã

dẫn đến các biến thiên đáng kể về kết quả giữa các phòng xét nghiệm

Chẩn đoán sớm bệnh nhiễm E canis trong giai đoạn cấp tính, tiếp theo là mức độ triệt

tiêu vi sinh gây bệnh do được điều trị đầy đủ hay do hàng rào phòng vệ tự nhiên của kýchủ sẽ cho ra khỏi bệnh hoàn toàn Việc nghi ngờ phơi nhiễm hiện tại hay trước kia ở

chó với E canis là dựa vào phát hiện IgG trong huyết thanh kháng với E canis, theo kết

quả của xét nghiệm FA gián tiếp đối với IgG, mà có các hiệu giá từ ≥ 40 hay ≥ 80, là tùythuộc vào tham chiếu của các phòng xét nghiệm Việc diễn giải các kết quả FA gián tiếpphải liên quan đến các phát hiện về lịch sử bệnh, các dấu hiệu lâm sàng và các phát hiệntrong phòng xét nghiệm (Bảng 26-2 ) Dựa vào các nghiên cứu xác định giai đoạn cậnlâm sàng của CME, ở đây thấy là sự hiện diện của các kháng thể IgG có thể chỉ làm một

chỉ thị về phơi nhiễm trước kia đến E canis Có khả năng mà chó có thể hiện các dấu

hiệu lâm sàng của bệnh khác (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm) và vẫn bị nhiễm

với có hiệu giá kháng thể kháng E canis Thí dụ, một chó trong giai đoạn cận lâm sàng

của CME bị nhiễm cùng lúc với một bệnh hay tình trạng khác không liên quan có thể có

hàm lượng kháng thể cao kháng E canis nhưng không thể hiện các dấu hiệu rõ rệt của

CME Khả năng này được củng cố bởi các kết quả của các khảo sát trước kia cho thấy

có tỷ lệ cao chó lâm sàng khỏe mạnh có phản ứng huyết thanh đối với E canis.

Ở đây cũng có khả năng là chó có thể bị nhiễm cùng lúc một bệnh khác không liên

Trang 17

quan sau khi điều trị đầy đủ cho bệnh nhiễm E canis, nhưng vẫn còn các kháng thể trong huyết thanh kháng E canis Trong cả hai hoàn cảnh này, không có khả năng phân biệt được nhiễm E canis là nguyên nhân gây bệnh lâm sàng hay các dấu hiệu lâm sàng này là do bệnh khác, nếu chỉ áp dụng xét nghiệm hiệu giá kháng thể kháng E canis.

Một xét nghiệm FA gián tiếp lặp lại hay xét nghiệm PCR, lúc 1 đến 2 tuần sau có thểgiúp ích cho diễn giải các kết quả xét nghiệm huyết thanh trong các hoàn cảnh này; tuynhiên, các thay đổi về hiệu giá không thường phát hiện thấy trong khoảng cách thờigian ngắn

Sau khi điều trị về CME, các hiệu giá kháng thể thường cạn kiệt và sau đó biến mất.Tuy nhiên, các bất thường lâu dài về lâm sàng và/hoặc huyết học cùng với tồn tại của

các kháng thể trong huyết thanh có phản ứng với kháng nguyên của E canis có thể còn

thấy được Các hiệu giá kháng thể trong huyết thanh cũng cho thấy vẫn còn cao trongthời gian từ 15 đến 31 tháng sau khi bắt đầu điều trị Trong một nghiên cứu, có đến 40%chó được báo cáo có các hiệu giá kháng thể cao kéo dài đến 1 năm sau khi chẩn đoán vàđiều trị CME

Chưa rõ lý do tại sao các kháng thể có phản ứng huyết thanh này tồn tại trong thờigian lâu dài, sau khi đã tiêu diệt hết vi sinh gây bệnh theo kết quả xét nghiệm PCR

Phản ứng chéo về huyết thanh học giữa nhiều tác nhân gây bệnh liên quan đến E.

canis làm phức tạp thêm cho chẩn đoán về CME, khi chỉ dựa vào các kết quả xét

nghiệm FA gián tiếp (xem Bảng 26-2, và Bảng Trang mạng 26-1)

Có rất ít, hoặc không có, phản ứng chéo giữa E canis với Rickettsia rickettsii, là

mầm bệnh của bệnh sốt phát ban vùng núi Rocky (Rocky Mountain spotted fever) Dogiống nhau về thể hiện lâm sàng giữa hai bệnh, những chó có các dấu hiệu lâm sàng của

bệnh nhiễm Ehrlichia mà có huyết thanh âm tính với E canis phải được xét nghiệm

bệnh sốt phát ban vùng núi Rocky hay bệnh sốt phát ban khác thuộc nhóm bệnh sốt do

Rickettsia (spotted fevergroup rickettsial infection).

Lý do Dương tính

Các lựa chọn xét nghiệm thêm về huyết thanh học

và gen di truyền để giải quyết khả năng kết quả xét nghiệm sai

Trang 18

Xét nghiệm ELISA tại

chỗ (4-Dx

point-of-care serum antibodies

dot ELISA SNAP

hàm lượng kháng thể và để theo dõi hiệu giá sau khi điều trị.

Thực hiện PCR đặc hiệu theo loài, hay thực hiện thấm thấu miễn dịch

(immunoblot) Xét nghiệm vi kháng

Đang nhiễm hay phơi nhiễm trước kia với

Neorickettsia helminthoeca, E

ewingii, E

chaffeensis, Anaplasma phagocytophilum

Lấy mẫu quá sớm Hàm lượng kháng thể còn lại dưới ngưỡng 64

Các hiệu giá >2048 thường

Thực hiện PCR nếu các hiệu giá kháng thể còn cao sau khi điều trị, nhưng cần đủ khoảng cách thời gian, hoặc thực hiện thấm thấu miễn dịch (immunoblot) Thấm thấu miễn dịch

trong huyết thanh

Các kháng nguyên protein có chung trong các vi sinh khác loài

Lấy mẫu quá sớm, cần lấy mẫu ít nhất 21 ngày sau khi bị nhiễm

Thực hiện PCR để làm rõ có hay không các hiệu giá kháng thể là của bệnh nhiễm hiện tại hay trước kia và giúp loài trừ bệnh nhiễm cùng lúc

có thể cho phép theo dõi hiệu quả điều trị

Mẫu bị vấy nhiễm, khuyếch đại không đặc hiệu

Chiết xuất mẫu không tốt;

vấn đề kỹ thuật của phòng xét nghiệm; chọn lựa mẫu không phù hợp; nhiễm ở mức độ thấp; vấn đề độ nhạy xét nghiệm, mà thường thấy hơn ở bệnh nhiễm tự nhiên so với bệnh nhiễm thực nghiệm;

điều trị trước đó bằng các thuốc kháng sinh

Thực hiện PCR với mẫu dịch hút của lách.

Thực hiện PCR thời gian thực (định lượng) để xác định các mức độ nhiễm vi sinh hay theo dõi hiệu quả của điều trị?

ELISA, Enzyme-linked immunosorbent assay – xét nghiệm hấp phụ miễn dịch kết hợp enzyme; FA,

fluorescent antibody – xét nghiệm kháng thể huỳnh quang; PCR, polymerase chain reaction – xét

nghiệm phản ứng chuỗi phân tử.

a Tham khảo Phụ lục Trang mạng 5 về thực hiện các xét nghiệm đã nêu trên đây và tham khảo Phụ lục Trang mạng 6 để biết thêm về xét nghiệm hiện có trong thương mại.

b Ngoài phát hiện các kháng thể kháng E canis, xét nghiệm này cũng phát hiện các kháng thể kháng E.

ewingii và nhiều dòng của E chaffeensis.

Các kháng thể của chó kháng E canis trong xét nghiệm FA gián tiếp sẽ cho phản ứng chéo với các kháng nguyên của N helminthoeca và N risticii, và ngược lại, các kháng thể của chó kháng với N helminthoeca sẽ phản ứng chéo với các kháng nguyên của E.

Trang 19

canis, làm phức tạp thêm việc xác đính một chẩn đoán trong những vùng mà có những

vi sinh này cùng gây dịch (xem Chương 25, Bệnh nhiễm Neorickettsia và Wolbachia,

và xem Bảng Trang mạng 26-1) Các hiệu giá kháng thể kháng với Ehrlichia spp khác

phải được kiểm tra tùy theo vùng địa lý và lịch sử du lịch của chó, nếu thấy có các dấu

hiệu lâm sàng tương tự Các kháng nguyên của E ewingii sẽ phản ứng chéo với kháng thể của kháng E canis và kháng E chaffeensis; do đó xét nghiệm FA gián tiếp cho bất

kỳ loài nào trong ba vi sinh ehrlichial này đều sẽ cho kết quả dương tính Hơn nữa,

huyết thanh với hiệu giá kháng thể cao kháng E canis có thể cho phản ứng chéo với kháng nguyên của A phagocytophilum Mặc dù kháng nguyên của E ewingii sẽ phản

ứng chéo với kháng thể của các loài ehrlichia khác, nhưng vi sinh này không thể nuôicấy được ở ngoại môi trường; do đó, không có được xét nghiệm huyết thanh học đặc

hiệu nào Các kháng nguyên cho phản ứng chéo cũng có ở E chaffeensis và A.

phagocytophilum trong xét nghiệm sử dụng huyết thanh của người, nhưng không xảy ra

phản ứng chéo ở huyết thanh chó

Xét nghiệm nhanh về hấp phụ miễn dịch kết hợp enzyme (Point-of-Care Enzyme-Linked Immunosorbent Assay Testing) Ngoài xét nghiệm FA gián tiếp, các bộ kit ELISA dạng

“chấm” (“dot” enzyme-linked immunosorbent assay [ELISA] kits) có chứa các khángnguyên đơn giá hay đa giá, đã trở thành phổ biến với tên gọi “xét nghiệm tại chỗ –

point-of-care tests” để phát hiện các kháng thể kháng E canis Các kết quả thu được từ

các bộ kit này là định lượng và bán định lượng; tuy nhiên, các kết quả này có đượcnhanh chóng trong điều kiện phòng mạch Các xét nghiệm này có độ nhạy và tính đặchiệu, nhất là khi có các hiệu giá kháng thể cao theo kết quả của FA gián tiếp, lớn hơn

320 Các bộ kit này có ưu điểm là chi phí tương đối rẻ và cho ra bằng chứng về phơi

nhiễm với E canis, giúp chẩn đoán sớm được bệnh với trang thiết bị và nhân sự tối

thiểu (xem Bảng 26-2) Để biết thêm thông tin về các bộ kit sẵn có, xem Phụ lục Trangmạng 6

Với tiến bộ của một xét nghiệm đa giá sẵn có cho khảo sát, các con thú có lâm sàngkhỏe mạnh đã được xét nghiệm và phát hiện thấy có các hiệu giá kháng thể trong huyết

thanh kháng Ehrlichia hay Anaplasma Người sử dụng các xét nghiệm này phải biết là

các kết quả xét nghiệm dương tính có thể xảy ra co kết quả của phản ứng chéo, với

Riskettsia có độc lực thấp hơn Các xét nghiệm FA gián tiếp, thấm thấu miễn dịch hay

PCR và phân tích kết chuỗi gen di truyền có thể cần thiết cho xác nhận phơi nhiễm haybệnh nhiễm (xem Bảng 26-2, và Bảng Trang mạng 26-1) Việc điều trị cho chó có huyếtthanh dương tính là vấn đề còn đang tranh cãi Khi phương pháp ELISA dạng chấm(dot ELISA) được áp dụng làm phương pháp khảo sát đối với chó có lâm sàng khỏemạnh, việc điều trị chỉ dựa vào các kết quả xét nghiệm dương tính là không nên Thú

khỏe mạnh về lâm sàng có thể đóng vai trò là nguồn tàng trữ cho E canis, mặc dù nguy

cơ này có thể giải quyết bằng kiểm soát tốt hơn đối với trung gian truyền lây

Có hay không tất cả thú vật bị nhiễm cận lâm sàng sẽ tiến triển đến giai đoạn mãntính của bệnh là chưa chắc chắn và có thể không có khả năng Một số con thú có thểkhông bao giờ phát triển miễn dịch vĩnh viễn, và bệnh nhiễm có thể tái phát khi bị táiphơi nhiễm Việc điều trị không phân biệt đối với các con thú có huyết thanh dương

Trang 20

tính có thể dẫn đến kháng thuốc về sau của các vi sinh gây bệnh đối với cáctetracyclines; tuy nhiên, tình trạng kháng thuốc này chưa có báo cáo.

Xét nghiệm thấm thấu miễn dịch (immunoblotting) Như đã nêu trên, phản ứng kháng

nguyên chéo trong xét nghiệm FA gián tiếp đã xảy ra giữa E canis và các vi sinh khác

Một số phản ứng chéo cũng xảy ra giữa các loài ehrlichia, mà có thể gây ra vấn đề cho diễn giải kết quả xét nghiệm FA gián tiếp ở một số vùng địa lý Sự chuyển đổi về phản

ứng đối với nhiều kháng nguyên xác định của E canis đã phát hiện thấy ở chó trong

tiến trình bệnh nhiễm Xét nghiệm thấm thấu miễn dịch cầu tây (western

immunoblotting) và PCR đã được áp dụng để phân loại và phân biệt bệnh nhiễm của

các vi sinh khác nhau gây bệnh nhiễm Ehrlichia, bệnh nhiễm Anaplasma hay bệnh nhiễm Neorickettsia, và có khả năng giải quyết được các vấn đề về phản ứng chéo

Trong một nghiên cứu có hướng nhận diện tất cả các kháng nguyên có phản ứng miễn

dịch của E canis và để xác định động thái của đáp ứng kháng thể kháng E canis, chó

được gây nhiễm thực nghiệm bằng các đường thuận tiện cho truyền lây của ve, và đápứng kháng thể sớm nhất đã phát hiện thấy lúc 21 ngày sau gây nhiễm Ở giai đoạn này,đáp ứng kháng thể là hướng đến các protein 37- và 19-kDa Từ ngày 21 đến ngày 28sau gây nhiễm, các kháng nguyên chính có phản ứng miễn dịch đã ghi nhận được là cácprotein 19-, 37-, 75-, và 140-kDa Các kháng nguyên thứ yếu là các protein 72- và 79-kDa Các protein ghi nhận được từ ngày 28 đến 42 là các protein 28-, 42-, 72-, 95-, và200-kDa proteins

Tóm lại, trên thực tế, xét nghiệm FA gián tiếp hay xét nghiệm ELISA dạng chấm chophòng mạch (in-clinic dot-ELISA) là các xét nghiệm tốt nhất cho khảo sát ban đầu Xétnghiệm thấm thấu miễn dịch cầu tây đã chứng minh có tác dụng trong phân biệt giữa

bệnh nhiễm E canis với bệnh nhiễm E ewingii Đặc điểm này là hữu ích do hầu hết chó bị nhiễm E ewingii sẽ có các hiệu giá kháng thể dương tính với E canis trong xét nghiệm FA gián tiếp Không có xét nghiệm FA gián tiếp nào áp dụng cho E ewingii.

Các tranh luận giữa xét nghiệm FA gián tiếp và xét nghiệm thấm thấu miễn dịch cầu tây

đã xảy ra ở các mẫu huyết thanh có hiệu giá thấp PCR là một phương pháp khác thaythế cho thấm thấu miễn dịch (xem phần Phát hiện Phân tử Di truyền, phần dưới) có thểgiúp giải quyết vấn đề liên quan đến phản ứng chéo về huyết thanh đã nêu trên

Nuôi cấy vi sinh (Organism Cultivation) Cấy mẫu máu có thể mất đến 8 tuần để đạt

được phát triển của vi sinh và không thực tế trong điều kiện lâm sàng Ngoài ra, phươngpháp này tốn kém và không sẵn có Phương pháp này đặc trưng hơn cho vi sinh gây

bệnh và do đó được cho là công cụ nghiên cứu quan trọng E canis đã nuôi cấy được

trong tế bào nuôi DH82 của chó cũng như tế bào nuôi J774.A1 của chuột

Phát hiện phân tử di truyền (Molecular Genetic Detection) PCR đã cho thấy là phương

pháp nhạy để phát hiện bệnh nhiễm cấp tính do E canis ở chó, thường trong vòng 4 đến

10 ngày sau gây nhiễm và trước khi xuất hiện chuyển hóa huyết thanh Độ nhạy củaPCR trong xét nghiệm mẫu máu để kiểm tra chó bị nhiễm tự nhiên là chưa biết rõ Các

Trang 21

kết quả âm tính sai là do khó khăn trong chiết xuất DNA của vi sinh, là vấn đề cơ bảncủa kỹ thuật này, và việc chọn lựa không đúng mẫu là tất cả các lý do cho khác biệt củacác kết quả xét nghiệm (xem Bảng 26-2) Lý do chính cho các kết quả dương tính sai làkhuyếch đại không đặc hiệu hay mẫu bị vấy nhiễm trong quá trình xử lý Có ít báo cáo

về áp dụng PCR xét nghiệm máu trong chẩn đoán ban đầu bệnh nhiễm tự nhiên do

Ehrlichia, khi so sánh các kết quả xét nghiệm mẫu máu bằng PCR với các kết quả xét

nghiệm FA gián tiếp Trong một nghiên cứu, đã ghi nhận thấy kém liên quan giữa cáchiệu giá kháng thể trong xét nghiệm FA gián tiếp với các kết quả của PCR Trongnghiên cứu này, chỉ 13/49 chó (27%) có các kết quả PCR dương tính đối với mẫu máu,

trong khi các kết quả xét nghiệm FA gián tiếp để phát hiện kháng thể kháng E canis là

dương tính với tất cả 49 chó Mối liên quan kém giữa các kết quả PCR xét nghiệm máuvới các kết quả xét nghiệm FA gián tiếp đã được ghi nhận trong một nghiên cứu chógiống Tennessee, trong đó 10/90 chó có các kết quả FA gián tiếp là dương tính và không

có chó nào phát hiện dương tính trong xét nghiệm mẫu máu bằng PCR Tình trạng kémliên quan trong điều kiện lâm sàng có thể cho thấy hoặc là do độ nhạy của phương phápPCR xét nghiệm máu, hoặc là do phơi nhiễm với vi sinh mà sau đó đã xóa sạch vi sinhgây bệnh Điều này cũng đã được báo cáo ở người bệnh HGE Trong nghiên cứu này ởngười, các hiệu giá kháng thể lúc khỏi bệnh theo xét nghiệm FA gián tiếp là nhạy hơn

so với xét nghiệm máu bằng PCR để chẩn đoán xác nhận HGE Độ nhạy kém của xét

nghiệm máu bằng PCR được giải thích là DNA của Ehrlichia có thể khuyếch đại được

từ mẫu lách, trong khi không thể khuyếch đại được từ mẫu máu tương ứng Do đó, việc

chọn lựa mô hay dịch cơ thể phù hợp cho xác nhận bệnh nhiễm Ehrlichia là quan trọng

trong chẩn đoán Độ nhạy của xét nghiệm mẫu máu bằng PCR trong xác nhận ban đầu

về bệnh nhiễm Ehrlichia là không đủ thực chất để được khuyên làm xét nghiệm đuy nhất cho chẩn đoán bệnh nhiễm Ehrlichia Xét nghiệm PCR này phải được kết hợp với

các phương pháp phát hiện kháng thể, để phát hiện chính xác các con thú bị nhiễmtrước khi có chuyển hóa huyết thanh PCR xét nghiệm mẫu dịch hút từ lách có thể đượccho là phương cách nhạy hơn thay thế cho PCR xét nghiệm mẫu máu Theo thời gian,xét nghiệm PCR đã trở nên đơn giản và sẵn có hơn Xét nghiệm này chứng minh khả

năng phân biệt được thú vật đã được điều trị mà nhiễm E canis dai dẳng, với thú vật

vẫn còn các hiệu giá kháng thể cao theo xét nghiệm FA gián tiếp sau khi con thú đã điềutrị khỏi bệnh Xét nghiệm PCR và phân tích kết chuỗi là các phương cách rất đặc trưng

cho xác định xác loài Rickettsia đang nhiễm ở con thú Hơn nữa, các đoạn mồi có thể

được cấu trúc cho khảo sát đặc hiệu theo giống, để giảm thiểu số lượng các phản ứngđặc trưng cần được thực hiện Xét nghiệm PCR thời gian thực (real-time PCR) là nhạyhơn và ít có khuynh hướng vấy nhiễm so với các phương pháp thông thường, do đó

nhanh chóng trở thành phương pháp thích hợp cho chẩn đoán bệnh nhiễm E canis Hơn

nữa, xét nghiệm PCR thời gian thực cho ra các kết quả định tính và định lượng, cho

phép truy dấu động thái của bệnh nhiễm Ehrlichia.

V- Các phát hiện bệnh tích

Các phát hiện bệnh tích đại thể của chó bị nhiễm E canis bao gồm xuất huyết lấm tấm

Trang 22

và thành đốm ở các bề mặt tương mạc và màng nhày của hầu hết các cơ quan, bao gồmxoang mũi, phổi, thận, bàng quang, đường dạ dày ruột và mô dưới da Sưng hạch lâm

ba toàn thân, sưng lách và sưng gan thường thấy nhiều ở giai đoạn bệnh cấp tính Tất cảcác hạch lâm ba có thể sưng lên và biến màu nâu Phù nề với mất thể trọng thường thấytrong các trường hợp bệnh mãn tính Tủy xương có tăng sinh tế bào (hypercellular) vàửng đỏ trong giai đoạn bệnh cấp tính, nhưng đến giai đoạn bệnh mãn tính thì trở nênthoái triển tế bào (hypoplastic) và có màu nhạt, do bị thấm nhập mỡ

Một trong các phát hiện đặc trưng hơn về mô bào học là thấm nhập của tế bào huyếttương quanh thành mạch máu ở nhiều cơ quan, bao gồm phổi, não, màng não, thận, cáchạch lâm ba, tủy xương, lách và đôi khi ở da hay màng nhày Mức độ thấm nhập tế bàolâm ba và tế bào huyết tương thể hiện gia tăng ở chó bệnh mãn tính Các vi sinh thuộc

Ehrlichia spp khó phát hiện thấy trong mẫu mô bào học được cố định bằng hoặc là

formalin hay bằng dung dịch của Bouin Bọc mầm ít quan sát thấy trong các thực bàođơn nhân ở các mẫu mô nhuộm hematoxylin và eosin

Ở hệ thần kinh trung ương, viêm não màng não không sinh mủ (nonsuppurativemeningoencephalitis) có thể ghi nhận ảnh hưởng đến hành não (brainstem), não giữa(midbrain), và vùng vỏ của bán cầu não Hầu hết các bệnh tích khu trú ở mặt dưới củahành não và quanh vùng chất xám và chất trắng của tiền não thất (periventricular) Thểhiện viêm não rất nhẹ ở tiểu não (cerebellum) Sưng dày quanh mao mạch ở nhu mônão và viêm ở tế bào hình rễ cây (gliosis) thường kèm theo viêm màng não trong bệnhCME Tế bào thấm nhập trong viêm màng não có thể là bạch cầu đơn nhân (monocytic)hay tế bào lâm ba của huyết tương (lymphoplasmacytic), hay cả hai Các bệnh tích vithể ở màng não thấy ở hầu hết chó lúc khám tử, nhưng ít thấy chó có các dấu hiệu lâmsàng của viêm màng não

Các dấu hiệu ở mắt đã được báo cáo là ảnh hưởng đến hầu hết các cấu trúc của mắt.Các dấu hiệu này bao gồm viêm màng tiếp hợp (conjunctivitis), xuất huyết lấm tấm hayxuất huyết thành vết ở màng tiếp hợp hay mống mắt (iris), phù nề giác mạc (cornealedema), viêm tròng mắt (uveitis), và xuất huyết giác mạc (hyphema) Xuất huyết dướivõng mạc và bong tróc võng mạc cũng có thể xảy ra Trong một nghiên cứu với mắt của

chó được gây nhiễm thực nghiệm bằng E canis Viêm tròng mắt xảy ra ở tất cả chó

trong gây nhiễm Tế bào thấm nhập trong phản ứng viêm chủ yếu là các tế bào lâm ba,bạch cầu đơn nhân và tế bào huyết tương Viêm ở mắt thấy nhiều nhất ở đồng tử (ciliarybody), ít thấy hơn ở tròng trắng (choroid), mống mắt (iris), và võng mạc (retina)

Các biến đổi ở phổi trong bệnh nhiễm Ehrlichia chủ yếu là viêm phổi kẽ (interstitial

pneumonia) Ban đầu thấy tích tụ các bạch cầu đơn nhân dưới lớp nội mạc, sau đó có

thể thấy xuất huyết kẽ phổi và phế nang Vi sinh E canis có thể thấy trong các bạch cầu

đơn nhân ở vách ngăn và các đại thực bào ở nội mạc mạch máu phổi

Viêm cầu thận là hiếm thấy ở chó bị CME Bệnh ở tế bào gốc tạo máu trong kẽ thận

có thể thấy ở một số trường hợp chó bị nhiễm Ehrlichia và có thể gây ra protein niệu

(proteinuria) Các biến đổi mô bào học tối thiểu đã ghi nhận được ở thận chó gây nhiễm

Trang 23

thực nghiệm bằng E canis Tuy nhiên, kiểm tra siêu cấu trúc thấy vỡ bể nang lọc máu

(podocyte) vào thời điểm phát triển của protein niệu

VI- Điều trị

Điều trị bệnh nhiễm E canis chủ yếu bằng các thuốc kháng sinh và chăm sóc hỗ trợ.

Thuốc có hiệu quả bao gồm các dạng tetracyclines và chloramphenicol (Bảng 26-3).Thông thường, việc điều trị bắt đầu từ khi chó bệnh cấp tính sẽ cho tiên lượng tốt hơn.Những chó trong giai đoạn mãn tính thường không đáp ứng với điều trị do các biến đổi

đa hệ thống và bị ức chế nặng nề ở tủy xương (severe myelosupression)

BẢNG 26-3

Điều trị kháng sinh đối với Bệnh nhiễm Ehrlichia hướng bạch cầu đơn nhân ở chó (Canine Monocytotropic

Ehrlichiosis)

(mg/kg) Đường cấp thuốc (đường cấp khác) Khoảng cách (giờ) Liệu trình (ngày)

IV, Intravenously – tiêm mạch máu; PO, by mouth – cấp đường miệng; SC, subcutaneously – tiêm dưới da.

trị bằng doxycycline để cố gắng loại trừ mầm bệnh trong chó bệnh mãn tính Thuốc này không có hiệu quả khi chỉ được cấp riêng lẻ, và các thử nghiệm với các mầm bệnh nội bào khác cho thấy thuốc luôn phải được kết hợp với các kháng sinh

khác để cải thiệu hiệu quả và để tránh kháng thuốc Các lưu ý khi sử dụng thuốc này bao gồm độc tính với gan Xem thêm phần Công thức Thuốc trong Phụ lục để biết thêm thông tin.

Doxycycline, và minocycline ở một số quốc gia khác, được cho là thuốc có hiệu quảtốt, mặc dù tetracycline và oxytetracycline đã được sử dụng từ lâu và vẫn còn có hiệuquả Doxycycline là dạng tetracycline bán tổng hợp, hòa tan trong lipid và dễ dàng hấp

thụ đạt được các hàm lượng cao trong máu, mô và nội bào Do Ehrlichia có thể tồn tại

dai dẳng ở nội bào, thuốc này chủ yếu sử dụng để thấm vào nội bào và tiêu diệt mầmbệnh Doxycycline có thêm ưu điểm là thời gian tồn tại lâu dài và thấm nhập vào thầnkinh nhiều hơn so với tetracycline và oxytetracycline Một nghiên cứu đã thấy làdoxycycline (10 mg/kg mỗi ngày) trong 7 ngày là không hiệu quả trong điều trị bệnh

nhiễm thực nghiệm bằng E canis, ở 3/5 chó Trong một nghiên cứu khác, doxycycline

(5 mg/kg hai lần mỗi ngày) sử dụng trong 10 hay 14 ngày đã có hiệu quả tốt trong điều

trị bệnh nhiễm thực nghiệm bằng E canis, theo xét nghiệm PCR, ở 8 và 13 chó gây

nhiễm thực nghiệm bệnh cấp tính Có hay không liệu trình điều trị ngắn ngày là đủtrong các trường hợp bệnh xảy ra trong tự nhiên là vấn đề chưa được rõ Thí dụ, người

ta đã thấy là liệu trình 6 tuần của doxycycline (10 mg/kg, cấp đường uống, hàng ngày)

là không đủ để xóa sạch E canis ra khỏi chó bệnh cận lâm sàng trong nhiễm tự nhiên.

Tuy nhiên, trong các nghiên cứu khác liên quan đến gây nhiễm thực nghiệm, các liệutrình từ 16 đến 23 ngày, hoặc 28 ngày, bằng doxycycline là đủ để quét sạch được vi sinh

này ra khỏi tất cả chó bị nhiễm Hơn nữa, các thực nghiệm gây nhiễm cùng lúc với E.

Trang 24

platys cũng cho ra đáp ứng tốt với cùng liệu trình doxycycline đã áp dụng cho bệnh

nhiễm E canis Vấn đề tranh luận thường là hiệu quả điều trị có thể liên quan đến thời

gian bệnh nhiễm trước khi điều trị Trong khi chó bệnh nhiễm cấp tính và cận lâm sàng

do E canis có thể điều trị thành công bằng doxycycline với liệu trình 28 ngày, thì

những chó bị bệnh mãn tính điều trị không thành công Sau khi điều trị cho chó bệnhmãn tính, kết quả xét nghiệm PCR vẫn còn dương tính ở máu chó, và ở ve hút máu chónày Điều trị tiếp theo bằng rifampin cấp đường miệng làm giảm được tỷ lệ nhiễm ở ve,tuy nhiên chỉ sử dụng rifampin thì không có hiệu quả; do đó các khuyến cáo về sử dụng

bổ sung rifampin là không chắc chắn Thời gian tác dụng chuẩn của doxycycline trongđiều trị bệnh nhiễm tự nhiên là từ 21 đến 28 ngày, và Kết luận điều trị bệnh nhiễm

Ehrlichia (Ehrlichial Consensus Statement) của Đại học Dược Thú y Mỹ (American

College of Veterinary Internal Medicine) năm 2002 đã khuyên điều trị với liều lượng tốithiểu 10 mg/kg mỗi ngày trong 28 Chế độ liều lượng đối với tetracyclines và các thuốckhác được tóm tắt trong Bảng 26-3

Đáng chú ý là cải thiện về lâm sàng thường có được trong vòng 24 đến 48 giờ sau khibắt đầu điều trị bằng tetracycline ở những chó trong giai đoạn cấp tính hay giữa giaiđoạn mãn tính của bệnh Số lượng tiểu cầu bắt đầu gia tăng trong thời gian này vàthường ở giới hạn bình thường lúc 10 đến 14 ngày sau khi điều trị Hồi phục bệnh

không liên quan đến miễn dịch vĩnh viễn, chó có thể tái nhiễm E canis sau khi đã được

điều trị khỏi bệnh Hơn nữa, thực nghiệm gây nhiễm bằng các dòng dị hợp(heterologous strain) đã gây bệnh nặng nề hơn so với gây bệnh bằng dòng tương đồng(homologous strains) Việc tiêm bắp thịt bằng oxytetracycline có khả năng tích tụ chotác dụng lâu dài (long-acting repositol oxytetracycline) có thể được xem xét đến khi khócấp đường miệng các loại thuốc, nếu chó bị các dấu hiệu đường dạ dày ruột hay thầnkinh, hoặc khi có tiên lượng về biến chứng do thuốc

Chloramphenicol được khuyên sử dụng cho chó con dưới 5 tháng tuổi để tránh biếnmàu răng do các tetracyclines Tuy nhiên, do là dạng tetracycline tan trong lipid, nêndoxycycline ít có khả năng gây biến màu răng so với các ionic tetracyclines (xem phầnCông thức Thuốc trong Phụ lục) Chloramphenicol sẽ được sử dụng cho chó bị nhiễmdai dẳng dù đã được điều trị bằng các tetracyclines Tuy nhiên, do nguy cơ đối với sứckhỏe con người liên quan đến chloramphenicol và do thuốc này trực tiếp cản trở sinhtổng hợp máu (heme) và tủy xương, tránh sử dụng chloramphenicol cho chó bị thiếumáu hay thiếu tế bào máu

Các thuốc kháng sinh mà không hiệu quả đối với Ehrlichia spp hướng bạch cầu đơn nhân của người (human monocytotropic Ehrlichia spp.) là erythromycin, các

macrolides thế hệ mới (azithromycin, clarithromycin, và telithromycin), penicillins, vàaminoglycosides Hiệu quả của các quinolones là khác nhau theo dạng thuốc sử dụng và

vi sinh liên quan Enrofloxacin đã được thử nghiệm điều trị cho chó thực nghiệm gây

nhiễm E canis và thấy là không có hiệu quả.

Hơn nữa, hiệu quả của enrofloxacin đối với E canis đã được đánh giá bằng một nghiên cứu ở ngoại môi trường, cho thấy là E canis có một đề kháng tự nhiên qua trung

Trang 25

gian gyrase đối với các thuốc quinolones.

Imidocarb dipropionate, mộ loại thuốc kháng nguyên sinh động vật, đã được sử dụng

trước kia trong điều trị bệnh nhiễm E canis Phát triển của E canis ở ngoại môi trường

đã cho thấy không bị ảnh hưởng bởi các hàm lượng thấp trong thời gian ngắn (3 ngày)của imidocarb.116 Thực nghiệm 10 chó gây nhiễm E canis đã không xóa sạch được

mầm bệnh bằng điều trị với imidocarb dipropionate (6,6 mg/kg, tiêm bắp thịt [IM], mỗilần tiêm cách nhau 2 tuần)

Do có thể bị nhiễm cùng lúc với B canis và/hoặc Hepatozoon canis (là các vi sinh truyền lây theo cùng trung gian truyền lây của E canis), imidocarb dipropionate có thể

sử dụng kết hợp với các tetracyclines trong các trường hợp này

Ngoài điều trị bằng kháng sinh, chăm sóc hỗ trợ bằng các dịch chất đối với mất nướchay truyền máu có thể được cân nhắc nếu chó bị thiếu máu nặng nề Truyền máu sẽkhông làm gia tăng rõ rệt số lượng tiểu cầu; do đó có thể cần đến huyết tương chứanhiều tiểu cầu trong tình trạng khẩn cấp Desmopressin acetate (DDAVP) đã được sửdụng cho người và chó để điều trị các rối loạn đông máu khác nhau do suy giảm chứcnăng của tiểu cầu Tiêm dưới da DDAVP (1 μg/kg mỗi lần cách nhau 24 giờ, với 12 giờ

nhịn uống, liệu trình ba liều liên tiếp) cho 3 chó bị nhiễm E canis thể hiện lâm sàng là

chảy máu, cho thấy hiệu quả: ngưng chảy máu trong vòng 1 giờ, rút ngắn thời gianchảy máu cam trong vòng 2 giờ; và gia tăng số lượng tiểu cầu, gia tăng hàm lượng sợihuyết, rút ngắn thời gian đông máu trong vòng 48 giờ; sau lần cấp thuốc đầu tiên Cần

có nghiên cứu thêm về phương pháp điều trị này, đối với chó bệnh xuất huyết Không

có dữ liệu chứng minh việc sử dụng các yếu tố tăng trưởng, như kết hợp củaerythropoietin ở người (recombinant human erythropoietin [rHuEPO]) với yếu tố kíchthích bạch cầu hạt trú đóng (granulocyte colony-stimulating factor) (như filgrastim, G-CSF) Tuy nhiên, các kết quả của một trường hợp báo cáo cho thấy điều trị lâu dài bằng

các tác nhân này là giúp ích cho điều trị bệnh nhiễm Ehrlichia mãn tính Xem thêm

phần Công thức Thuốc trong Phụ lục để biết thêm thông tin về các thuốc này

Điều trị ngắn hạn (2 đến 7 ngày) bằng các liều lượng gây ức chế miễn dịch của cácglucocorticoids (1 đến 2 mg/kg prednisolone, cấp đường miệng) có thể giúp ích trongđiều trị sớm, đối với thể hiện của giảm tiểu cầu máu nặng nề Các glucocorticoids sẽđược sử dụng trong các trường hợp mà xuất huyết có thể gây tử vong, do giúp giảm khảnăng xuất huyết từ nhiều nguyên nhân dẫn đến giảm tiểu cầu máu, mà thường là qua

trung gian miễn dịch Việc theo dõi đáp ứng đối với điều trị của bệnh nhiễm Ehrlichia

là quan trọng, do E canis có thể nhiễm dai dẳng hàng tháng đến hàng năm, và một số

chó có thể phát triển dạng bệnh mãn tính nặng nề Hóa giải tình trạng giảm tiểu cầumáu có thể thấy trong vòng 10 đến 14 ngày sau khi điều trị Do bệnh có thể tái phát saukhi ngưng điều trị, phải kiểm tra số lượng tiểu cầu ít nhất 1 đến 3 tháng sau điều trị.Các biến đổi về protein huyết thanh do tăng globulin máu có thể kéo dài đến 12 tháng Một số chó sẽ hóa giải tất cả các bất thường về lâm sàng và xét nghiệm, nhưng vẫncòn hiệu giá kháng thể cao Trong các hoàn cảnh này, cần xét nghiệm PCR đối với mẫu

Trang 26

dịch hút lách Việc định lượng phân tử đối với DNA của E canis, bằng PCR thời gian

thực, là phương cách nhạy để theo dõi mức độ xóa sạch mầm bệnh Giống như ở cácbệnh truyền nhiễm khác, các hiệu giá kháng thể trong huyết thanh có thể còn gia tăngsau khi triệt tiêu mầm bệnh; tuy nhiên, tất cả các bất thường về xét nghiệm sẽ phải hóagiải trước khi đưa ra kết luận điều trị Chó sống trong vùng dịch có thể bị tái nhiễm saukhi điều trị khỏi bệnh; do đó, việc chứng minh xóa sạch mầm bệnh sau điều trị là điềukhó khăn Nếu con thú không thể hiện cải thiện lâm sàng sau các chế độ điều trị, thì cần

xem xét đến bệnh khác hay bệnh kết hợp Hầu hết chó bệnh nhiễm Ehrlichia cấp tính

thể hiện hóa giảm bệnh lâm sàng trong vòng 24 đến 72 ngày sau khi bắt đầu điều trị, kể

cả khi các kết quả xét nghiệm vẫn còn thấy bất thường Mặc dù chó gây nhiễm thựcnghiệm có thể thực sự xóa sạch được mầm bệnh sau các chế độ điều trị, nhưng chó

bệnh nhiễm một số dòng khác của Ehrlichia trong tự nhiên có thể có đề kháng hơn

trong điều trị, cho thấy có các khác biệt về độc lực theo vùng địa lý của vi sinh gâybệnh

Phòng bệnh

Hiện nay không có vaccin phòng bệnh; do đó, các biện pháp kiểm soát ve và hóa trị liệu

là phương cách chính cho phòng bệnh Chuyển hóa huyết thanh đã giảm đi ở chó đưa

vào vùng dịch E canis khi chúng được áp dụng phòng ngừa nhiễm ve bằng cách sử dụng fipronil mỗi tháng một lần, so với chó không sử dụng Với bệnh nhiễm E canis ở

chó nuôi trang trại, tetracycline cho thấy là thuốc điều trị dự phòng có hiệu quả đối vớinhiễm và tái nhiễm, với cấp thuốc đường miệng liều lượng 6,6 mg/kg/day Tuy nhiên,việc sử dụng bừa bãi thuốc này về lý thuyết sẽ gây kháng thuốc Trong một nghiên cứukhác được thực hiện ở chó tại Châu Phi và Trung Đông, người ta thấy là lượng thuốctổng cộng 100 mg doxycycline cấp đường miệng cho chó đã tạo được bảo hộ đối với

bệnh nhiễm E canis.

Kiểm soát trong các vùng dịch có thể thực hiện được bằng các chương trình kiểmsoát ve cho chó và môi trường nuôi, bằng xét nghiệm huyết thanh để nhận diện chó bịphơi nhiễm và bị nhiễm, và bằng cách điều trị tất cả chó bị nhiễm với chế độ áp dụngcác tetracyclines Tất cả thú vật mới đưa vào trại phải được xét nghiệm huyết thanh, trị

ve và được cách ly cho đến khi có kết quả xét nghiệm Khi các biện pháp xét nghiệmhuyết thanh và diệt trừ ve là chưa đủ, thực hiện điều trị dự phòng cho tất cả chó bằngcác hàm lượng điều trị dự phòng của tetracycline Nếu tuân thủ tốt các hướng dẫn này,

chu kỳ sinh sôi của E canis sẽ bị cắt đứt, do E canis không truyền lây qua trứng ở ve

Rhipicephalus Là loài ve có khả năng sống trong nhà, với tất cả các giai đoạn sống của

ve đều hút máu, nên R sanguineus có vai trò quan trọng trong duy trì mầm bệnh E.

canis trong các môi trường trại nuôi Việc nhập khẩu chó nhiễm E canis hay nhiễm ve

R sanguineus là nguy cơ liên tục cho các quốc gia sạch bệnh, như Anh Quốc và Úc Do

mức độ không chính xác của xét nghiệm tại chỗ cho chó nhập khẩu nếu mới bị nhiễm,cần có các phòng ngừa bao gồm xét nghiệm tiếp theo, thời gian cách ly, áp dụng cácphương pháp chẩn đoán khác

Với các loài Ehrlichia, Anapplasma và Neorickettsia khác, ve là nguồn truyền bệnh

Trang 27

tiềm năng cùng với các loài thú vật hoang dã khác là nguồn tàng trữ tự nhiên Các biệnpháp kiểm soát ve đối với chó có mẫn cảm được khuyên là giải pháp khả thi Với kiểmsoát ve, xem thêm thông tin về Loại trừ và Phòng ngừa nhiễm Ve ở Thú nuôi, trongChương 93 và các tài liệu tham khảo có liên quan.

Nguy cơ về truyền lây bệnh nhiễm Ehrlichia đến chó qua truyền máu là một mối

quan tâm trong thú y, ở đây khuyên rằng tất cả sản phẩm máu phải được xét nghiệm

phát hiện E canis Chỉ sản phẩm máu sạch đối với kháng thể kháng E canis hay không

có DNA của E canis mới được sử dụng Xem phần Các phòng ngừa đối với sản phẩm

truyền máu, Chương 93

Mối quan tâm đến sức khỏe cộng đồng

Mầm bệnh nhiễm Ehrlichia ở người tại Venezuela (Venezuelan human ehrlichiosis agent) đã được cho là một biến thể hay là một phân loài của E canis, truyền lây qua ve

R sanguineus.861 Do đó, ở Nam Phi, chó có thể đóng vai trò là nguồn tàng trữ bệnh

nhiễm Ehrlichia cho người tại Venezuela, và ve R sanguineus có thể là trung gian truyền lây Không có các báo cáo tương tự ở các vùng khác trên thế giới, E canis hiện

nay chưa được cho là vi sinh có khả năng truyền lây qua người (zoonotic)

BỆNH NHIỄM EHRLICHIA CHAFFEENSIS (BỆNH NHIỄM EHRLICHIA HƯỚNG BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN Ở NGƯỜI –

HUMAN MONOCYTOTROPIC EHRLICHIOSIS)

Shimon Harrus, Trevor Waner, và T Mark Neer

Một vi sinh có liên quan gần gũi, là E chaffeensis, là mầm bệnh nhiễm Ehrlichia hướng

bạch cầu đơn nhân ở người (human monocytotropic ehrlichiosis – HME), đã được cho

là nhiễm đến chó, theo xét nghiệm phát hiện phân tử, phát hiện thấy các đoạn gen của

vi sinh này ở vùng đông nam Virginia, Oklahoma, và Bắc Carolina (xem Bảng 26-1)

Ở miền đông của nước Mỹ, vi sinh Rickettsia này truyền lây bằng ve Amblyomma

americanum (ve hình sao – Lone Star tick) và ít thấy hơn qua ve D variabilis E chaffeensis hay một vi sinh có liến quan gần đã phát hiện thấy trong nhiều loài ve và

động vật có xương sống ở nhiều quốc gia Thí dụ, DNA của E chaffeensis đã phát hiện thấy chủ yếu ở ve R sanguineus bắt được từ chó Cameroonean Các kết chuỗi nucleotide của E chaffeensis và E canis trong sản phẩm khuyếch đại gen chứa cầu nối disulfide tạo protein (kích thước 374 bp), thu được từ ve R sanguineus là giống với các

chủng di truyền của Bắc Mỹ

Ở Bắc Mỹ, hươu đuôi trắng (white-tailed deer: Odocoi- leus virginianis) bị nhiễm

Trang 28

mãn tính và có khả năng chó hay các loài ăn thịt khác, đóng vai trò là các ký chủ tàng

trữ Phản ứng huyết thanh đã phát hiện thấy ở chồn raccoons: Procyon lotor nuôi thả rông, và ở thú có túi opossums: Didelphis virginianus tại Georgia, và ở chuột chân trắng (white-footed mice: Peromyscus leucopus) ở Connecticut Bệnh nhiễm thầm lặng

về lâm sàng đã phát hiện thấy ở dê và vượn cáo (lemurs) (xem Bảng 26-1)

E chaffeensis đã được gây nhiễm thực nghiệm cho chó con, các dấu hiệu bệnh là nhẹ

hơn so với thú bệnh nhiễm E canis Chó con chỉ thể hiện sốt Phát hiện này có thể liên

quan đến các khác biệt theo loài hay tính nhược độc của mầm bệnh qua nuôi cấy, ngược

lại với hội chứng lâm sàng quan sát thấy ở người bị nhiễm E chaffeensis Tầm quan

trọng về lâm sàng của bệnh nhiễm tự nhiên ở chó hay mèo vẫn còn đang được đánh giá

Chó gây nhiễm thực nghiệm bằng E chaffeensis đã phát triển tình trạng giảm tiểu cầu

máu mà không có các thể hiện toàn thân khác của bệnh (Khung 26-1) Vi sinh gây bệnh

có thể cấy được từ máu lúc 102 ngày sau khi bị nhiễm, và DNA còn thấy được đến 117ngày Các hiệu giá kháng thể cao duy trì đến 6 tháng, cho thấy chó trở nên mang trùngmãn tính không thể hiện triệu chứng, và có thể là nguồn tàng trữ bệnh

Xét nghiệm huyết thanh học và PCR cho thấy chó trong trại nuôi và trại tập trung ởmiền đông nam Virginia đã bị nhiễm tự nhiên Có 3 chó đã thể hiện bệnh lâm sàng

trong nhiễm tự nhiên với E chaffeensis Những chó này thể hiện các dấu hiệu rất giống với nhiễm E canis bao gồm viêm phần trước giác mạc, chảy máu cam và sưng hạch lâm ba Ở người, bệnh do E chaffeensis thể hiện nặng nề hơn ở người bị thỏa hiệp miễn

dịch; các phát hiện tương tự cũng thấy ở chó

Trước năm 1986, chỉ một loài “ehrlichia” duy nhất được ghi nhận nhiễm đến người là

Neorickettsia sennetsu Mầm bệnh này, lần đầu tiên phân lập được từ Nhật Bản, gây ra

hội chứng nhẹ giống như bệnh do bạch cầu đơn nhân (mild mononucleosis-like

syn-drome) Ở Mỹ, E chaffeensis được cho là tác nhân gây HME, mà thể hiện là bệnh cấp

tính giống cúm, có đặc điểm là sốt, đau đầu, ớn lạnh và đôi khi tử vong ở người bịnhiễm nặng nề

HME chủ yếu thấy ở miền trung và trung nam của nước Mỹ, là nơi chăn nuôi ký chủ

tàng trữ, hươu đuôi trắng, với trung gian truyền lây là ve A americanum (hoặc có thể là

D variabilis) Chu kỳ và phân bố trong hoang dã là rất giống với E ewingii (xem phần

dưới) Mặc dù loài hoang dã, như chó sói đồng cỏ (coyotes: Canis latrans), là quan trọng nhất cho tàng trữ mầm bệnh, nhưng chó nhà có thể mang trùng cho E chaffeensis

ở các vùng dịch Chó có thể tham gia trong vận chuyển ve đến gần người, việc kiểmsoát ve và chất tiết hay dịch cơ thể của chúng có thể là vấn đề quan trọng Để biết thêm

thông tin về bệnh ở người, xem phần Bệnh nhiễm Ehrlichia và Bệnh nhiễm Anaplasma.

KHUNG 26-1

Các dấu hiệu lâm sàng và các Chỉ số xét nghiệm ở chó bị nhiễm tự nhiên với

Trang 29

Ehrlichia spp.

Bệnh nhiễm Ehrlichia canisa

Các dấu hiệu lâm sàng: Sốt, kém ăn, giảm thể trọng, loạn nhịp tim (cardiac arrhythmias), xuất huyết phủ tạng, các dấu hiệu thần kinh, sưng hạch lâm ba, sưng lách, viêm buồng trước giác mạc (anterior uveitis), viêm đa khớp (polyarthritis),

mù lòa do phù nề hay xuất huyết bong trong võng mạc

Các phát hiện trong xét nghiệm: Giảm tiểu cầu máu (thrombocytopenia), thiếu máu, giảm bạch cầu máu (leukopenia), tăng globulin máu (hyperglobulinemia), giảm tế bào máu (pancytopenia), protein niệu (proteinuria), tăng tỷ lệ tế bào lâm ba trong dịch cơ thể (lymphocytic pleocytosis), bệnh ở tế bào gốc tủy xương (bone marrow plasmacytosis)

Bệnh nhiễm Ehrlichia chaffeensisb Các dấu hiệu lâm sàng: Viêm buồng trước giác mạc, ói mửa, chảy máu cam, nổi ban nhiều dạng, sưng hạch lâm ba

Các phát hiện trong xét nghiệm: Giảm tiểu cấu máu, tăng tỷ lệ tế bào lâm ba trong dịch cơ thể

Bệnh nhiễm Ehrlichia ruminatium19 Các dấu hiệu lâm sàng: Không có ghi nhận

Bệnh nhiễm Ehrlichia ewingiic Các dấu hiệu lâm sàng: Sốt, kém ăn, lờ đờ, sưng khớp, các dấu hiệu thần kinh Ít thấy hơn gồm xuất huyết, giảm thể trọng, viêm giác mạc, nổi mẩn, ói mửa và tiêu chảy

Các phát hiện trong xét nghiệm: Thiếu máu nhẹ dạng không tái sinh (nonregenerative anemia), viêm đa khớp thấm nhập bạch cầu trung tính (neutrophilic polyarthritis), dịch não tủy gia tăng bạch cầu trung tính (neutrophilic CSF pleocytosis)

BỆNH NHIỄM EHRLICHIA RUMINANTIUM (BỆNH TIM NƯỚC

– HEARTWATER)

Shimon Harrus, Trevor Waner, và T Mark Neer

E ruminantium, là tác nhân gây bệnh tim nước (tích nước xoang màng bao tim) ở bò,

đã phát hiện bằng xét nghiệm phân tử, thấy có trong máu của chó bệnh và chó khỏe vềlâm sàng tại các quốc gia vùng cận Sahara, Châu Phi, bao gồm Kenya, Uganda,Ethiopia, và Mali (xem Bảng 26-1).19 Vi sinh này không phân lập được từ máu chó quamôi trường nuôi cấy để xác định khả năng gây nhiễm; do đó, độc lực, trung gian truyềnlây và phân loại chính xác của vi sinh này là chưa rõ ràng Có hay không các dấu hiệu

lâm sàng giống như ở bệnh nhiễm E canis, là do nhiễm vi sinh này thì vẫn chưa rõ.

BỆNH NHIỄM EHRLICHIA SPP (BỆNH NHIỄM EHRLICHIA

HƯỚNG BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN Ở MÈO – FELINE MONOCYTOTROPIC EHRLICHIOSIS)

Michael R Lappin và Edward B Breitschwerdt

Trang 30

Tác nhân gây bệnh và dịch tễ học

Các loài Ehrlichia nhiễm đến mèo sau khi phơi nhiễm tự nhiên thì chưa được xác định

đầy đủ Chỉ có bốn nghiên cứu về mèo bị nhiễm tự nhiên đã xác nhận được DNA từ

một dòng của Ehrlichia thường phát hiện thấy trong các bạch cầu đơn nhân.Trong một

báo cáo ở Bắc Mỹ, DNA rất giống của E canis đã phát hiện thấy trong máu của mèo bệnh lâm sàng DNA của E canis khuyếch đại được từ 3 mèo tại Brazil có tương đồng

đến 99% với nhau và tương đồng 100% với phân tích kết chuỗi theo báo cáo từ chó tạivùng này, cho thấy cùng một dòng vi sinh đã nhiễm đến cả chó và mèo

Trong một báo cáo của Pháp, Kết chuỗi 16S rDNA của Ehrlichia thu được từ hai con mèo là giống với kết chuỗi này của mèo ở Bắc Mỹ DNA của E canis đã phân lập được

từ máu của một con mèo tại Trinidad, Tây Ấn Độ Ở những báo cáo khác, các thể hay

bọc mầm giống như của Ehrlichia đã phát hiện thấy trong các tế bào lâm ba hay bạch

cầu đơn nhân ở máu ngoại biên của mèo bị phơi nhiễm tự nhiên tại Mỹ (Hình 26-10),Kenya, Pháp, Brazil, và Thái Lan Quan sát bằng kính hiển vi điện tử đối với một dòngphân lập từ bạch cầu đơn nhân của mèo đã phát hiện thấy các vi sinh có kích thước từ

0,54 đến 1.3 μm, trong giới hạn kích thước giữa E canis và N sennetsu.

Đối với hiểu biết của các tác giả trong chương này, chỉ có một nghiên cứu thực

nghiệm gây nhiễm cho mèo bằng E canis Trong nghiên cứu này, mèo được cấy gây bệnh dưới da bằng một dòng của E canis (dòng phân lập được từ chó tại Đại học Quốc

gia Bắc Carolina – North Carolina State University), dòng này được nuôi cấy trong tế

bào nuôi, DNA của vi sinh hay các kháng thể phản ứng với bọc mầm của E canis

không phát hiện thấy trong 8 tuần sau khi gây nhiễm

Các kết quả này có thể diễn giải như sau: DNA giống như của E canis được khuyếch đại từ mèo bị nhiễm tự nhiên có thể là một Ehrlichia sp khác có khả năng gây nhiễm nhiều hơn cho mèo (không phải tất cả các dòng của E canis đều nhiễm được vào mèo,

và không phải tất cả mèo đều có mẫn cảm đối với bệnh nhiễm E canis), hoặc việc cấy gây bệnh dưới da là phương pháp không hiệu quả cho gây nhiễm mèo bằng E canis Ở đây cũng có khả năng là các hàm lượng DNA của E canis trong máu và các hàm lượng kháng thể kháng E canis là thấp hơn ngưỡng xét nghiệm.

Huyết thanh từ mèo đã được kiểm tra phát hiện kháng thể kháng Ehrlichia spp bằng

xét nghiệm FA gián tiếp hay thấm thấu miễn dịch cầu tây Trong xét nghiệm FA gián

tiếp, các kháng thể trong huyết htanh phản ứng với bọc mầm của E canis đã phát hiện

thấy ở mèo tại nhiều bang của Mỹ, Pháp,Ý, Tây Ban Nha, Kenya, và Brazil

Ở quốc gia láng giềng Colorado, mèo đã phát hiện bị nhiễm dạng Ehrlichia hướng

bạch cầu đơn nhân, 14/17 mèo (82,4%) và 9/17 mèo (52,9%) đã phát hiện có kháng thể

kháng lần lượt là E canis và N risticii, theo kết quả xét nghiệm FA gián tiếp Những

mèo mà có kháng thể kháng cả hai vi sinh này thường có các hiệu giá kháng thể cao

kháng với các kháng nguyên của E canis Ở mèo tại Tây Ban Nha, đã phát hiện thấy có kháng thể kháng E canis (13/122 mèo) và kháng N risticii (3/122 mèo).

Trang 31

Nhiều mèo khỏe mạnh đã có kháng thể trong huyết thanh do phơi nhiễm với các mầm

bệnh khác (như Bartonella henselae) mà có thể cho phản ứng chéo với các kháng nguyên của E canis như quan sát thấy ở chó Ngoài ra, có nhiều phản ứng huyết thanh chéo giữa Ehrlichia spp, Neorickettsia spp, và Anaplasma spp; do đó, phản ứng huyết

thanh đối với một kháng nguyên trong xét nghiệm không xác định được phơi nhiễm

trong nghiệm bằng bọc mầm của Ehrlichia spp

Các điều tra dịch tễ áp dụng các xét nghiệm huyết thanh học để phát hiện kháng thể

kháng với các kháng nguyên của Ehrlichia nguyên vẹn, cho mèo nội địa và ngoại nhập,

đã cho thấy có phản ứng chéo dẫn đến ước tính quá mức về lưu hành bệnh Việc chuẩn

hóa phương pháp huyết thanh học giữa các phòng xét nghiệm Ehrlichia spp đã không

được thực hiện, hầu hết các ngưỡng xét nghiệm chưa được xác định Các kết quả củaxét nghiệm huyết thanh học được thực hiện bởi các phòng xét nghiệm khác nhau khôngtương đồng 100% Do đó, các kết quả của các khảo sát dựa vào kháng thể phải đượcdiễn giải cẩn thận cho đến khi các phòng xét nghiệm có thể kết hợp các kết quả xét

nghiệm huyết thanh học đối với các dòng phân lập của Ehrlichia spp ở mèo hay thực

hiện chuẩn hóa xét nghiệm PCR

HÌNH 26-10 Thể vùi của Ehrlichia trong bạch cầu đơn nhân (mononuclear cell) của

mèo (Nhuộm Wright, X 1.000) (Tài liệu của Mike Lappin, Colorado State University,Fort Collins, CO.)

Chưa biết rõ về bệnh lâm sàng, bệnh do phơi nhiễm tự nhiên ở mèo Việc chứng minh

phơi nhiễm với loài chân đốt truyền lây là chưa rõ Tuy nhiên, bọ chét Haemaphysalis

leachi đã phát hiện thấy ở 1 trong 4 mèo bị bệnh lâm sàng nhiễm Ehrlichia tại Kenya.

Ve C felis lấy được từ mèo ở Mỹ và Úc cho kết quả âm tính DNA của Ehrlichia spp và

Anaplasma spp DNA.

Sinh bệnh học

Trang 32

Sinh bệnh học của bệnh có liên quan đến bệnh nhiễm Ehrlichia ở mèo là chưa rõ Dựa

vào lâm sàng, xét nghiệm và chụp hình X quang, sinh bệnh học của bệnh này có khả

năng giống như sinh bệnh học của bệnh nhiễm E canis ở chó Trong 3 mèo có DNA giống với của E canis trong máu, đã phát hiện có các kháng thể kháng nhân, tương tự

như các kết quả đã được báo cáo ở chó bệnh nhiễm

Các phát hiện về lâm sàng

Thể hiện lâm sàng trong bệnh nhiễm Ehrlichia đã được mô tả ở 22 mèo có bọc mầm trong bạch cầu đơn nhân, và ở 3 mèo có DNA giống của E canis trong máu Bệnh nhiễm Ehrlichia cũng có nghi ngờ ở 33 mèo được báo cáo, trong đó đã thực hiện chẩn

đoán ban đầu dựa vào kết hợp các kết quả xét nghiệm huyết thanh học dương tính đối

với E canis hay N risticii, các phát hiện trong lâm sàng hay xét nghiệm là thực chất với bệnh nhiễm Ehrlichia, và đã có đáp ứng với các thuốc điều trị bệnh nhiễm

Ehrlichia Do đó có ít nhất 55 trường hợp đã báo cáo là có liên quan đến bệnh nhiễm Ehrlichia ở mèo Hơn nữa, có thêm 2 mèo với dương tính xét nghiệm kháng thể trong

huyết thanh tại Tây Ban Nha đã thể hiện các dấu hiệu lâm sàng thực chất của bệnh

nhiễm Ehrlichia, nhưng không thấy báo cáo kết quả điều trị.

Hầu hết mèo trong báo cáo đều có lứa tuổi trên 1 năm và là giống mèo lông ngắnthuần dưỡng Cả mèo đực và mèo cái đều bị nhiễm Sốt và các dấu hiệu không đặctrưng, như lờ đờ, bỏ ăn, giảm thể trọng, đau khớp và phản ứng cáu kỉnh thường thấy ởmèo Khó thở, ói mửa, tiêu chảy và giảm cân thấy ở một số mèo Sưng lách, sưng hạchlâm ba, xuất huyết lấm tấm và tróc võng mạc mắt, xuất huyết tròng trắng mắt, niêmmạc nhợt nhạt Ở một số mèo, cũng phát hiện thấy có ung thư tế bào lâm ba

(lymphosarcoma) hay nhiễm cùng lúc Mycoplasma haemofelis, Cryptococcus

neoformans, nhiễm virus gây bệnh bạch cầu ở mèo (feline leukemia virus) hay nhiễm

virus gây lỗi hỏng miễn dịch ở mèo (feline immunodeficiency virus)

Chẩn đoán

Các phát hiện trong lâm sàng

Các xét nghiệm toàn phần hay một phần đối với tế bào máu đã được thực hiện ở nhiềumèo Thiếu máu hầu hết là không tái tạo, xảy ra ở mèo có bệnh sử mãn tính Một mèo

bị thiếu máu có khả năng tái tạo đã bị nhiễm cùng lúc với một loài Mycoplasma hướng máu (hemotropic Mycoplasma, trước kia có tên là H felis)

Giảm bạch cầu máu, bệnh ở bạch cầu (leukocytosis), bệnh ở bạch cầu trung tính(neutrophilia), giảm bạch cầu trung tính trong máu (neutropenia), bệnh ở tế bào lâm ba(lymphocytosis), bệnh ở bạch cầu đơn nhân (monocytosis), và giảm tiểu cầu máu(thrombocytopenia) thấy có ở một số mèo, hoặc riêng lẻ, hoặc kết hợp Kiểm tra tủyxương mèo bị giảm tế bào máu (cytopenias) thấy chủ yếu là thoái hóa tế bào gốc(hypoplasia) của dòng tế bào bị nhiễm Tuy nhiên, một mèo có đặc điểm bệnh tích tủyxương là thực chất với bệnh sản sinh bạch cầu trong tủy xương (myeloid leukemia)

Trang 33

Bệnh nhiễm Ehrlichia phải được xem xét đến trong xác định tình trạng mèo bị bệnh ở

bạch cầu máu hay giảm tế bào máu

Các bất thường về sinh hóa thường được báo cáo ở những mèo có nghi ngờ bệnh

nhiễm cận lâm sàng do Ehrlichia và có thể hiện không đặc trưng Tăng protein máu là

bất thường đặc trưng nhất; protein miễn dịch đa giá (polyclonal gammopathy) đã pháthiện thấy trong bốn mèo được xét nghiệm bằng diện di protein (protein elec-trophoresis) Trong một nghiên cứu khác, mối liên quan về dịch tễ đã được thiết lậpgiữa thể hiện của protein miễn dịch đa giá với dương tính kháng thể trong huyết thanh

của mèo kháng với E canis Dựa vào các kết quả này, bệnh nhiễm Ehrlichia phải được

xem xét ở mèo có tăng globulin máu (hyperglobulinemia)

Các phát hiện về X quang

Ở những mèo có các phát hiện về mô bào học hay khám lâm sàng thấy bệnh hô hấp,dạng viêm phổi kẽ là bất thường duy nhất được báo cáo có liên quan đến bệnh nhiễm

Ehrlichia ở mèo Các hình chụp X quang vùng bụng thường thể hiện bình thường.

Xét nghiệm huyết thanh

Hầu hết mèo có bọc mầm phát hiện thấy trong bạch cầu đơn nhân có các kháng thể

trong huyết thanh có phản ứng với bọc mầm của E canis Tuy nhiên, một số mèo thể hiện lâm sàng bệnh nhiễm Ehrlichia có các kết quả kháng thể âm tính trong kiểm tra

lần đầu, và do đó các thú y viên có thể cần phải thực hiện kiểm tra thêm để chứng minh

về chuyển hóa huyết thanh Các kết quả xét nghiệm huyết thanh không dương tính ở tất

cả mèo có DNA của E canis trong máu Trong một nghiên cứu, 3 con mèo có DNA giống như của E canis trong máu, nhưng 2 mèo không kháng thể phản ứng với bọc mầm của E canis, mặc dù có thể hiện bệnh mãn tính Các kết quả này cho thấy là không phải tất cả mèo đều có chuyển hóa huyết thanh khi bị nhiễm Ehrlichia spp., và

có vi sinh khác với phân tử tương tự E canis mà không tạo ra các kháng thể có phản

ứng chéo, hoặc độ nhạy của các xét nghiệm huyết thanh học hiện tại là kém Trong một

nghiên cứu khác, 5 con mèo có nghi ngờ bệnh nhiễm Ehrlichia có các kháng thể trong huyết thanh có phản ứng với bọc mầm của N risticii mà không phản ứng với bọc mầm của E canis Ngoài ra, A phagocytophilum đã gây ra các dấu hiệu lâm sàng tương tự

và thường không gây ra các kháng thể cho phản ứng chéo với các kháng nguyên của E.

canis.Do đó, bệnh nhiễm Ehrlichia không thể loại trừ ở mèo dựa vào kết quả âm tính

trong phản ứng huyết thanh học với bọc mầm của E canis, bằng xét nghiệm FA gián

tiếp

Một chẩn đoán huyết thanh học cho bệnh lâm sàng ở mèo nhiễm Ehrlichia sẽ không

nên chỉ dựa vào các kết quả xét nghiệm huyết thanh học Các phòng xét nghiệm phảiluôn loại trừ khả năng các mầm bệnh khác gây ra các dấu hiệu lâm sàng tương tự Đểxác nhận, cần lưu ý đến các phương pháp xét nghiệm liên quan đến phát hiện vi sinhhay nucleic acid detection

Các xét nghiệm khác

Trang 34

Các kết quả xét nghiệm kháng thể kháng nhân (antinuclear antibody) là dương tính ởmột số mèo Các kết quả xét nghiệm Coombs thường là âm tính Tình trạng viêm đakhớp thấm nhập bạch cầu trung tính (neutrophilic polyarthritis) và gia tăng hàm lượngprotein trong dịch não tủy đã được xác nhận ở một con mèo Khi kiểm tra dịch hút củahạch lâm ba, thường thấy gia tăng tế bào lâm ba hay tế bào huyết tương.

Phát hiện vi sinh gây bệnh

Sự hiện diện của bọc mầm có thể áp dụng để củng cố chẩn đoán về bệnh nhiễm

Ehrlichia ở mèo Các tế bào bị nhiễm đã được báo cáo là thường thấy hơn trong máu

thu thập từ tĩnh mạch tai, so với xác tĩnh mạch lớn khác.79 Tuy nhiên, các kết quả dươngtính sai và âm tính sai có thể xảy ra Hơn nữa, việc chứng minh bọc mầm không áp

dụng được để xác định liên quan của Ehrlichia spp Thí dụ, ở những mèo được cho là

bị nhiễm E canis tại Brazil và Kenya, các bạch cầu trung tính và các bạch cầu đơn

nhân đã bị nhiễm; tuy nhiên, phần lớn bọc mầm phát hiện thấy là ở bạch cầu đơn nhân

Nuôi cấy và phát hiện phân tử di truyền của vi sinh

Bệnh nhiễm Ehrlichia spp có thể xác nhận được bằng nuôi cấy hay bằng PCR Vi sinh

đã phân lập được từ mẫu máu của mèo nhà, bằng cách cấy vào bạch cầu đơn nhânnhưng không phân lập được từ máu sư tử ở Kenya Mặc dù các kết quả xét nghiệm

PCR có khả năng giúp xác định thêm cho bệnh nhiễm Ehrlichia, nhưng các phòng xét nghiệm phải cố gắng thu thập được dòng phân lập của Ehrlichia spp ở mèo để giúp

nghiên cứu so sánh về vi sinh Các xét nghiệm PCR phải được áp dụng để khuyếch đại

DNA của các giống Ehrlichia, Anaplasma, và Neorickettsia (tức là các đoạn mồi của

PCR phải khuyếch đại được tất cả các thành viên trong giống); sau đó, xét nghiệm PCRđặc hiệu theo loài, hay phân tích kết chuỗi DNA, hay cả hai, sẽ được thực hiện để xácđịnh vi sinh gây bệnh Mặc dù PCR đã được áp dụng để chẩn đoán thành công một sốtrường hợp bệnh ở mèo, nhưng cần có thêm thông tin về độ nhạy chẩn đoán cho xétnghiệm PCR đặc hiệu theo loài

Tóm lại, cho đến khi xác định được xét nghiệm chẩn đoán đối với bệnh nhiễm

Ehrlichia ở mèo, các phòng xét nghiệm cần kết hợp các kết quả xét nghiệm PCR với

các kết quả xét nghiệm huyết thanh học trong phát hiện vi sinh Ehrlichia spp sao cho

có được xác nhận hay loại trừ vi sinh này trong danh sách mầm bệnh ở mèo

Các phát hiện bệnh tích

Trước khi điều trị, viêm hạch lâm ba dạng mủ hạt (pyogranulomatous lymphadenitis)

đã phát hiện thấy ở hạch lâm ba màng treo ruột của một mèo tại Colorado mà có các

kháng thể kháng E canis và N risticii Thấm nhập quanh mạch máu bởi tế bào huyết

tương và tế bào lâm ba đã phát hiện thấy ở phổi, thận và gan của sư tử không được điềutrị tại Kenya Sau khi điều trị bằng doxycycline ở một mèo, một hội chứng khó thở đã

Trang 35

phát triển và dẫn đến chết Viêm cơ tim và viêm phổi thấm nhập bạch cầu trung tính vàthấm nhập thực bào của mô (histiocytic), viêm thận đa điểm do bệnh ở tế bào gốc lâm

ba (multifocal lymphoplasmacytic nephritis), và viêm tủy tạng đa điểm do bệnh ở tếbào lâm ba gốc (multifocal lymphoplasmacytic pancreatitis) là các phát hiện bệnh tích

chính Tuy nhiên, Ehrlichia spp hay các mầm bệnh truyền nhiễm khác không nhận

diện được sau khi chết

Điều trị

Các loại thuốc tetracycline, doxycycline, hay imidocarb dipropionate đã được thử

nghiệm trong hầu hết các trường hợp có nghi ngờ bệnh lâm sàng nhiễm Ehrlichia

hướng bạch cầu đơn nhân ở mèo Cấp doxycycline với liều lượng 5 mg/kg, hai lần mỗingày, đường miệng, trong liệu trình 21 ngày, đã chấm dứt được các dấu hiệu lâm sàngcủa bệnh ở 3 con mèo Một con mèo vẫn còn huyết thanh dương tính lúc 180 ngày saukhi điều trị, nhưng có huyết thanh âm tính lúc 1.365 sau khi điều trị Việc xét nghiệmhuyết thanh liên tiếp đã được thực hiện trong các trường hợp nghi ngờ ở Pháp; phần lớncác trường hợp đã chuyển sang âm tính theo thời gian Tuy nhiên, các hiệu giá gia tănghay tồn tại lâu dài có thể thấy giống như ở chó Imidocarb dipropionate cấp với liềulượng 5 mg/kg, tiêm bắp thịt, liều lặp lại lúc 14 ngày sau, đã chấm dứt được bệnh lâmsàng ở 2 mèo tại Kenya Thuốc này đã được sử dụng để điều trị chó bệnh nhiễm và chothấy là an toàn khi sử dụng cho mèo bị bệnh tế bào gốc tạo máu mãn tính (chronic

haemoplasmosis – do nhiễm Mycoplasma) Enrofloxacin đã được sử dụng để điều trị hai mèo được cho là bị nhiễm Ehrlichia hướng bạch cầu đơn nhân Tuy nhiên, thuốc này được cho là không bằng các tetracyclines trong điều trị bệnh nhiễm Ehrlichia ở

chó Nhóm nghiên cứu Bệnh truyền nhiễm (Infectious Disease Study Group) của Đạihọc Dược Thú y Mỹ (American College of Veterinary Internal Medicine) hiện nay

khuyên điều trị mèo có nghi ngờ bệnh lâm sàng nhiễm Ehrlichia bằng doxycycline với

liều lượng 10 mg/kg, cấp đường miệng, cách nhau 24 giờ, trong liệu trình 28 ngày Cóhay không phương pháp điều trị này có hiệu quả tiêu diệt được mầm bệnh thì chưa biếtrõ

Trợ tử đã được chọn cho hai mèo đã chứng minh có bọc mầm trong bạch cầu đơnnhân, do không điều trị được bằng tetracycline hay doxycycline, và một mèo khác đã bị

chết Một số mèo có nghi ngờ bệnh nhiễm Ehrlichia dựa vào các dấu hiệu lâm sàng và

các kết quả xét nghiệm huyết thanh học dương tính, đã không đáp ứng được với điều trị

bằng doxycycline Tuy nhiên, do bệnh nhiễm Ehrlichia đã không được xác nhận bằng

nuôi cấy hay bằng PCR, có hay không các trường hợp này thực sự là không điều trịđược là điều chưa rõ

Tóm tắt về các thuốc và liều lượng khuyên áp dụng cho điều trị bệnh nhiễm

Ehrlichia ở mèo được nêu ở Bảng 26-4.

Trang 36

BẢNG 26-4

Thuốc kháng sinh điều trị đối với Bệnh nhiễm Ehrlichia hướng bạch cầu đơn nhân ở mèo (Feline Monocytotropic Ehrlichiosis) và Bệnh nhiễm Anaplasma hướng bạch cầu hạt (and Granulocytotropic Anaplasmosis)

(mg/kg) Đường cấp chính (đường cấp khác) Khoảng cách

c (giờ) Liệu trình (ngày)

M, Intramuscularly – tiêm bắp thịt; IV, intravenously – tiêm mạch máu; PO, by mouth – cấp đường miệng; SC,

subcutaneously – tiêm dưới da.

nuốt, cung cấp đủ nước uống Thuốc tiêm phải áp dụng một cách cẩn trọng (xem phần Công thức Thuốc trong Phụ lục).

có hay không E muris nhiễm ở loài gặm nhấm có thể nhiễm đến mèo Cần tránh phơi

nhiễm của mèo đến các loài chân đốt là trung gian truyền lây và tránh cho mèo ăn loài

gặm nhấm Rõ ràng là Ehrlichia spp có thể truyền lây qua máu; do đó, những mèo sử

dụng để cho máu phải được theo dõi về bệnh nhiễm, xét nghiệm huyết thanh học vàPCR Những mèo có các kết quả dương tính phải loại trừ khỏi danh sách cho máu

Mối quan tâm đến sức khỏe cộng đồng

Mặc dù Ehrlichia spp nhiễm đến cả người và mèo, nhưng bệnh nhiễm ở người chưa

bao giờ liên quan đến tiếp xúc với mèo Nếu mèo được nuôi nhốt trong nhà và duy trì

Trang 37

được kiểm soát loài chân đốt, thì nguy cơ ở người sẽ giảm thiểu.

BỆNH NHIỄM EHRLICHIA EWINGII (BỆNH NHIỄM EHRLICHIA HƯỚNG BẠCH CẦU HẠT Ở CHÓ – CANINE

tương tự truyền lây qua trung gian nhiễm đến bạch cầu hạt ở chó, là bệnh nhiễm

Anaplasma ở chó (canine anaplasmosis), là do một loại vi sinh khác biệt về vi thể, là A phagocytophilum (xem phần trình bày sau) Cả hai mầm bệnh đều nhiễm đến người và

thú nhai lại nhỏ Các báo cáo về bệnh nhiễm Ehrlichia hướng bạch cầu hạt đã có từ những năm 1970, nhưng không phân biệt được giữa bệnh nhiễm do E ewingii và bệnh nhiễm do A phagocytophilum (mà sau đó được cho là do E equi) Vi sinh E ewingii đã được xác nhận về gen di truyền là nguyên nhân gây bệnh nhiễm Ehrlichia vào năm

1992 Không giống như hầu hết các mầm bệnh khác thuộc Rickettsia đã được đề cập trong chương này, E ewingii không thể nuôi cấy được ở ngoại môi trường, và việc phát

hiện bệnh nhiễm chỉ dựa vào các nghiên cứu huyết thanh học hay các phương phápphát hiện gen di truyền

Ve hình sao (Lone Star tick: A americanum), có ở nhiều nơi tại Mỹ (Hình 26-11), là trung gian truyền lây duy nhất được xác nhận đối với E ewingii, tuy nhiên, vi sinh này cũng đã nhận diện được ở cả ve D variabilis và R sanguineus Hươu đuôi trắng (white-tailed deer: O virginianus), là loái ký chủ chính cho A americanum, đóng vai trò là nguồn tàng trữ cho E ewingii; bệnh nhiễm xảy ra khi có mặt cả hai loài này, ở

vùng đông nam và trung nam của nước Mỹ Ở Missouri, Oklahoma, và Arkansas, phơi

nhiễm với E ewingii chiếm phần lớn các kết quả dương tính so với các loài khác của

Ehrlichia ở chó; trong một nghiên cứu thấy có đến 26% chó nuôi nhà lồng trong vùng

dịch có dương tính với kháng thể trong huyết thanh Các kết quả xét nghiệm phân tử di

truyền ở chó cũng kết luận E ewingii là mầm bệnh chủ yếu so với A platys, E.

chaffeensis, và E canis Bên ngoài nước Mỹ, DNA của E ewingii đã phát hiện thấy ở

chó tại Brazil và Cameroon, ở những vùng mà các loài ve khác chịu trách nhiệm trunggian truyền lây bệnh, và cần có các nghiên cứu thêm để xác định mức độ phân bố củabệnh Một khi ve bị nhiễm, chúng lưu trữ mầm bệnh suốt chu kỳ sống (truyền lây quagiai đoạn sống – transstadial transmission) và truyền mầm bệnh đến chó (hay các thúvật khác có mẫn cảm, bao gồm người) trong lần hút máu tiếp theo

Mặc dù cả chó và người thường được mô tả là các ký chủ ngẫu nhiên, nhưng chó cóthể đóng vai trò là nguồn tàng trữ thêm hay nguồn tàng trữ khác cho mầm bệnh

Bệnh lâm sàng do E ewingii là cấp tính chứ không phải mãn tính, do vậy bệnh xảy ra

Trang 38

vào mùa hoạt động của ve, từ tháng Năm đến tháng tám, Tuy nhiên, bệnh nhiễm E.

ewingii đã phát hiện thấy vào các tháng mùa đông, phần lớn bệnh nhiễm xảy ra lúc cuối

mùa xuân và mùa hè Ở 28 chó được chẩn đoán tại Bệnh viện Thú y tại Đại họcMissouri (University of Missouri Veterinary Medical Teaching Hospital) với các dấu

hiệu lâm sàng giống với nhiễm E ewingii và có bọc mầm trong bạch cầu hạt, chỉ có 2

chó bị nhiễm ngoài thời gian từ tháng Năm đến tháng Tám (nhiễm từ tháng Chín đếntháng Mười Một)

Sinh bệnh học

Sau khi truyền qua vết chích của ve, E ewingii xâm nhập đến bạch cầu hạt và tạo ra

một bọc chứa từ màng tế bào, bọc chứa trong bào tương này gọi là bọc mầm (morulae).Thời gian cho ve chích truyền mầm bệnh là chưa biết rõ Bọc mầm có thể phát hiện thấytrong bạch cầu hạt lúc 12 ngày sau khi gây nhiễm thực nghiệm, các dấu hiệu lâm sàngcủa bệnh nhiễm quan sát thấy lúc 18 đến 28 ngày.Sau khi được phóng thích ra khỏi tủyxương, các bạch cầu trung tính chỉ tồn tại trong máu ngoại biên trong 6 đến 8 giờ Tuy

nhiên, các tế bào sống thời gian ngắn này là vị trí ưa thích cho sinh sôi của E ewingii Theo tác động của bệnh nhiễm Rickettsia hướng bạch cầu hạt đối với tế bào ký chủ, A.

phagocytophilum có tác động kéo dài thời gian chết theo lập trình của bạch cầu trung

tính (neutrophil apoptosis), do đó có thêm thời gian để mầm bệnh sinh sôi Tương tự,thời gian chết theo lập trình của bạch cầu trung tính đã kéo dài thêm được 5 ngày như

thấy ở 5 chó được gây nhiễm thực nghiệm, và ở một chó bị nhiễm tự nhiên do E.

ewingii Việc điều trị khỏi bệnh nhiễm thực nghiệm ở chó làm cho thời gian tồn tại của

bạch cầu trung tính trở về bình thường

Ức chế miễn dịch có thể làm nặng nề thêm bệnh nhiễm E ewingii Bệnh nhiễm

Ehrlichia hướng bạch cầu hạt ở người (human granulocytotropic ehrlichiosis) điển hình

xảy ra ở những người có tình trạng ức chế miễn dịch hay sử dụng thuốc ức chế miễndịch.Các thực nghiệm gây nhiễm đã thành công hơn ở chó được cấp cyclophosphamidehay các glucocorticoids Tuy nhiên, bệnh lâm sàng đã xảy ra ở những chó không có tìnhtrạng ức chế miễn dịch

Không may là sinh bệnh học của các phát hiện lâm sàng vẫn chưa được điều tra kỹ.Một thành phần qua trung gian miễn dịch có thể chịu trách nhiệm cho cả viêm đa khớp

lẫn phá hủy tiểu cầu Do E ewingii không thể nuôi cấy được ở ngoại môi trường, điều

này gây khó khăn cho nghiên cứu đối với mầm bệnh này Tất cả bệnh nhiễm đều gâyđược bằng hoặc là truyền máu bệnh, hoặc cho ve hút chích, cả hai phương cách này đều

có khả năng gây nhiễm cùng lúc với vi sinh khác

Các phát hiện về lâm sàng

Các kết quả của gây nhiễm thực nghiệm, chứng minh nhiễm E ewingii ở chó thể hiện

lâm sàng khỏe mạnh, và không thấy có báo cáo về tỷ lệ tử vong, cho thấy là bệnhnhiễm có thể nhẹ hay không thể hiện Khi chó thể hiện bệnh, hầu hết các phát hiện bao

Trang 39

gồm sốt và các dấu hiệu ở cơ bắp như què, đi đứng miễn cưỡng, tư thế cứng đơ,và/hoặc sưng khớp (xem Khung 26-1) Lờ đờ, kém ăn và các dấu hiệu thần kinh (nhưnghiêng đầu, run rẩy và đồng tử không đều – anisocoria) cũng có thể thấy Các tìnhtrạng hiếm thấy báo cáo gồm xuất huyết, giảm thể trọng, sưng to các cơ quan, nổi mẩn,

ói mửa và tiêu chảy.

Chẩn đoán

Chẩn đoán ban đầu về lâm sàng là dựa vào các dấu hiệu ở chó trong vùng dịch, vàomùa xuân hay mùa hè và có đáp ứng với điều trị Nhiều phòng xét nghiệm chỉ thực hiệnxét nghiệm máu với tổng số tế bào máu để phát hiện tình trạng giảm tiểu cầu máu vàsoi kính kiểm tra bạch cầu trước khi điều trị Thông thường, một xét nghiệm tại chỗ(như SNAP 4Dx Plus, IDEXX Laboratories, Westbrook, ME; xem Phụ lục Trang mạng6) được áp dụng để phát hiện các kháng thể có phản ứng huyết thanh đối với một hay

nhiều mầm bệnh truyền lây qua ve (E canis, E ewingii, Borrelia burgdorferi, A.

phagocytophilum, A platys) ở những chó có các dấu hiệu bệnh Quan trọng là phân biệt

chính xác bệnh lâm sàng do E ewingii, một xét nghiệm kháng thể đơn lẻ có thể cho ra

kết quả âm tính sai

Các phát hiện trong xét nghiệm

Bất thường thực chất nhất trong bệnh lâm sàng liên quan đến nhiễm E ewingii là tình

trạng giảm tiểu cầu máu, nhưng số lượng tiểu cầu trong giới hạn bình thường cũngkhông thể loại trừ được bệnh nhiễm Đôi khi thiếu máu nhẹ và phản ứng của tế bào lâm

ba cũng phát hiện thấy Các bất thường về sinh hóa là nhẹ và không đặc trưng Hút dịchkhớp (arthrocentesis) ở các khớp xương bị viêm đa khớp phát hiện viêm thấm nhậpbạch cầu trung tính (neutrophilic inflammation) Đôi khi phát hiện thấy bọc mầm trongcác bạch cầu hạt của máu ngoại biên (Hình 26-12), của dịch não tủy, dịch hút tuyến tiềnliệt,316 hay có thể thấy trong các dịch cơ thể khác Không may là, việc quan sát thấy bọc

mầm thì không nhạy và không đặc hiệu; về vi thể, bọc mầm của A phagocytophilum hay của E ewingii là không phân biệt được.

Xét nghiệm huyết thanh học

Xét nghiệm SNAP 4Dx Plus là xét nghiệm tại chỗ duy nhất cho phát hiện các kháng thể

kháng E ewingii ở chó Vị trí gen (genomic locus) chứa một số gen mã hóa protein

màng ngoài đã được sao chép làm các mục tiêu tập trung cho nhận diện trong các xétnghiệm huyết thanh học

Ngoài phát hiện các kháng thể kháng E ewingii, điểm phát hiện Ehrlichia (ehrlichial spot) trên phiến xét nghiệm SNAP-4Dx Plus cũng phát hiện các kháng thể kháng E.

canis và một số dòng của E chaffeensis, cho ra khảo sát đầu đủ về phơi nhiễm với Ehrlichia spp Mặc dù ở đây không có phản ứng huyết thanh chéo giữa E ewingii và A phagocytophilum, nhưng vẫn có phản ứng chéo giữa E ewingii và E canis ở một số

Ngày đăng: 28/08/2022, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w