Nghiên cứu về các mô hình sản xuất trồng và phát triển các loại cây ăn trái trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong điều kiện thích ứng với BĐKH và xâm nhập mặn. Các ảnh hưởng chủ yếu của BĐKHNBD là gia tăng XNM (về cả cường độ và thời gian), gia tăng ngập úng và các bất thường về thời tiết. Qua đó đề xuất các mô hình trồng các loại cây ăn quả phù hợp với địa phương nhằm giúp người dân nâng cao đời sống kinh tế gia đình và khu vực
Trang 11 CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT (MHSX) THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU – NƯỚC BIỂN DÂNG (BĐKH-NBD) TẠI TỈNH BẾN TRE 1.1 Ngưỡng chịu mặn của cây trồng
Theo nghiên cứu của Viện Cây ăn quả miền Nam
Khả năng chống chịu mặn của cây ăn trái thay đổi tùy theo giống câytrồng và hàm lượng muối hòa tan trong nước Tuy nhiên, chúng ta có thể tạmphân nhóm khả năng chịu mặn của một số giống cây ăn trái như sau:
- Nhóm cây mẫn cảm với mặn (chịu được nồng độ mặn 0,5‰ -<1‰):
Bơ, chuối, nhãn, đu đủ, sầu riêng, chôm chôm, bòn bon, măng cụt.
- Nhóm cây chịu mặn trung bình (chống chịu được nồng độ mặn 1-2‰):
Sơri, cây có múi, ổi, vú sữa.
- Nhóm cây chống chịu khá với mặn (chống chịu được nồng độ mặn3‰-4‰): Mít, xoài, mãng cầu
- Nhóm cây chống chịu tốt với mặn (chống chịu được nồng độ mặn
5‰-6‰): Dừa, sapô, me.
Về kỹ thuật trồng trọt thì khả năng chịu mặn của một số giống cây ăntrái như sau:
- Nhóm chịu mặn dưới 0,1%: Sầu riêng, măng cụt, bòn bon
- Nhóm chịu mặn từ 0, 14-0,2%: Cacao
- Nhóm chịu mặn từ 0,2-0,3%: Cam chanh, bưởi, chuối.
- Nhóm chịu mặn từ 0,3-0,4%: Xoài, dừa Xoài ghép trên gốc xoài ghép
xanh, gốc xoài Châu Hạng Võ có khả năng chịu mặn đến 0,6%
- Nhóm chịu mặn từ 0,4-0,6%: Cam quýt ghép gốc cam 3 lá, xoài Châuhạng Võ, me
Trang 2- Nhóm chịu mặn từ 0,6-1%: Sapo, mãng cầu xiêm ghép gốc bình bát.
Theo kết quả tổng kết của của Sở TNMT tỉnh Bến Tre
Các cây trồng có ngưỡng chịu mặn như sau:
- Dừa: Chịu mặn được 4-10‰ Khi nhiễm mặn thường xuyên trên 5‰
thì trái dừa nhỏ lại
- Cây có múi như bưởi, cam, quýt và xoài chịu mặn đến 4‰, nhưng khi
nước có độ mặn trên 1,5‰ sẽ ảnh hưởng đến năng suất
- Nhóm cây đặc sản vùng ngọt như măng cụt, sầu riêng, bòn bon, chôm chôm, nhãn, rất mẫn cảm với nước mặn Nếu độ mặn nước từ 0,5-
0,8‰ cây sẽ cháy lá và ảnh hưởng đến năng suất
- Lúa: Chịu mặn tối đa 3‰, khi nước mặn 4‰ có thể bị chết Khi nướcmặn đạt 2‰ lúc trổ bông, lúa sẽ bị lép hạt (tuy nhiên hiện nay đã cónhững giống lúa chịu mặn trên 4‰)
- Chuối, mía: Có thể chịu mặn 5‰ nhưng năng suất, chất lượng bị giảm
- Nhóm rau ăn lá, gia vị chịu mặn không quá 1‰
- Một số cây hoa màu khác như bắp, cà, ớt, bầu, bí có ngưỡng chịu mặnkhông quá 2‰ trong thời gian ngắn; Lớn hơn 3‰ sẽ bị chết
- Đối với cây cảnh, con giống khả năng chịu mặn rất kém, khi nước có
độ mặn tới 0,5‰ thì xuất hiện các triệu chứng lá bị cháy, bị rụng, câychậm sinh trưởng, có thể chết
Trang 3Theo Phòng NN và PTNN huyện Mỏ Cày Bắc
- Đối với nhóm cây ăn trái:
Nhóm cây mẫn cảm với mặn như: Sầu riêng, bòn bon, măng cụt chỉ cần
độ mặn dưới 1‰ đã gây ảnh hưởng xấu
Nhóm chịu mặn trung bình: Cây có múi (cam, chanh, quýt, bưởi) chịu
Nhóm chịu mặn trung bình: Cacao và mía 2‰
- Đối với nhóm cây lương thực:
Lúa chịu mặn 2‰, nhưng chỉ trong giai đoạn cây con, đẻ nhánh Giaiđoạn trổ tuyệt đối không được tưới nước mặn cho cây
- Đối với nhóm cây rau màu:
Nhóm chịu mặn yếu: Bắp 1‰
Nhóm chịu mặn trung bình: Cà chua 2‰
Nhóm chịu mặn khá: Bí rợ 4‰; đậu nành, đậu đũa 5‰
- Đối với nhóm cây giống, hoa kiểng:
Nhóm cây này dễ mẫn cảm với mặn, chỉ cần độ mặn dướii 1‰ đã gâyảnh hưởng xấu như vàng lá, rụng lá
Trang 4Theo tài liệu phổ biến của Chi Cục TT và BVTV huyện Giồng Trôm
Giới hạn chịu mặn của các nhóm cây trồng như trong bảng dưới đây:
Stt Nhóm cây trồng
Giới hạn
độ mặn (‰)
Nguồn: Chi Cục TT và BVTV huyện Giồng Trôm
Tổng hợp các kết quả điều tra trong tỉnh và tài liệu thu thập trong và
ngoài nước cho phép chúng tôi xác định ngưỡng chịu mặn tối ưu đối với các loại cây ăn trái trong phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau:
1.2 Các nguyên nhân thay đổi MHSX
Có một số nguyên nhân khác nhau làm thay đổi MHSX ở tỉnh Bến Tre:
Trang 5Các nguyên nhân liên quan trực tiếp đến BĐKH-NBD
Số liệu điều tra và tham khảo cho thấy các nguyên nhân liên quan trựctiếp đến BĐKH-NBD làm thay đổi MHSX gồm có xâm nhập mặn (XNM),nắng nóng kéo dài, ngập úng, mưa lớn, gió chướng, gia tăng sạt lở
Các nguyên nhân khác
Sự thay đổi MHSX còn chịu ảnh hưởng bởi các nguyên nhân khác,
trong đó hiệu quả kinh tế chiếm 85% và thị trường đầu ra của sản phẩm
chiếm 5% Điển hình có một số thay đổi HTSDĐ/MHSX do các yếu tố kinh tế
và thị trường điển hình tại Thạnh Phú như sau:
- Sự chuyển đổi từ trồng lúa sang cây dừa tại ấp Xương Hòa II (xã ThớiThạnh) Một trong những lý do của sự chuyển đổi này là yếu tố thịtrường (giá nhân công tăng, giá lúa giảm,…)
- Tại vùng sinh thái ngọt, do lợi nhuận cao nên một số hộ dân đã chuyển
cả đất lúa sang nuôi tôm nước mặn bất chấp khuyến cáo của chínhquyền địa phương (như tại ấp Quí Đức B, xã Quới Điền; ấp QuớiThuận A, xã Hòa Lợi)
- Chuyển đổi đất giồng cát từ trồng các loại rau màu sang nuôi tôm thẻ.Hiện tượng này rất phổ biến ở các vùng sinh thái lợ và mặn Nguyênnhân chủ yếu là do lợi nhuận thu được từ tôm thẻ quá cao trong khi thờigian nuôi ngắn
Hai yếu tố hiệu quả kinh tế và thị trường đầu có sự liên hệ với hiệntượng BĐKH-NBD Chẳng hạn, sự suy giảm năng suất của một giống câytrồng/vật nuôi thuộc nguyên nhân kinh tế có thể là hệ quả của thay đổi cácđiều kiện STNN do BĐKH-NBD
Yếu tố thị trường cũng có thể bị chi phối bởi hiện tượng BĐKH-NBD,chẳng hạn sự tăng hoặc mất giá của một mặt hàng nông sản nào đó là do sự
Trang 6thay đổi (khan hiếm hoặc dồi dào) nguồn cung cấp, phụ thuộc nhiều vào cácđiều kiện STNNnhư XNM, thiếu nước tưới, …
Như vậy, ảnh hưởng của BĐKH-NBD lên MHSX trên thực tế là rất lớn
vì hiện tượng này chi phối rất nhiều các yếu tố khác nhau
1.3 Quan hệ giữa thay đổi MHSX với BĐKH-NBD
Những thay đổi MHSX tiêu biểu do ảnh hưởng của BĐKH-NBD từ sau năm 2000 đến nay-Trường hợp huyện Thạnh Phú
Các ảnh hưởng chủ yếu của BĐKH-NBD là gia tăng XNM (về cảcường độ và thời gian), gia tăng ngập úng và các bất thường về thời tiết Bảng
1 trình bày các thay đổi MHSX nhằm thích ứng với ảnh hưởng của NBD tại huyện Thạnh Phú
BĐKH-Bảng 1 Thay đổi MHSX do ảnh hưởng của BĐKH-NBD
STT Địa điểm Các biểu hiện của
- Chuyển đổi từ Dừa sang tôm càng xanh
Dừa Nuôi gà thả vườn 3
+ Tăng lốc xoáy
- Chuyển từ Lúa 2 vụ sang: + Lúa-bắp lai
+ Lúa-dừa/mía + Trồng cỏ
4 Ấp Quý Đức B
Xã Quới Điền 2
+ Nắng nóng kéo dài + Tăng XNM
- Chuyển từ Lúa sang:
+ Tôm công nghiệp + Dừa (2012)
- Tăng cường chăn nuôi bò, dê
5 Ấp Quới Thuận A
Xã Hòa Lợi 2 + Tăng XNM
- Chuyển từ Lúa sang:
+ Dừa/Mía + Tôm công nghiệp
Trang 7Vùng sinh thái nước lơ
- Chuyển từ Lúa sang Tôm-lúa
9 Ấp 8
Xã Mỹ An 2 + Nắng nóng kéo dài
- Chuyển từ Lúa - Tôm công nghiệp
- Chuyển từ Lúa - Tôm càng
Vùng sinh thái nước mặn
10 Ấp Giang Hà
Xã An Điền 2
+ Nắng nóng kéo dài + Tăng XNM - Chuyển từ Lúa sang Tôm-lúa
11 Ấp An Điền
Xã An Điền 2
+ Tăng ngập úng + Tăng XNM + Tăng lốc xoáy
- Chuyển từ Lúa sang Tôm-lúa
12 Ấp An Thới
Xã An Qui 2
+ Ngập úng do thủy triều
+ Nắng nóng + Lốc xoáy, sét
- Trồng rừng (đước, phi lao) dọc theo các dãy cát ven biển
14 Ấp 6, 7
Xã Thạnh Phong 1
+ Mưa nhiều + Mưa trái mùa + Triều cường, gió chướng
+ Lốc xoáy, sét + Áp thấp nhiệt đới, bão
- Trồng xoài Tứ quý xen sắn
- Đắp đê bao
- Trồng rừng phòng hộ, phi lao
1 IUCN (2012), 2 Kết quả phỏng vấn nông hộ
Thay đổi MHSX do BĐKH-NBD
Trang 8Khi các điều kiện sinh thái nông nghiệp (STNN) thay đổi (gia tăngXNM, thiếu nước ngọt, sạt lở bờ biển, gia tăng nắng nóng, bão/lốc xoáy, giatăng dịch bệnh…) do tác động của BĐKH-NBD, thay đổi MHSX là một trongnhững động thái thích ứng của người dân nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế.Hoạt động này tự phát trong nhân dân hoặc xuất phát từ chủ trương của cáccấp chính quyền Đây là một hoạt động cấp thiết nhằm thích ứng với BĐKH-NBD, đặc biệt ở các khu vực cửa sông ven biển
1.4 Luận cứ khoa học xây dựng các MHSX thích ứng BĐKH-NBD
Lựa chọn các MHSX tiêu biểu
Các MHSX tiêu biểu được lựa chọn dựa trên phân tích tính đặc thù củachúng ở từng vùng cụ thể, sự phổ biến của MHSX trong nhân dân và tính ổnđịnh của MHSX về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Hiệu quả kinh tế(lợi nhuận), xã hội (tạo việc làm, nâng cao công bằng xã hội, ổn định an ninh
xã hội) và môi trường (không/ít gây tổn hại đến môi trường đất, nước, khôngkhí, các hệ sinh thái) là các tiêu chí được sử dụng để đánh giá tính hiệu quảcủa một MHSX ở một vùng sinh thái cụ thể Các điều kiện tự nnhiên quantrọng nhất ở tỉnh Bến Tre là độ mặn và thời gian nhiễm mặn (Hình 1)
Trang 9Hiệu quả KT-XH-MT của các MHSX
Hiệu quả KT-XH-MT thấp hoặc không ổn định Hiệu quả KT-XH-MT cao hoặc ổn định
Các MHSX tiêu biểu
Xác định các MHSX đặc thù và phổ biến ở từng vùng sinh thái Điều tra, xác định các MHSX hiện hữu
Điều kiện sinh thái nông nghiệp và mức độ phổ biến của từng MHSX
Hình 1 Sơ đồ lựa chọn các MHSX tiêu biểu 1.5 Quan hệ giữa mô hình trồng cây ăn trái và XNM
Kết quả nhận được ở trên về các MHSX cho thấy chúng hình thành dựatrên hai điều kiện cơ bản là: Môi trường tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên và
Trang 10Thực tế sản xuất trong đó bao gồm nhu cầu của thị trường và các tiến bộ khoahọc kỹ thuật Các MHSX chỉ có hiệu quả và bền vững khi thích ứng được với
sự biến đổi của hai điều kiện này Do đó để đề xuất các mô hình sản xuất nói
chung và mô hình trồng cây ăn trái nói riêng là Dừa, Bưởi, Chôm chôm và Nhãn, cần phải xem xét cụ thể hai điều kiện này của tỉnh Bến Tre.
Môi trường tự nhiên-tài nguyên thiên nhiên
Nói chung môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Bến Trethuận lợi cho sự hình thành và phát triển các mô hình trồng cây ăn trái khácnhau, nhưng điều đáng quan tâm nhất là hiện tượng XNM trong thời gian vừaqua
(1) Môi trường địa chất
Quá trình thành tạo địa chất chủ yếu là các trầm tích mới Holocen vớimôi trường chủ yếu là đầm lầy - biển nên yếu tố mặn chiếm chủ đạo Nhờ quátrình hình thành tiếp diễn cũng như quá trình lấn biển của sông Mêkông, quátrình ngọt hóa tăng dần dẫn đến môi trường sinh thái chuyển dần từ mặn sangngọt và một phần diện tích của tỉnh trở thành môi trường ngọt và ngọt lợ tùytheo mức độ thoát mặn và khoảng cách so nguồn nước ngọt - mặn Do đó tàinguyên đất cũng chiụ tác động của quá trình hình thành đất
(2) Địa hình - Địa mạo
Tỉnh Bến Tre có độ cao trung bình từ 1-2 m so với mực nước biển, thấpdần từ tây bắc xuống đông nam Trong đó, phần cao nhất thuộc khu vựchuyện Chợ Lách và một phần huyện Châu Thành, độ cao tuyệt đối có nơi đạttrên 5 m, nhưng đa số từ 3 đến 3,5 m Phần đất thấp độ cao trung bình khoảng1,5 m, phân bố tại các huyện Châu Thành và Giồng Trôm Phần đất trũng, độcao tối đa không quá 0,5 m, phân bố ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri vàThạnh Phú Địa hình bờ biển của tỉnh phần lớn là các bãi bồi rộng với thành
Trang 11phần chủ yếu là bùn hoặc cát Khi triều rút, các bãi bồi nổi lên và trải rộng rabiển hàng nghìn mét, tạo thuận lợi cho nuôi trồng hải sản Tỉnh Bến Tre đượchình thành từ nhiều cù lao nên mỗi khu vực là một cù lao riêng rẽ Trên các cùlao thường có dạng địa hình cao ven bờ và trũng dần vào trong lòng cù lao.Ngoài ra, một đặc điểm cần chú ý là quá trình lấn biển hiện đại đã hình thànhnên các giồng cát song song với bờ biển và tạo nên các khu vực cao hơn trongcác cù lao, nhất là các cù lao gần biển hiện nay Điều này cũng tạo nên cácquá trình sử dụng đất khác nhau phù hợp môi trường sinh thái và khả năngsản xuất của người dân.
(3) Tài nguyên đất
Đất trên địa bàn Bến Tre được phân thành 4 nhóm chính theo loại đất
và khả năng trồng trọt:
- Đất phù sa ngọt: Chiếm khoảng 34% diện tích với 5 loại đất, tập
trung ở phía tây bắc của tỉnh Đất được hình thành từ trầm tích sông CửuLong, có độ phì từ khá đến cao, khu vực ven sông được phù sa bồi đắp hàngnăm, thích hợp canh tác lúa và trong điều kiện lên líp có thể thích nghi với raumàu, cây công nghiệp lâu năm (dừa), cây ăn trái Đây là loại đất cần đượckhai thác tối đa cho việc phát triển cây ăn trái, chú trọng các loại cây ăn tráiđặc sản như: măng cụt, chôm chôm, sầu riêng, bưởi da xanh mang lại hiệuquả kinh tế cao Đặc biệt, vùng Cái Mơn, xã Vĩnh Thành thuộc huyện ChợLách có đất phù sa ngọt với những nguyên tố vi lượng đặc biệt luôn mang lạicho vùng những loại trái cây với chất lượng và hương vị vượt trội
- Đất nhiễm mặn: Chiếm khoảng 50% diện tích, hình thành từ trầm tích
pha sông biển, tập trung chủ yếu ở 3 huyện ven biển, trong đó loại đất nhiễmmặn ít và mặn trung bình đang được cải tạo từng bước theo sự phát triển thủy
Trang 12lợi, có độ phì từ trung bình đến khá và có nhiều triển vọng thâm canh nôngnghiệp, thích nghi với nhiều loại cây trồng như: lúa, dừa, mía, cây ăn trái…Hiện dừa là loại cây có giá trị kinh tế ổn định, thu nhập cao, đặc biệt thíchhợp với vùng nước lợ, mặn.
- Đất phèn: Chiếm khoảng 9,4% diện tích, phân bố rải rác trên toàn bộ
địa bàn tỉnh Đất hình thành trên sự bồi lắng chậm trên môi trường yếm khígiàu hữu cơ tại vùng bưng, trũng, sông cổ Nếu được cải tạo tốt vẫn có thểphát triển dừa, tận dụng tối đa và có hiệu quả tài nguyên đất đai của tỉnh
- Đất cát: Chiếm khoảng 6,6% diện tích, phân bố ở khắp các huyện
trong tỉnh, tập trung nhiều nhất tại các huyện Ba Tri, Mỏ Cày Bắc, Mỏ CàyNam, Thạnh Phú và Bình Đại, phổ thích nghi rộng Bốn con sông lớn bao bọcBến Tre đồng thời chia địa bàn thành ba cù lao là Minh, Bảo và An Hóa Do
đó quá trình hình thành của đất Bến Tre thay đổi môi trường từ mặn sang ngọtcủa các cù lao với dấu tích là các giồng cát đánh dấu quá trình chuyển dịchcủa cửa biển, điển hình là khu vực các huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú.Đây là biểu hiện của quá trình ngọt hóa dần các vùng đất trong quá trình hìnhthành đến vùng cửa sông Nếu được khai thác sử dụng hợp lý thì đất cát sẽphục vụ tốt cho phát triển cây dừa và cây có múi, cây xoài
Tỉnh Bến Tre có khả năng canh tác được đa dạng cây trồng Cây lươngthực có lúa, hoa màu (như khoai lang, bắp…) và các loại rau, những loại câynày tập trung tại các vùng đất ngọt, ít chịu ảnh hưởng của mặn như Mỏ CàyBắc, Mỏ Cày Nam và Chợ Lách Mía được trồng nhiều tại các vùng đất phù
sa ven sông rạch; nổi tiếng nhất là mía tại các huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ CàyNam và Giồng Trôm Đất bồi nhiễm mặn thích hợp trồng cói Các loại cây ăntrái như cam, quýt, sầu riêng, chuối, chôm chôm, măng cụt, mãng cầu, xoàicát, bòn bon, khóm, vú sữa, bưởi da xanh, chúng được trồng nhiều ở cáchuyện: Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày và Châu Thành
Trang 13(4) Khí hậu
Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưnglại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổitrong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26-27°C Tuy nhiên những nămgần đây nhiệt độ trung bình có xu hướng gia tăng(từ năm 2010 đến 2017thường xuyên đạt trên 27oC Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa đôngbắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng
11, giữa 2 mùa này là thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng
11 và tháng 4 tạo nên 2 mùa rõ rệt
Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.250-1.500 mm, có năm lượngmưa đến 2000 mm (2010) nhưng cũng có năm lượng mưa chỉ đạt 995 mm(2015), phân thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Trong mùa khô,lượng mưa chỉ vào khoảng 2-6% tổng lượng mưa cả năm Thời kỳ khô hạn cógió đông bắc, thời kỳ mưa ẩm là mùa gió tây nam là chủ yếu Khí hậu BếnTre cho thấy thích hợp với nhiều loại cây trồng Trở ngại đáng kể cho sản xuấtnông nghiệp là vào mùa khô lượng nước từ thượng nguồn đổ về giảm nhiều
và gió chướng mạnh đưa nước biển sâu vào nội địa, tăng khả năng xâm nhậpmặn trên sông và trong đất, nước làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triểncủa cây trồng, nhất là các huyện ven biển
(5) Tài nguyên nước mặt
Nằm ở hạ lưu sông Mêkông, giáp với Biển Đông, có mạng lưới sôngngòi chằng chịt với tổng chiều dài xấp xỉ 6.000 km, trong đó có sông CổChiên dài 82 km, sông Hàm Luông dài 71 km, sông Ba Lai dài 59 km, sôngTiền dài 83 km, hệ thống sông ngòi ở Bến Tre rất thuận lợi cho việc cung cấpnước tưới cho cây trồng, tuy nhiên cũng gây trở ngại đáng kể cho việc cấpnước vào mùa khô, khi thủy triều Biển Đông đưa nước mặn vào sâu trongkênh/rạch Bốn con sông lớn nêu trên bao bọc đồng thời chia địa bàn thành ba
Trang 14cù lao là Minh, Bảo và An Hóa Do đó quá trình hình thành của đất Bến Trethay đổi môi trường từ mặn sang ngọt của các cù lao với dấu tích là các giồngcát đánh dấu quá trình chuyển dịch của cửa biển, điển hình là khu vực cáchuyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú Đây là biểu hiện của quá trình ngọthóa dần các vùng đất trong quá trình hình thành đến vùng cửa sông
Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng 2 chế độ thủy văn: Triều biển và nguồnnước từ các nhánh sông của hệ thống sông Cửu Long Chế độ thủy văn và tàinguyên nước của Bến Tre có nhiều điểm cần chú ý Đó là vấn đề luân phiêngiữa nước ngọt và mặn trên các cửa sông Quá trình này làm môi trường nướccủa tỉnh luôn có nước mặn - ngọt - lợ tùy theo không gian và thời gian Theothời gian lâu dài, nước ngọt cung cấp dần xuống phiá cửa sông làm môitrường chung được ngọt hóa dẫn đến môi trường đất cũng ngày càng đượcngọt hoá dần, đất thoát mặn và trở thành đất ngọt hóa, điển hình là khu vựccác huyện Chợ Lách, Mỏ Cày và Châu Thành
Trong mùa mưa, nước thượng nguồn về kết hợp mưa nhiều trên toàntỉnh nên hầu khắp khu vực đều có nước ngọt mức độ khác nhau, trong đó môitrường nước ngọt chiếm chủ đạo Giai đoạn mùa khô, nước ngọt từ thượngnguồn đổ về giảm, mưa hạn chế, nhiều thời điểm không có mưa nên Bến Tre
bị mặn ảnh hưởng, khu vực phía bắc ít bị ảnh hưởng hơn so khu vực phíanam, nhiều nơi có nước mặn liên tục với độ mặn cao như các huyện ThạnhPhú, Ba Tri, Bình Đại… từ đó hình thành ra các vùng sinh thái khác nhau vớinhững mô hình sản xuất khác nhau phù hợp nhất Xâm nhập mặn có khuynhhướng ngày càng sâu và kéo dài hơn Vào tháng 2, độ mặn 4‰ xâm nhập trêncác sông chính cách cửa sông khoảng 40 km và tăng lên đến 50 km vào tháng
3 Từ tháng 4 đến tháng 6, độ mặn 1‰ gần như xâm nhập toàn bộ các sông kênh/rạch tự nhiên trên địa bàn tỉnh
Trang 15-Nhìn chung, trong các vùng ngọt và lợ, chế độ thủy văn thích hợp choviệc bố trí sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là dừa và cây ăn trái với chế độ triềuthuận lợi cho việc tưới tiêu và cải tạo đất Tuy nhiên, nguồn nước trên sôngchính bị nhiễm mặn vào mùa khô và trên sông nhỏ cận đô thị đang bị ô nhiễmgây khó khăn trong việc cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất Tại khu vựcven biển, biên độ triều cao và độ mặn tương đối ổn định, phù hợp cho pháttriển sinh thái rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản mặn lợ
(6) Tài nguyên nước dưới đất
Về nguồn nước dưới đất, gồm có:
- Nguồn nước giồng cát: Toàn tỉnh có trên 12.000 ha đất giồng cát có
chứa nguồn nước ngọt, trữ lượng khoảng 12 triệu m3, cung cấp nguồn nướcdồi dào cho trồng cây ăn trái kể cả dừa
- Nguồn nước ngầm tầng nông (độ sâu chưa đến 100 m): Thuộc phức
hệ chứa nước Pleistocene Khu vực chứa nước nhạt phân bố ở phía bắc huyệnChâu Thành, huyện Chợ Lách, một phần huyện Thạnh Phú và huyện Ba Tri
- Nguồn nước ngầm tầng sâu (hơn 100 m): Gồm 2 phức hệ chứa nước
là Pleistocene và Miocene
Phức hệ chứa nước Pleistocene phân bố quan trọng nhất là tầng sâu290-350 m, diện tích phân bố tầng nước nhạt khoảng 112 km2 từ thành phốBến Tre đến phía bắc cầu Rạch Miễu với trữ lượng tiềm năng là 74.368
m3/ngày đêm Phức hệ chứa nước Miocene ở độ sâu > 400 m, nước có chấtlượng tương đối tốt, phân bố từ thành phố Bến Tre đến phía bắc huyện ChâuThành với diện tích rộng khoảng 150 km2
Thực tiễn sản xuất
Trang 16(1) Thực trạng phát triển cây ăn trái
Theo Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre, đến năm 2017 đất dùng chonông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng tuyệt đối, diện tích dùng cho nông nghiệptăng lên, cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp có sự biến động lớn, đất dùng chosản xuất cây ngắn ngày giảm sâu (sau 5 năm đã giảm trên 11.000 ha), diệntích cây dài ngày, đất nuôi trồng thủy sản tăng, cho thấy có sự chuyển dịchsản xuất trong tỉnh (Bảng 2)
Bảng 2 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bến Tre (ha)
+/-Tổng diện tích tự nhiên 235.766 239.481 3715
1.1 Đất trồng cây hàngnăm 4.8476 36.693 -11.7851.1
Trang 173 Đất chưa sử dụng 217 482 265
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre 2017
Bến Tre đứng hàng thứ tư vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vềsản xuất cây ăn trái, trong đó một số loại cây trồng như sầu riêng, chômchôm, măng cụt, bưởi da xanh đã tạo được danh tiếng trên thị trường và tiêuthụ khá ổn định Diện tích cây ăn trái tăng nhanh từ 24.846 ha năm 1995 lênđến cao điểm là 40.898 ha năm 2004 (tăng 4,8%/năm); năm 2010 diện tíchgiảm còn 33.500 ha do một số diện tích được chuyển sang trồng dừa Thờigian gần đây diên tích cây ăn trái tiếp tục có xu thế giảm; năm 2014 diện tíchcây ăn trái toàn tỉnh chỉ còn 27.393 ha (giảm gần 5.000 ha so với năm 2010);đến năm 2017 diện tích cây ăn trái vẫn chỉ giữ ở mức 28.283 ha Khu vực venbiển có xu thế ổn định hơn khu vực các huyện Châu Thành, Chợ Lách, MỏCày Bắc và Mỏ Cày Nam Đáng lưu ý là cơ cấu nội bộ cây ăn trái cũng luônbiến động theo yếu tố thị trường, dịch bệnh và hiệu quả kinh tế (Bảng 3)
Bảng 3 Biến động diện tích cây ăn trái theo thời gian (ha)
Trang 18Về hệ thống canh tác, tồn tại song song 2 loại vườn: Vườn chuyên, chủyếu là chôm chôm, nhãn, bưởi da xanh, sầu riêng, xoài, tập trung nhiều nhấttại các huyện Châu Thành và Chợ Lách; Vườn hỗn hợp, vườn xen, trong đóđáng chú ý là bưởi da xanh, tôm càng xanh trong vườn dừa.
Về quy mô sản xuất, hầu hết là sản xuất quy mô nông hộ với bình quânvài ngàn m2/hộ; sản xuất dạng tổ hợp tác chủ yếu là bưởi da xanh Với quy
mô canh tác phân tán như trên, tuy dễ chăm sóc và áp dụng kỹ thuật nhưngdẫn đến nhiều trở ngại trong việc điều tiết chế độ nước để rải vụ và khó tạođược lượng mặt hàng trái cây có quy cách tương đối đồng nhất với quy môtập trung, khó đạt được hiệu quả trong việc xây dựng tiêu chuẩn hóa
Trong các cây trồng hiện nay, dừa, bưởi có mặt trong tất cả các vùng từ
ngọt đến mặn Tuy nhiên, tùy theo từng vùng sinh thái chúng có năng suất và
hiệu quả kinh tế khác nhau Trong khi chôm chôm, nhãn chỉ tập trung khu
vực các huyện Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc và Châu Thành, đây là cây sinh sốngchủ yếu trong môi trường ngọt, khá nhạy cảm với biến động mặn trong đất vànước, xu thế chung đang thu hẹp dần diện tích
(i) Dừa: Bên cạnh các loại cây ăn trái tỉnh Bến Tre là nơi trồng rất
nhiều dừa Diện tích dừa phân bố trên địa bàn tỉnh Bến Tre đứng vào hàngđầu cả nước và hình thành các vùng dừa quy mô tập trung tại các huyện ChâuThành, Giồng Trôm, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Bình Đại và Thạnh Phú.Trước năm 2005, diện tích dừa ổn định trong khoảng 37.000-38.000 ha, trong
đó giai đoạn 2001-2004 diện tích dừa giảm nhẹ còn khoảng 35.000 ha do quátrình phát triển mạnh của cây ăn trái khác Sau năm 2005, diện tích dừa tăngnhanh đột biến đạt 51.566 ha vào năm 2010, năm 2015 diện tích dừa đạt68.545 ha và năm 2017 đã đạt 71.260 ha Các địa bàn chuyển dịch diện tích
để trồng dừa quan trọng nhất là các huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam và
Trang 19Giồng Trôm Bình quân trong 10 năm, diện tích dừa tăng 3,1%/năm, trong đógiai đoạn 2006-2010 tăng đến 6,3%/năm
Nguyên nhân dẫn đến việc tăng diện tích trồng dừa trong những nămvừa qua là do:
a) Nhóm cây ăn trái tại một số địa bàn không đạt hiệu quả, đặc biệt lànhóm cây có múi trên địa bàn các huyện Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam; một
số diện tích mía trồng tại các huyện Giồng Trôm và Mỏ Cày Nam cũngchuyển dần sang trồng xen dừa và tiến đến xóa dần cây mía trên líp;
b) Điều kiện tiêu thụ sản phẩm dừa đa dạng (xuất khẩu, chế biến côngnghiệp, tiêu thụ tươi, tận dụng mụn và xơ dừa); hệ thống thương lái chuyênnghiệp và có tổ chức hơn so với các loại sản phẩm trồng trọt khác Năng suấtdừa thuộc nhóm cao (6,5-7,2 ngàn trái/ha) dẫn đến sản lượng gia tăng khánhanh (4,7%/năm), năm 2010 ước đạt trên 360 triệu trái dừa Ngoài ra, các lợithế khác như thị trường tiêu thụ đa dạng, ít đòi hỏi công lao động, thích ứngvới điều kiện xâm nhập mặn ngày càng tăng… cũng dẫn đến việc cây dừangày càng tăng dần ưu thế trong hệ thống canh tác cây lâu năm (Bảng 4; 5)
Bảng 4 Biến động diện tích trồng dừa theo thời gian (ha)