1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP NHÓM Môn: Luật Dân sự - Module 2

19 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 171,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Đưa ra nhận xét, đánh giá về quy định của pháp luật hiện hành được áp dụng đối với tình huống nêu trên.. Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Huệ có đơn khiếu nại cho rằng khi giao tiền cả 2 n

Trang 1

KHOA PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-BÀI TẬP NHÓM Môn: Luật Dân sự - Module 2

Khóa: 37 – 38 Học kỳ I – Năm học 2014-2015

1 Tình huống thứ nhất

Nguyên đơn: Ông Lê Trọng Giảng sinh năm 1961, ủy quyền cho bà Lê Thị Đóa

đại diện (văn bản ủy quyền ngày 22-02-2006)

Bị đơn: Ông Đặng Hồng Vân sinh năm 1948; bà Lê Thị Hằng sinh năm 1947,

ủy quyền cho ông Vân đại diện (văn bản ủy quyền ngày 27-4-2006)

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07-12-2005 và trong quá trình giải quyết vụ án,

nguyên đơn ông Lê Trọng Giảng và bà Lê Thị Đóa (đại diện theo ủy quyền) trình

bày: Từ năm 2002 đến năm 2004 ông Giảng bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thú y thủy

sản cho vợ chồng ông Đặng Hồng Vân, bà Lê Thị Hằng, hai bên thỏa thuận (miệng)

phương thức thanh toán là sau mỗi vụ thu hoạch tôm vợ chồng ông Vân, bà Hằng

phải thanh toán từ 60% trở lên trên tổng số tiền còn nợ tại thời điểm thanh toán

Năm đầu tiên ông Vân, bà Hằng thanh toán tiền đúng theo thỏa thuận Sau

đó họ không thanh toán theo thỏa thuận nên cuối năm 2004 ông Giảng chấm dứt

việc cung cấp thức ăn nuôi tôm và thuốc thú y hải sản cho vợ chồng ông Vân

Ngày 02-8-2004 ông Giảng và ông Vân, bà Hằng đã chốt nợ xác định ông Vân,

bà Hằng còn nợ ông là 1.484.231.000đồng Ngày 14-10-2004, vợ chồng ông

Giảng trả cho ông 400.000.000 đồng; hiện còn nợ ông 1.084.231 đồng Nay yêu

cầu ông Vân, bà Hằng phải thanh toán trả ông 1.235.991.000đồng (trong đó có

1.084.231.000 đồng tiền gốc + 151.760.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 14-10-2004

đến ngày 07-4-2005)

Bị đơn là ông Đặng Hồng Vân, đồng thời ông Vân còn đại diện theo ủy

quyền trình bày: Từ năm 2002 đến năm 2004 vợ chồng ông có mua thức ăn nuôi

tôm và thuốc thú y thủy sản của ông Lê Trọng Giảng như ông Giảng trình bày

Ngày 02-8-2004, lợi dụng việc vợ chồng ông nuôi tôm thất bại đang bị khủng

hoảng tinh thần, ông Giảng đã lập biên bản xác nhận công nợ và gây áp lực buộc

vợ chồng ông phải ký xác nhận nợ số tiền nợ 1.484.231.000đồng Ngày

13-10-2004 và ngày 14-10-13-10-2004 vợ chồng ông trả cho ông Giảng 400.000.000đồng, ông

Giảng buộc vợ chồng ông ký xác nhận còn nợ số tiền là 1.084.231.000đồng

Trang 2

Nhưng trên thực tế thì vợ chồng chỉ nợ ông Giảng tổng cộng là 609.740.000đồng Ngày 13 và 14-10-2004 đã trả 400 triệu đồng, nên hiện tại chỉ còn nợ 209.740.000đồng nên vợ chồng ông chỉ đồng ý trả số tiền cho ông Giảng là 209.740.000đồng

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2006/DSST ngày 16-5-2006, Tòa án sơ thẩm quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc ông Đặng Hồng Vân và bà Lê Thị Hằng trả cho ông Lê Trọng Giảng 1.235.991.000 đồng làm hai lần cụ thể như sau:

+ Ngày 30-6-2006 ông Đặng Hồng Vân, bà Lê Thị Hằng trả cho ông Lê Trọng Giảng 617.996.000đồng.

+ Ngày 31-12-2006 ông Đặng Hồng Vân, bà Lê Thị Hằng trả cho ông Lê Trọng Giảng 617.995.000đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ phải chịu do chậm thi hành án

Ngày 24-5-2006 ông Đặng Hồng Vân có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 99/2006/DS.PT ngày 18-9-2006, Tòa án phúc thẩm quyết định:

Sửa một phần án sơ thẩm.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự như sau:

1 Ông Đặng Hồng Vân, bà Lê Thị Hằng phải thanh toán cho ông Lê Trọng Giảng 1.084.231.000 đồng.

2 Phương thức thanh toán:

Khi Ngân hàng Ngoại thương phát mãi tài sản của ông Vân đang thế chấp tại Ngân hàng để thu hồi nợ, số tiền còn lại sau khi trừ nợ của Ngân hàng, ông Vân, bà Hằng phải trả hết cho ông Lê Trọng Giảng để thanh toán số nợ 1.084.231.000đồng Nếu số tiền phát mãi tài sản không đủ để thanh toán số tiền 1.084.231.000đồng thì ông Vân, bà Hằng phải thanh toán số tiền còn thiếu trong thời hạn 2 năm kể từ ngày Ngân hàng Ngoại thương phát mãi tài sản.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Lê Trọng Giảng có đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên

YÊU C ẦU ĐỐI VỚI NH ÓM

Trang 3

Nhận xét về quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và quyết định của Tòa

án cấp phúc thẩm Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với từng nhận xét.

Nêu cách giải quyết của nhóm đối với tình huống nêu trên Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với cách giải quyết của nhóm.

Đưa ra nhận xét, đánh giá về quy định của pháp luật hiện hành được

áp dụng đối với tình huống nêu trên.

2 Tình huống thứ hai

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hoàng sinh năm 1957.

Bị đơn: Chị Dương Thị Mỹ Huệ sinh năm 1965.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 9-12-2005 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Bùi Thị Hoàng trình bày:

Ngày 13-9-2005, bà thoả thuận bán cho bà Dương Thị Mỹ Huệ 2 ao tôm với giá 86.000đ/kg, bà Huệ đặt cọc trước 20.000.000đồng Ngày 14-9-2005 bà thu hoạch tôm được 3.946,6kg, thành tiền là 339.554.000đồng; bà Huệ trả cho bà 80.554.000đồng, cộng với số tiền đặt cọc thì bà Huệ đã trả được 100.554.000đồng, còn nợ lại là 239.000.000đồng Sau khi nhận tôm, bà Huệ cho người nhà đem đi bán, còn bà Huệ ở lại nhà bà đợi người nhà đi bán tôm về sẽ thanh toán số tiền còn lại cho bà

Khoảng 7 giờ sáng ngày 16-9-2005, ông Dương Tấn Danh (em của bà Huệ) đem tiền về giao cho bà Huệ tại nhà bà Bà Huệ đã đưa cho bà 23 xấp tiền mệnh giá 50.000đồng, bà đã cột lại thành 2 cọc, mỗi cọc 10 xấp và 3 xấp để riêng, bà Huệ nói mỗi tập tiền là 10.000.000đồng; bà Huệ đưa tiếp 18 tờ tiền mệnh giá 500.000đồng và yêu cầu bà viết biên nhận cho bà Huệ Bà đồng ý và viết biên nhận cho bà Huệ nhưng khi viết dở bà có suy nghĩ phải kiểm đủ tiền mới viết tiếp nên bà đã dừng viết biên nhận để kiểm tiền Tuy nhiên, khi bà đang kiểm tiền thì bà Huệ đã cầm biên nhận do

bà viết nói có việc gấp phải về và bỏ đi luôn Khi đếm tiền chỉ có 124.000.000đồng, không phải là 239.000.000 đồng, thấy tiền bà Huệ giao thiếu nên bà có chạy theo, nhưng không kịp nên bà đã thông báo cho anh Trần Văn Thương (con trai của bà) đuổi theo, khi đuổi kịp xe của bà Huệ, anh Thương yêu cầu bà Huệ quay lại giải quyết việc giao tiền thiếu, nhưng bà Huệ không quay lại Khoảng 1h30’ sau bà gặp bà Huệ

và nói với bà Huệ về việc bà Huệ giao thiếu tiền, nhưng bà Huệ không nói gì Như vậy, bà Huệ giao tiền cho bà còn thiếu 115.000.000đồng nên yêu cầu bà Huệ phải trả cho bà số tiền còn thiếu và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 16-9-2005 đến ngày xét xử vụ án

Bị đơn là bà Dương Thị Mỹ Huệ trình bày: Việc thỏa thuận mua tôm, giá

cả, số tiền đặt cọc trước cũng như số tiền thanh toán khi nhận tôm và số lượng tôm

như bà Hoàng trình bày Sau khi nhận tôm chồng bà và ông Dương Tấn Danh (em

trai của bà) đem tôm đi bán còn bà ở lại nhà bà Hoàng chờ chồng bà đem tiền về

sẽ thanh toán cho bà Hoàng

Trang 4

Khoảng 7h sáng ngày 16-9-2005 (tức ngày 13-8 âm lịch), ông Danh đem tiền đến nhà bà Hoàng đưa cho bà để trả cho bà Hoàng Bà đã giao đủ cho bà Hoàng 239.000.000đồng, số tiền lớn nên bà không nhớ đã giao bao nhiêu xấp tiền, gồm những loại tiền gì Sau khi kiểm tiền bà Hoàng viết biên nhận cho bà, do đã trả tiền đủ và đã xóa sổ và bà đã viết giấy biên nhận cho bà Hoàng là đã trả 239.000.000 đồng nên bà Hoàng đưa giấy của bà Hoàng viết cho bà, bà không để

ý nên không phát hiện là bà Hoàng chưa ký tên

Bà xác định đã trả xong 239.000.000đồng cho bà Hoàng nên không đồng ý với các yêu cầu của bà Hoàng

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2006/DS-ST ngày 03-3-2006, Tòa án sơ

thẩm quyết định: Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Hoàng.

Buộc bà Dương Thị Mỹ Huệ có trách nhiệm trả cho bà Hoàng số tiền 121.727.000đồng Thời gian trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ phải chịu do chậm thi hành án

Ngày 03-3-2006, bà Huệ có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án dân

sự sơ thẩm

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 343/2006/DSPT ngày 17-7-2006, Tòa án phúc thẩm quyết định:

Bác yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị Mỹ Huệ Giữ y bản án sơ thẩm

số 21/2006/DSST ngày 03-3-2006 của Toà án sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Hoàng.

Buộc bà Dương Thị Mỹ Huệ có trách nhiệm trả cho bà Hoàng số tiền 121.727.000 đồng Thời gian trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Huệ có đơn khiếu nại cho rằng khi giao tiền cả 2 người cùng đếm và bà giao đủ số tiền, thì bà Hoàng mới viết biên nhận, trước khi mua tôm bà và bà Hoàng không hề quen biết nhau nên không thể có việc không đếm đủ tiền mà bà Hoàng đã viết giấy (vì chưa thanh toán đủ tiền khi giao tôm nên

bà còn phải ở lại nhà bà Hoàng chờ thanh toán đủ mới được về nhà), ngoài giấy biên nhận bà Hoàng còn xóa sổ tại sổ theo dõi của bà và bà Hoàng còn yêu cầu bà viết thêm giấy biên nhận là đã trả đủ 239.000.000 đồng, nhưng Tòa án chưa yêu cầu bà Hoàng xuất trình 2 tài liệu này

YÊU C ẦU ĐỐI VỚI NH ÓM

Nhận xét về quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và quyết định của Tòa

án cấp phúc thẩm Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với từng nhận xét.

Trang 5

Nêu cách giải quyết của nhóm đối với tình huống nêu trên Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với cách giải quyết của nhóm.

Đưa ra nhận xét, đánh giá về quy định của pháp luật hiện hành được

áp dụng đối với tình huống nêu trên.

3 Tình huống thứ ba

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Trĩ sinh năm 1968

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Sang sinh năm 1956.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22-11-2005 và qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Hồ Thị Trĩ trình bày:

Bà Nguyễn Thị Kim Sang là chủ doanh nghiệp tư nhân chuyên mua bán nông sản (cà phê) Ngày 22-01-2002, bà gửi tại kho của bà Sang 10.000kg cà phê nhân xô; theo như thỏa thuận khi nào có nhu cầu thì bà lấy cà phê hoặc lấy tiền quy theo giá thị trường tại thời điểm rút tiền Ngày 25-01-2002, bà có ứng của bà Sang 40.000.000đ, thời điểm đó giá cà phê là 4.250đ/kg Từ đó đến nay, bà nhiều lần ra yêu cầu bà Sang tính tiền cà phê cho bà, nhưng bà Sang không tính mà đã trừ vào

số cà phê bà đã gửi Nay bà yêu cầu bà Sang trả cho bà 10.000kg số cà phê mà bà gửi tại kho của bà Sang theo giá 18.000đ/kg Đối với số tiền ứng trước của bà Sang thì bà sẽ trả và đồng ý chịu lãi suất 1,4%/tháng

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim Sang trình bày: Bà kinh doanh làm đại lý mua

bán cà phê; từ ngày 19 đến ngày 21-01-2002, bà Trĩ đã gửi vào kho của bà 3 lô hàng với tổng số lượng là 10.000kg cà phê nhân RII 5% Ngày 25-01-2002, bà Trĩ

ứng của bà 40.000.000đ tương đương với 10 tấn cà phê (thời điểm đó giá

4.250đ/kg)

Đối với 10 tấn cà phê bà Trĩ gửi trong kho: ngày 22-02-2002 bà Trĩ cắt bán cho bà 5.000kg giá 5.000đ/kg thành tiền là 25.000.000đồng; ngày 12-5-2002 bà Trĩ bán tiếp cho bà 2.222kg giá 6.750đ/kg thành tiền là 15.000.000đồng; số 2.778kg cà phê còn lại bà đã thanh toán xong cho bà Trĩ Ngày 08-11-2002, bà Trĩ ứng kế toán của bà (anh Nguyễn Phi Hùng) 10.000.000 đồng và hẹn sau 3 ngày sẽ giao cà phê với giá 9.450đ/kg; ngày 15-01-2003 bà Trĩ ứng tiếp 20.000.000đồng, ngày 16-01-2003 ứng 10.000.000đồng; tổng cộng bà Trĩ ứng của bà 40.000.000 đồng tương đương 4.000kg cà phê, nhưng đến nay chưa trả cà phê cho bà Bà có gọi yêu cầu bà Trĩ ra trả tiền nhưng bà Trĩ không ra; sau đó, bà Trĩ nói với bà là đã làm mất giấy gửi kho số cà phê 10 tấn, nên bà cũng không đòi nữa Nay bà Trĩ lấy phiếu gửi kho kiện đòi bà 10 tấn cà phê đã gửi thì bà không chấp nhận vì đã giải quyết xong rồi; bà yêu cầu bà Trĩ phải trả cho bà 4 tấn cà phê tương đương với 40.000.000 đồng đã ứng (có lúc bà Sang khai số tiền 10.000.000đồng quy cà phê

là 1.058,2kg (giá 9.450/kg) và 30.000.000đồng quy cà phê giá 10.500đ/kg, tổng cộng là 3.915kg cà phê nhân xô RII 5%

Trang 6

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2006/DSST ngày 25-9-2006, Tòa án sơ thẩm quyết định:

- Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hồ Thị Trĩ.

- Buộc bà Nguyễn Thị Kim Sang phải có trách nhiệm trả cho bà Hồ Thị Trĩ 10.000kg cà phê nhân RII 5%.

- Chấp nhận đơn khởi kiện phản tố của bà Nguyễn Thị Kim Sang.

- Buộc bà Hồ Thị Trĩ phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Kim Sang 68.000.000đ (trong đó: gốc 40.000.000đ, lãi là 28.000.000đ) Quy ra cà phê tại thời điểm xét xử là 21.500/kg = 3.162,8 kg cà phê nhân RII 5% và 2.857kg cà phê nhân RII 5%, được cấn trừ vào số cà phê bà Sang phải trả Như vậy, bà Nguyễn Thị Kim Sang còn phải trả bà Hồ Thị Trĩ 3.980kg cà phê nhân RII 5%.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự

Ngày 05-10-2006, bà Sang có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 19/2007/DSPT ngày 14-3-2007, Tòa án phúc thẩm quyết định:

- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim Sang Sửa bản án dân sự sơ thẩm.

Buộc bà Nguyễn Thị Kim Sang phải trả cho bà Trĩ 3.563,5kg cà phê nhân

xô RII 5%.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Sang có đơn khiếu nại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên

YÊU C ẦU ĐỐI VỚI NH ÓM

Nhận xét về quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và quyết định của Tòa

án cấp phúc thẩm Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với từng nhận xét.

Nêu cách giải quyết của nhóm đối với tình huống nêu trên Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với cách giải quyết của nhóm.

Đưa ra nhận xét, đánh giá về quy định của pháp luật hiện hành được

áp dụng đối với tình huống nêu trên.

4 Tình hu ống thứ tư

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Trĩ sinh năm 1968

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Sang sinh năm 1956.

Trang 7

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22-11-2005 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Hồ Thị Trĩ trình bày:

Bà Nguyễn Thị Kim Sang là chủ doanh nghiệp tư nhân chuyên mua bán nông sản (cà phê) Ngày 22-01-2002, bà gửi tại kho của bà Sang 10.000kg cà phê nhân xô; theo như thỏa thuận khi nào có nhu cầu thì bà lấy cà phê hoặc lấy tiền quy theo giá thị trường tại thời điểm rút tiền Ngày 25-01-2002, bà có ứng của bà Sang 40.000.000đ, thời điểm đó giá cà phê là 4.250đ/kg Từ đó đến nay, bà nhiều lần ra yêu cầu bà Sang tính tiền cà phê cho bà, nhưng bà Sang không tính mà đã trừ vào

số cà phê bà đã gửi Nay bà yêu cầu bà Sang trả cho bà 10.000kg số cà phê mà bà gửi tại kho của bà Sang theo giá 18.000đ/kg Đối với số tiền ứng trước của bà Sang thì bà sẽ trả và đồng ý chịu lãi suất 1,4%/tháng

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim Sang trình bày: Bà kinh doanh làm đại lý mua

bán cà phê; từ ngày 19 đến ngày 21-01-2002, bà Trĩ đã gửi vào kho của bà 3 lô hàng với tổng số lượng là 10.000kg cà phê nhân RII 5% Ngày 25-01-2002, bà Trĩ

ứng của bà 40.000.000đ tương đương với 10 tấn cà phê (thời điểm đó giá

4.250đ/kg)

Đối với 10 tấn cà phê bà Trĩ gửi trong kho: ngày 22-02-2002 bà Trĩ cắt bán cho bà 5.000kg giá 5.000đ/kg thành tiền là 25.000.000đồng; ngày 12-5-2002 bà Trĩ bán tiếp cho bà 2.222kg giá 6.750đ/kg thành tiền là 15.000.000đồng; số 2.778kg cà phê còn lại bà đã thanh toán xong cho bà Trĩ Ngày 08-11-2002, bà Trĩ ứng kế toán của bà (anh Nguyễn Phi Hùng) 10.000.000 đồng và hẹn sau 3 ngày sẽ giao cà phê với giá 9.450đ/kg; ngày 15-01-2003 bà Trĩ ứng tiếp 20.000.000đồng, ngày 16-01-2003 ứng 10.000.000đồng; tổng cộng bà Trĩ ứng của bà 40.000.000 đồng tương đương 4.000kg cà phê, nhưng đến nay chưa trả cà phê cho bà Bà có gọi yêu cầu bà Trĩ ra trả tiền nhưng bà Trĩ không ra; sau đó, bà Trĩ nói với bà là đã làm mất giấy gửi kho số cà phê 10 tấn, nên bà cũng không đòi nữa Nay bà Trĩ lấy phiếu gửi kho kiện đòi bà 10 tấn cà phê đã gửi thì bà không chấp nhận vì đã giải quyết xong rồi; bà yêu cầu bà Trĩ phải trả cho bà 4 tấn cà phê tương đương với 40.000.000 đồng đã ứng (có lúc bà Sang khai số tiền 10.000.000đồng quy cà phê

là 1.058,2kg (giá 9.450/kg) và 30.000.000đồng quy cà phê giá 10.500đ/kg, tổng cộng là 3.915kg cà phê nhân xô RII 5%

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2006/DSST ngày 25-9-2006, Tòa án sơ thẩm quyết định:

- Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hồ Thị Trĩ.

- Buộc bà Nguyễn Thị Kim Sang phải có trách nhiệm trả cho bà Hồ Thị Trĩ 10.000kg cà phê nhân RII 5%.

- Chấp nhận đơn khởi kiện phản tố của bà Nguyễn Thị Kim Sang.

- Buộc bà Hồ Thị Trĩ phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Kim Sang 68.000.000đ (trong đó: gốc 40.000.000đ, lãi là 28.000.000đ) Quy ra cà phê tại thời điểm xét xử là 21.500/kg = 3.162,8 kg cà phê nhân RII 5% và 2.857kg cà phê

Trang 8

nhân RII 5%, được cấn trừ vào số cà phê bà Sang phải trả Như vậy, bà Nguyễn Thị Kim Sang còn phải trả bà Hồ Thị Trĩ 3.980kg cà phê nhân RII 5%.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự

Ngày 05-10-2006, bà Sang có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 19/2007/DSPT ngày 14-3-2007, Tòa án phúc thẩm quyết định:

- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim Sang Sửa bản án dân sự sơ thẩm.

Buộc bà Nguyễn Thị Kim Sang phải trả cho bà Trĩ 3.563,5kg cà phê nhân

xô RII 5%.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Sang có đơn khiếu nại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên

YÊU C ẦU ĐỐI VỚI NH ÓM

Nhận xét về quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và quyết định của Tòa

án cấp phúc thẩm Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với từng nhận xét.

Nêu cách giải quyết của nhóm đối với tình huống nêu trên Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với cách giải quyết của nhóm.

Đưa ra nhận xét, đánh giá về quy định của pháp luật hiện hành được

áp dụng đối với tình huống nêu trên.

5 Tình hu ống thứ năm

Nguyên đơn: Bà Mai Lan Phượng, sinh năm 1963.

Bị đơn: Bà Mai Thủy Tiên, sinh năm 1967.

Theo đơn khởi kiện ngày 03/7/2006 của bà Mai Lan Phượng cùng các tài liệu khác thể hiện; căn nhà 107/6 Phạm Ngũ Lão thuộc quyền sở hữu của bà Mai Lan Phượng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời số 245/GCN-RĐ ngày 19/01/1993 của Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp

Trước đó vào ngày 26/6/1992 bà Phượng cùng chồng là ông Phạm Hồng

Ân có ký văn tự ủy quyền 1/2 căn nhà cho em ruột là bà Mai Thủy Tiên Theo họa

đồ vị trí ngày 26/6/1992 thì phần ủy quyền cho bà Tiên diện tích là 17m2 Ngày 14/7/1992 bà Phượng xin cấp số nhà cho phần nhà bà ủy quyền cho bà Tiên là số

Trang 9

107 Phạm Ngũ Lão Sau khi làm những giấy tờ trên bà Tiên là người kê khai đóng thuế theo quy định (bà Phượng không kê khai đóng thuế phần này) Năm 2003 căn nhà 107/6A Phạm Ngũ Lão được xây dựng mới như hiện nay Bà Phượng cho rằng bà có ủy quyền cho em bà phần nhà 107/6A Phạm Ngũ Lão nhưng chỉ ủy quyền cho ở, nay bà đã đăng ký quyền sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho căn nhà 107/6 và 107/6A nhưng bà Tiên không đồng ý nên bà đòi lại phần nhà đã uỷ quyền cho bà Tiên Nay bà yêu cầu Tòa án hủy bỏ tờ ủy quyền ngày 26/6/1992

và đồng ý để cho bà Tiên sử dụng phần trệt cho đến khi bà Tiên không có nhu cầu nữa, bà trả lại những khoản tiền mà bà Tiên đã đóng thuế từ năm 1992 cho đến nay và bà đồng ý hỗ trợ cho bà Tiên 84.260.000đ

Bị đơn, bà Mai Thủy Tiên xác định bà Phượng đã ủy quyền cho bà 1/2 căn nhà 107/6 (nay có số tạm là 107/6A Phạm Ngũ Lão) Bà đã nhận nhà và kê khai đóng thuế theo quy định của pháp luật từ năm 1992 đến nay Năm 2003 bà có giao cho bà Phượng 200.000.000đ để xây mới căn nhà 107/6A (vì là chỗ chị em ruột nên không làm giấy tờ) Trong quá trình xây nhà bà Phượng trực tiếp kêu thợ, mua vật tư xây nhà Nay bà xác định căn nhà 107/6A Phạm Ngũ Lão thuộc sở hữu của bà nhưng do không am hiểu pháp luật nên bà chưa đăng ký sở hữu nhà theo quy định của pháp luật nên bà không đồng ý với yêu cầu của bà Phượng

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Hồng Ân là chồng của

bà Mai Lan Phượng xác định: căn nhà 107/6 Phạm Ngũ Lão là tài sản riêng của bà Phượng, do không hiểu biết nên vào ngày 26/6/1992 ông cùng vợ ký vào văn tự ủy quyền nhà cho bà Tiên Nay việc giải quyết vụ kiện như thế nào là tùy bà Phượng ông không có tranh chấp

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 196/2007/DSST ngày 13/4/2007, Tòa án sơ thẩm quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.

- Hủy bỏ văn tự ủy quyền nhà do các bà Mai Lan Phượng, Mai Thủy Tiên

và ông Phạm Hồng Ân ký ngày 26/6/1992.

- Bác yêu cầu của bà Mai Thủy Tiên đòi sở hữu 1/2 căn nhà 107/6 (số tạm 107/6A) Phạm Ngũ Lão Phần nhà có diện tích 17,6m 2

- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phượng đồng ý hỗ trợ cho bà Tiên 84.260.000đ (tám mươi tư triệu hai trăm sáu mươi nghìn) Thời hạn cuối cùng để giao tiền là 13/10/2007, thực hiện tại Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm bà Tiên kháng cáo

Trang 10

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 625/2007/DSPT ngày 14/6/2007, Tòa án phúc thẩm quyết định sửa một phần nội dung bản án sơ thẩm

Hủy bỏ văn tự ủy quyền nhà do các bà Mai Lan Phượng, Mai Thủy Tiên và ông Phạm Hồng Ân ký ngày 16/6/1992.

Bác yêu cầu của bà Mai Thủy Tiên đòi sở hữu 1/2 căn nhà 107/6 (số tạm 107/6A) Phạm Ngũ Lão Phần nhà có diện tích 17,6m 2

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phượng đồng ý hỗ trợ cho bà Tiên 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) được thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật Trong đó 84.260.000đ phải được thi hành xong chậm nhất vào ngày 13/10/2007, số tiền còn lại 15.740.000đ được thi hành xong chậm nhất vào ngày 14/6/2008.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phượng đồng ý cho bà Mai Thủy Tiên được

sử dụng phần trệt của căn nhà 107/6A Phạm Ngũ Lão cho đến khi không có nhu cầu nữa.

Buộc bà Phượng trả cho bà Tiên số tiền là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) theo biên lai ngày 28/4/2003 của Kho bạc Nhà nước quận Gò Vấp ngay sau khi không có nhu cầu nữa.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Mai Thủy Tiên có đơn khiếu nại đề nghị xem xét bản án phúc thẩm nêu trên theo trình tự giám đốc thẩm

YÊU C ẦU ĐỐI VỚI NH ÓM

Nhận xét về quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và quyết định của Tòa

án cấp phúc thẩm Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với từng nhận xét.

Nêu cách giải quyết của nhóm đối với tình huống nêu trên Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với cách giải quyết của nhóm.

Đưa ra nhận xét, đánh giá về quy định của pháp luật hiện hành được

áp dụng đối với tình huống nêu trên

6 Tình hu ống thứ s áu

Nguyên đơn: Ông Trương Ngọc Sung, sinh năm 1946.

Bị đơn: Bà Bùi Thị Hạnh, sinh năm 1942.

Ngày đăng: 16/08/2022, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w