1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THỬ NGHIỆM TÍNH CHẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

23 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 521,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương nàychủ yếu mô tả các quy trình thử nghiệm theo tiêu chuẩn ISO … Ngày nay, có nhiều cách thử nghiệm tính chất cơ lý của giấy và giấy bìa có thể được thực hiện ngay trêndây chuyền n

Trang 1

Chương 7 Những tính chất cơ lý của giấy và giấy bìa

Các tính chất liên quan tới sản phẩm đầu cuối của giấy và giấy bìa:

-Các tính chất quang học (được đề cập trong chương 8 của quyển này)

Có nhiều phương pháp khác nhau để đo các tính chất này Cơ sở vật lý về giấy của đa số các PP này đều

đã được mô tả kỹ trong Q.16, Lý tính của giấy Bên cạnh đó, các chi tiết kỹ thuật quan trọng về quy trìnhthử nghiệm ở những bộ PP tiêu chuẩn khác nhau cũng đã được mô tả đầy đủ Do đó, chương này chỉ bàn

về những nguyên tắc chính yếu được sử dụng trong những quy trình thử nghiệm phổ biến vốn dĩ là điềuquan trọng cần biết khi muốn chọn những PP chính xác hay muốn cân nhắc mối tương quan giữa chúngvới nhu cầu thử nghiệm Phần này chỉ tập trung vào các PP được dùng để mô tả các chủng loại giấy vàbìa Những quy trình thử nghiệm liên quan đến sản phẩm đầu cuối sẽ được bàn trong chương 9&10.Kèm theo đây là bảng tóm tắt các bộ tiêu chuẩn thử nghiệm như ISO, SCAN, TAPPI, CEN Chương nàychủ yếu mô tả các quy trình thử nghiệm theo tiêu chuẩn ISO (…)

Ngày nay, có nhiều cách thử nghiệm tính chất cơ lý của giấy và giấy bìa có thể được thực hiện ngay trêndây chuyền nhằm mục đích quản lý quá trình sản xuất Có nhiều quy trình thử nghiệm tự động giúp tăngnăng suất thử nghiệm Đa phần các hệ thống thử nghiệm giấy này đều ứng dụng cùng những nguyên tắcxét nghiệm cơ bản dùng trong những phòng thí nghiệm bình thường nhất Do đó chúng không được nêu

Trang 2

Điều quan trọng cần nhớ là một mẫu đại diện phải dựa trên một khối lượng tối thiểu có thể lấy được nào

đó của chuyến hàng vào thời điểm lấy mẫu Theo tập quán thương mại thì con số tối thiểu này thường là50%

Quan hệ giữa quy trình thủ tục và độ tin cậy của kết quả thử nghiệm được trình bày trong chương 13 củaquyển sách này

Từ mỗi cuộn giấy được lấy mẫu, người ta cắt ra vài tờ giấy với kích thước nhỏ nhất là 300mmx450mm.Xáo trộn thật kỹ những tờ giấy này và dùng chúng thành một mẫu là để bảo đảm tính ngẫu nhiên của việclấy mẫu

Việc thực hiện các thí nghiệm tính chất giấy theo yêu cầu sẽ được tiến hành trên các tờ giấy mẫu này Đốivới những trường hợp thử nghiệm có yêu cầu quan trọng đối với hướng của những miếng giấy thì phải cắtchúng theo các yêu cầu tiên quyết của quá trình thử nghiệm Những miếng giấy được cắt ra để thủ nghiệm

độ kéo căng có bề rộng 15mm với sai số 1mm sẽ cho kết quả thử nghiệm có sai số là 7%

7.1.2 Điều kiện thử nghiệm

Điều kiện tiên quyết quan trọng nhất trong thử nghiệm tính chất giấy là yêu cầu đối với môi trường tiếnhành thử nghiệm độ ẩm của giấy Vì bản thân xơ sợi gỗ đã có tính hút ẩm nên giấy cũng dễ dàng hút ẩm

từ môi trường xung quanh hoặc nhả ẩm ra nếu như môi trường khô hơn độ ẩm ổn định của giấy Ẩm độcủa giấy ảnh hưởng lên hầu như toàn bộ các tính chất cơ lý Do đó cần phải đưa các mẫu giấy vào nhữngđiều kiện nghiêm ngặt trước khi xét nghiệm

Theo ISO 187, điều kiện khí hậu cho phép là 50 ± 2% RH and 23 ± 1°C Ở các nước nhiệt đói các giớihạn cho phép là 65% RH và 27°C Ngày xưa, mức phổ biến là 65% RH và 20°C, nhưng bây giờ thì khôngcho phép như thế nữa (LND: RH: relative humidity: độ ẩm tương đối, là lượng hơi nước có trong khôngkhí được thể hiện dưới dạng %, đó là lượng tối đa có thể có trong cùng điều kiện nhiệt độ)

(theoHTUhttp://www.neenahpaper.com/GlossaryUTH)

Thời lượng thông thương để giấy ổn định ít nhất là 4 tiếng Thời gian này đủ lâu để xơ sợi gỗ có thể húthoặc thoát hơi ẩm Phần lớn các tính chất của giấy bị thay đổi trong những phút đầu tiên sau khi mẫu giấyđược đưa từ môi trường này sang môi trường khác Hình 1 cho thấy ví dụ về tỷ lệ thay đổi độ nhám bềmặt giấy

Trang 3

H.1 Sự thay đổi độ nhám bề mặt của giấy theo thời gian ổn định môi trường thử nghiệm

Hình 2 cho thấy sự thay đổi độ ẩm của giấy khi độ ẩm tương đối RH của môi trường không khí xungquanh thay đổi

H.2 Mối tương quan độ ẩm với độ ẩm tuơng đối của giấy in báo

Trong hình này cái gọi là hiệu ứng trễ thể hiện khá rõ Có nghĩa là, độ ẩm của giấy biến thiên theo một độ

ẩm tương đối cho trước nào đó thì phụ thuộc vào mặt giấy nào đạt đến cân bằng Nếu giấy được đưa vềđiều kiện 50% RH ở mặt khô, thì độ ẩm của nó sẽ thấp hơn khoảng 1% nếu cân bằng đạt tới ở mặt ẩm (có

độ ẩm tương đối RH cao hơn) Điều này sẽ ảnh hưởng tới các thông số về tính chất cơ lý đo được Do đó,

để công tác thử nghiệm giấy có được sự cẩn trọng cần thiết, người ta không chỉ quan tâm đến điều kiệnmôi trường thử nghiệm mà còn đến chiều hướng mà ở đó giấy đạt được cân bằng độ ẩm thỏa mức tiêuchuẩn hóa (xem thêm chương 7, quyển 16 về quan hệ giữa độ ẩm tương đối của không khí với ẩm độ củagiấy)

Trang 4

Vì giấy là loại vật liệu có tính đàn hồi, nên nhiệt độ có ảnh hưởng tới kết quả thử nghiệm Trên thực tế,ảnh hưởng này cũng không lớn lắm Nguyên nhân để chuẩn hóa về giới hạn nhiệt độ chủ yếu là để duy trì

độ ẩm tương đối trong các tính chất cơ lý

Do kết quả của việc hút ẩm hay nhả ẩm mà các chiều hướng của giấy cũng thay đổi Đối với nhiều tìnhhuống sử dụng thành phẩm đầu cuối thì đây là một thông số quan trọng Tính ổn định theo chiều của giấythì được xác định bằng cách đo chiều dài của băng giấy thử nghiệm sau khi đã ổn định được điều kiệnnhiệt độ ở những mức độ ẩm tương đối khác nhau, theo SCAN-P28

Cũng nên lưu ý là, có m ột số tính chất cơ lý của giấy bị trở lại như lúc đầu khi điều kiện không khí thayđổi, và một số tính chất khác thì thay đổi theo kiểu khác hẳn với ban đầu Các tính chất về độ bền củagiấy thường thay đổi theo kiểu trở lại như lúc đầu, có thể với đôi chút độ trễ Các tính chất liên quan tớicấu trúc và chắc chắn là các tính chất bề mặt thì thay đổi theo kiểu khác hẳn với ban đầu khi độ ẩm tươngđối của môi trường xung quanh thay đổi Điều này có nghĩa là, một mẫu giấy mà đã được để trong môitrường độ ẩm tương đối RH cao sẽ có độ nhám bề mặt cao Giá trị này sẽ không bị giảm trở lại nếu nhưmẫu giấy được đưa về môi trường không khí khô hơn Đối với độ bóng và độ hút ẩm cũng vậy Sự phụthuộc của tính chất cơ lý của giấy vào độ ẩm của nó và vào quá trình thay đổi ẩm độ có nghĩa là khi làmthử nghiệm các tính chất cơ lý của giấy và bột giấy phải hết sức chú trọng tới điều kiện thử nghiệm Nếukhông, kết quả thu được sẽ bị giới hạn

Bất kỳ loại giấy hay giấy bìa nào cũng có các tính chất căn bản là độ ẩm, định lượng, độ dày, mật độ, độxếp chặt và thành phần chất độn Đó là những đặc điểm mô tả rất quan trọng của giấy Vì trao đổi thươngmại giấy và giấy bìa đều dựa trên khối lượng, nên định lượng là mối quan hệ giữa cân nặng của vật liệuvới bề mặt của nó Bên cạnh định lượng còn có độ dày và mật độ cũng là những chỉ tiêu quan trọng vềbản chất của cấu trúc giấy

Xác định độ ẩm của giấy chỉ đơn giản là cân mẫu giấy trước và sau khi sấy ở nhiệt độ 105 ± 2°C, ISO

287 Cần duy trì thời gian sấy đủ mức cần thiết để đạt được trọng lượng cố định Độ ẩm được biểu diễndưới dạng % của khối lượng của mẫu ẩm

Định lượng là khối lượng trên một đơn vị diện tích của giấy và giấy bìa, được biểu diễn thành g/m2 Việc

xác định định lượng bao gồm động tác cân một miếng giấy có diện tích biết trước, ISO 536 Miếng giấyxét nghiệm có diện tích ít nhất là 500cm2, thường là 200 x250 mm, với sai số cắt cho phép là ± 0.5 mm

Nói về độ dày của giấy, người ta thường dùng đơn vị mm Thiết bị sử dụng là máy đo độ dày của một tờ

giấy hay nhiều tờ giấy được ép với lực nén cho trước tạo bởi hai đĩa đặt song song Lực nén thường được

ưa dùng là 100 kPa, ISO 534

Do bởi giá trị nhận được cho một tờ giấy riêng lẻ phụ thuộc vào việc quá trình đo đã sử dụng một haynhiều tờ giấy nên cần phân biệt rõ sự khác biệt giữa hai giá trị này Để đo độ dày của một tờ riêng lẻ thì rõrang là phải dùng một tờ riêng biệt, nhưng độ dày xếp chặt là giá trị độ dày trung bình của một tờ đo được

từ một xấp nhiều tờ Do có nhiều thay đổi và tính chịu nén của giấy, và tính không bất biến của các tínhchất bề mặt của giấy nên giá trị độ dày xếp chặt thường nhỏ hơn giá trị độ dày của một tờ giấy riêng lẻ

Trang 5

Việc sử dụng giá trị độ dày theo những trường hợp cụ thể thì phụ thuộc vào mục đích sử dụng kết quả Độdày tờ giấy riêng lẻ thường có liên quan tới một hoàn cảnh sử dụng thành phẩm, như công tác in ấn chẳnghạn Độ dày xếp chặt là độ dày cuối cùng của quyển sách được làm từ tờ giấy ta đang xét.

Mật độ biểu kiến là khối lượng trên một đơn vị thể tích của giấy hay giấy bìa được tính theo tỷ số giữa

định lượng và độ dày, đơn vị tính là kg/mP

3

P, đôi khi là g/cmP

3

P.Theo ISO 534, mật độ còn được gọi là mật độ xếp chặt biểu kiến dựa trên độ dày xếp chặt, hay là mật độbiểu kiến dựa trên độ dày của tờ giấy riêng lẻ

Độ xếp chặt là nghịch đảo của mật độ:

(1)

Do bởi các yêu cầu về tính chất của giấy khi sử dụng thành phẩm thường có liên quan tới yếu tố mật độcủa giấy càng thấp càng tốt nên các nhà sản xuất giấy và khách hàng thường thích dùng độ xếp chặt như

là một tính chất đại diện cho mật độ

Xác định thành phần chất độn của giấy bao gồm việc đốt mẫu ở nhiệt độ 900°C, ISO 2144, hay thườngđược dùng ở 525°C nếu như thành phần chất độn có chứa CaCO3 vốn dĩ sẽ bị phân huỷ ở nhiệt độ cao,theo TAPPI T211 Từ các kết quả xét nghiệm tro sẽ tính được thành phần chất độn theo phương pháp củaPutz được mô tả trong chương 4 của quyển này

Giấy được xeo bằng máy có một đặc trưng là số xơ sợi nằm theo hướng máy xeo luôn nhiều hơn xơ sợinằm ngang Tính bất đẳng hướng này torng cấu trúc giấy thường được đề cập đến dưới tên gọi khác là

hướng xơ sợi, hay là chiều của giấy Tính chất này ảnh hưởng rất nhiều lên các tính chất cơ lý mà vốn dĩ

đã khác nhau theo những hướng khác nhau của tờ giấy Khi báo cáo kết quả, luôn phải chú ý ghi rõ hướngcủa thao tác thử nghiệm so với hướng tờ giấy

Tùy theo công nghệ sản xuất mà giữa hai mặt của tờ giấy cũng có khác biệt Sự khác biệt tính chất bề mặtcủa hai mặt tờ giấy có thể rất lớn Do đó, nên đo và báo cáo các tính chất này riêng rẽ theo từng mặt

Trang 6

-Độ bền kéo zero-span

-Độ bền theo hướng z

Để hiểu rõ hơn về lý thuyết nền tảng của các tính chất này xin xem quyển 16 – các tính chất của giấy

7.3.1 Độ bền kéo

Độ bền kéo là một tính chất rất hữu ích để mô tả độ bền nói chung của bất kỳ vật liệu nào Đối với giấy,

đó là lực tác động tối đa lên một đơn vị chiều dài, theo hướng song song với chiều dài mà một băng giấy

có thể chịu được cho đến khi đứt lìa Khi đó có thể làm nhiều thử nghiệm với tỷ lệ không đổi của lực tácđộng, theo ISO 1924-1; hoặc với tỷ lệ không đổi của độ dãn đối với lực tác động, theo ISO 1924-2.Trong thử nghiệm độ bền kéo, mẩu giấy thủ nghiệm được kéo cho tới khi bị đứt lìa Ghi nhận lại lực kéotối đa mà băng giấy có thể chịu được cho tới khi đứt lìa và độ dãn tương ứng của băng giấy Đơn vị đo làkN/m Từ đó có thể tính được chỉ số kéo căng theo công thức dưới đây:

Đơn vị của chỉ số kéo căng là Nm/g

Giá trị chỉ số kéo căng liên quan tới độ bền của khối vật liệu chịu tải Do đó, chỉ số kéo căng chủ yếuđược dùng để mô tả độ bền của bột Đối với giấy thì dùng độ bền kéo Lý do là giấy là loại thành phẩm sửdụng đầu cuối mà độ bền kéo là một tính chất quan trọng

Độ dãn hay độ dài băng giấy lúc bị đứt là độ gia tăng chiều dài của băng giấy cho tới khi đứt lìa, đượcdiễn tả dưới dạng % so với chiều dài ban đầu Đối với đa số các loại giấy thì độ dãn thường là 1-5%,nhưng cũng có thể cao hơn 20% đối với một số loại giấy vệ sinh

Công tác thử nghiệm độ kéo căng là để đo lực tác động khiến băng giấy bị dãn ra Nếu thiết bị thử nghiệm

có bộ phận ghi nhận như trong các phòng thí nghiệm hiện đại thì đường cong của độ dãn chịu tải (độ kéocăng) sẽ được tự động vẽ ra Bên cạnh lực tác động tối đa gây ra lực căng của băng giấy và độ dãn, mộtđường cong như thế cũng cho biết năng lượng hấp thụ lực căng Đây chính là động tác cần để làm đứtbăng giấy Về mặt toán học, độ hấp thụ năng lượng căng W được định nghĩa như sau: (xem hình 3) trong

đó F là lực tác động, và l là độ dãn tương ứng

(3)

H.3 Đo độ bền kéo của giấy

Trang 7

Đơn vị của độ hấp thu năng lượng kéo là J/m2 Phép tính toán ứng suất của độ đàn hồi cũng sử dụngđường cong của độ dãn do lực tác động Nó phản ảnh độ dốc cực đại của đường cong này (phần gạch xéo)như trong hình 3 Một khái niệm rất gần gũi nữa là độ dòn căng Hình 3 minh họa cách tính độ bền căng,chỉ số bền căng, độ dãn, ứng suất đàn hồi và độ dòn căng từ một đường cong dãn-do-lực (kéo- căng) củagiấy.

(4)

(5)

(6)

(7)

Trang 8

Trong đó w là định lượng

b là chiều rộng của băng giấy thử nghiệm

t: độ dày của băng giấy thử nghiệm

lB 0 B: chiều dài lúc ban đầu của băng giấy thử nghiệm

Độ bền căng phụ thuộc rất nhiều vào chiều của giấy Độ bền căng đo được theo các hướng khác nhau của

tờ giấy thường được dùng như một chỉ báo về định hướng của xơ sợi Có đôi khi trong thử nghiệm độ bềncăng người ta dùng những mẩu giấy được tẩm một chất lỏng nào đó, như nước chẳng hạn, theo ISO

3781 Giá trị độ bền ướt này cho thấy sự bảo lưu độ bền của giấy sau khi bị ướt

Độ bền ướt của giấy thì khác với độ bền ướt ban đầu của băng giấy ướt vốn là độ bền kéo của băng giấyướt trước khi tham gia vào chu trình sấy đầu tiên Đây là giá trị độ kéo căng của tờ giấy trong phòng thínghiệm với một thành phần chất lỏng nào đó hay ở những thành phần chất lỏng nhận được trong quy trìnhkhử nước tiêu chuẩn; nó là tính chất của bột hay nguyên liệu phối chế có liên quan tới khả năng vận hànhcủa máy xeo, theo SCAN-C31 và C-35

7.3.2 Độ chịu bục

Độ chịu bục là sức ép tối đa mà tờ giấy có thể chịu được trước khi rách khi bị tác động theo phương thẳnggóc với mặt phẳng ngang của miếng giấy thử nghiệm Đơn vị đo độ chịu bục là kilopascal, kPa Việc tínhtoán dùng công thức sau:

Chỉ số chịu bục được biểu diễn bằng kPa x m2/g

Cách đo được nêu trong ISO 2758 , đối với giấy bìa là ISO 2759

Độ chịu bục là một thông số thử nghiệm đã cũ, việc tiến hành đo cũng đơn giản và nhanh chóng, không

cần cắt mẫu giấy cho chính xác Ngoài ra nó cũng không liên quan gì tới chiều tờ giấy Thử nghiệm độchịu bục đã đư ợc phát triển dựa trên kinh nghiệm chứ chưa được định nghĩa chính xác theo thuật ngữ vật

lý học Tuy nhiên độ chịu bục cũng có tương quan về mặt toán học và vật lý học với độ bền căng và độdãn của giấy

Trang 9

Độ hấp thu năng lượng bục là một thống số liên quan khác; đó là độ chịu bục tác động trên một đơn vị

diện tích giấy hay giấy bìa khi bị kéo cho tới lúc rách

Phương pháp đo độ chịu bục phổ biến nhất là PP Mullen Người ta đặt miếng giấy thử nghiệm lên mộtmàng đàn hồi rồi kẹp chặt ở xung quanh rìa nhưng vẫn phồng cách xa màng Lực ép thủy tĩnh gia tăngbằng cách bơm theo mức không đổi cho màng phồng lên cho tới khi miếng giấy thử nghiệm bị rách Độchịu bục của miếng giấy là giá trị tối đa của lực ép thủy tĩnh đã đư ợc dùng để tác động Bản thân thiết bị

đo và nhất là máy áp kế đều rất nhạy nên thường cho kết quả ít đáng tin cậy Đối với các thiết bị hiện đại,những áo kế này được hay bằng bộ chuyển đôi áp kế điện tử nên chính xác hơn nhiều

7.3.3 Độ bền xé, sức kháng xé nội bộ

Độ bền xé hay sức kháng xé nội bộ là lực tác động cần có để tiếp tục xé tờ giấy ra từ mẩu cắt ban đầutrong một tờ giấy riêng lẻ, theo ISO 1974, hay trong một xấp nhiều tờ giấy Nếu vết cắt này là theo chiềumáy xeo thì kết quả là độ bền xé hướng xeo Tương tự, độ bền xé theo hướng ngang là kết quả của thửnghiệm xé theo hướng ngang máy xeo Độ bền xé phụ thuộc rất nhiều vào tính định hướng của xơ sợitrong tờ giấy Hình 4 cho thấy nguyên lý của thử nghiệm xé

Đơn vị của độ bền xé là Newton (N) hay milinewton (mN)

Từ độ bền xé, có thể tính được chỉ số xé theo công thức (9) như sau:

Trang 10

Máy đo độ bền xé ghi nhận lực cần đế gây ra sự rách toạc Nếu độ dài của vết xé không đổi thì giá trịnhận được là một phần trực tiếp của độ bền xé (lực xé chia cho tổng chiều dài bị xé).

PP đo độ bền xé thường dùng nhất là kiểu Elmendorf được mô tả trong ISO 1974 Đây là một con lắc tácđộng lực xé bằng cách di chuyển trong một mặt phẳng thẳng góc với mặt phẳng ban đầu của mảnh giấythử nghiệm Lực tác động làm rách giấy được đo bằng sự tiêu hao thế năng của con lắc Để nhận đượccon số đọc trên mặt đồng hồ của thiết bị, trọng lượng con lắc hay số tờ giấy bị rách cùng lúc có thể thayđổi (số tờ giấy bị rách thường là 4) Có khi người ta dùng phương pháp kết hợp, chẳng hạn như, Marx-Elmendorf

Dù cho điều kiện thử nghiệm có khác nhau, kết quả cuối cùng vẫn thể hiện độ bền xé hay chỉ số xé tương

tự nhau bất chấp điều kiện thử nghiệm

Tiêu chuẩn DIN 53155 của Đức mô tả việc dùng PP Bretch-Imset để đo độ bền xé bằng cách đo tác độnglan truyền của một cú xé đôi từ những vết cắt ban đầu trong một tờ giấy riêng lẻ

Độ bền xé tối thiểu cũng phụ thuộc các yếu tố sau:

-độ dài xơ sợi

-độ bền xơ sợi

-mức độ liên kết giữa các xơ sợi

-mức độ định hướng của xơ sợi trong tờ giấy

Xơ sợi càng dài và càng bền chắc thì độ chịu xé càng cao Ở những mức liên kết xơ sợi thấp thì độ chịu

xé tăng theo độ liên kết xơ sợi Với những mức liên kết xơ sợi cao hơn thì độ bền chắc của sợi xơ quyếtđịnh độ bền xé Độ bền xé có liên quan với độ chịu đập của bột hoặc là với độ bền kéo, do đó luôn luônvượt qua ngưỡng tối đa Độ liên kết xơ sợi mà ở đó xảy ra độ bền xé cực đại đối với bột gỗ cứng xớ ngắnthì cao hơn với bột gỗ mềm xớ dài

Phương pháp thử nghiệm kể trên bị chỉ trích vì các lý do sau:

-Chỉ đo lực tác động xé liên tục xuất phát từ một vết cắt ban đầu Trong thực tế, khi một băng giấy ướt bịđứt thì thường không thể tồn tại một vết cắt ban đầu như thế

-Thiết bị thử nghiệm dùng lực xé theo phương vuông góc với mặt phẳng tờ giấy Trong thực tế, các lực xétác động lên mặt phẳng tờ giấy có thể có nhiều hướng khác cũng cần được quan tâm

Đã có nhiều nghiên cứu để phát triển các phương pháp khác có cân nhắc tới những hạn chế này Thực tế

là, nhiều nỗ lực đã bỏ ra để phát triển các PP có sử dụng những tình huống trong đó vết xé bắt đầu từ mộtrìa vết cắt rõ ràng Điều này đã được đưa vào trong những PP mới được đề nghị gần đây như:

-độ xé- trong- mặt

-độ kháng đứt

-độ kháng rách rìa

Trang 11

-độ nhám vết đứt

Trong tất cả các PP này thì lực tác động đều theo hướng song song với mặt phẳng tờ giấy

Trong cách thử nghiệm độ xé- trong- mặt và độ kháng đứt, lực tác động song song với mặt phẳng của một

tờ giấy khổ rộng Trong PP đầu, những má kẹp thì không song song mà lệch nhau 2 x 6° trước khi lực xéđược tác động Trong PP đo độ kháng đứt, góc này bằng zero, nên các má kẹp song song nhau ngay từđầu Trong cả hai trường hợp miếng giấy thử nghiệm đều có một vết cắt sẵn ở rìa Hình 5 cho thấy thửnghiệm độ xé- trong-mặt

Ngày đăng: 21/07/2022, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w