1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng quá trình sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu tại công ty cổ phần giấy tissue sông đuống

58 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Thực Trạng Quá Trình Sản Xuất Bột Giấy Từ Giấy Phế Liệu Tại Công Ty Cổ Phần Giấy Tissue – Sông Đuống
Tác giả Phạm Bá Khôi
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Trường học Đại học Lâm nghiệp
Thể loại khóa luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 721,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 (3)
    • 1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu (3)
      • 1.1.1. Lịch sử phát triển của ngành sản xuất giấy và bột giấy (3)
      • 1.1.2. Thực trạng của ngành giấy Việt Nam (4)
      • 1.1.3. Xu hướng phát triển của giấy và bột giấy (5)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (7)
    • 1.3. Nội dung nghiên cứu (7)
    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu (7)
  • Chương 2 (8)
    • 2.1. Khái niệm và quy trình cơ bản của sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu (8)
    • 2.2. Nguyên liệu trong sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu (8)
      • 2.2.1. Chủng loại nguyên liệu (8)
      • 2.2.2. Nguồn gốc, đặc điểm và cách bảo quản nguyên liệu (9)
    • 2.3. Dây chuyền sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu (10)
      • 2.3.1. Quy trình sản xuất bột giấy (10)
      • 2.3.2. Công đoạn chính trong quá trình sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu (10)
  • Chương 3 (28)
    • 3.1. Tổng quan về Công ty giấy Tissue – Sông Đuống (28)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (28)
      • 3.1.2. Cơ cấu tổ chức (28)
      • 3.1.3. Tình hình sản xuất và phát triển của Công ty giấy Tissue – Sông Đuống (29)
    • 3.2. Khảo sát quá trình sản xuất bột giấy tại Công ty giấy Tissue – Sông Đuống (33)
      • 3.2.1. Nguyên liệu (33)
      • 3.2.2. Dây chuyền sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu (34)
      • 3.2.3. Đánh giá chung về hệ thống máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất tại Công ty (50)
      • 3.2.4. Đánh giá về chất lượng nguyên liệu và chất lượng bột giấy (51)
  • Chương 4 (55)
    • 4.1. Kết luận (55)
    • 4.2. Kiến nghị (55)

Nội dung

Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Lịch sử phát triển của ngành sản xuất giấy và bột giấy [1]

Vào năm 105 trước Công Nguyên, người Trung Quốc đã phát minh ra giấy, sử dụng nguyên liệu chủ yếu từ vỏ cây dâu và sợi cây đay, với phương pháp sản xuất thủ công Qua thời gian, tre trúc cũng được đưa vào quy trình sản xuất giấy, cải thiện chất lượng và độ bền của sản phẩm.

Nghề sản xuất giấy được giới thiệu tại Triều Tiên vào năm 348 và Nhật Bản vào năm 610 sau Công Nguyên Từ đó, nghề giấy đã nhanh chóng lan rộng sang các nước Châu Âu, bắt đầu với Italia vào năm 1270, tiếp theo là Pháp vào năm 1380 và Anh sau đó.

1470 Và ở Bắc Mỹ thì phải tới tận những năm 1690 thì nghề giấy mới bắt đầu phát triển ở đây

Sự chuyển biến căn bản của ngành sản xuất giấy và bột giấy bắt đầu với việc phát minh ra máy nghiền bột cơ học (Beater) vào năm 1750 bởi một nhà khoa học người Hà Lan Tuy nhiên, phương pháp sản xuất giấy thủ công vẫn tiếp tục tồn tại cho đến khi máy xeo dài (Fourdrinier) được phát minh bởi Louis Robert, một nhà khoa học người Pháp, vào năm 1798 Đây được coi là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử ngành sản xuất giấy toàn cầu.

Ngày nay, nguyên lý sản xuất giấy vẫn giữ nguyên như trước đây, bao gồm các công đoạn chính: từ nguyên liệu thô, trải qua xử lý nguyên liệu, nấu bột, xử lý bột, lên khuôn thảm, ép và sấy thảm, cho đến khi tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.

Ngày nay, nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ngành công nghiệp sản xuất giấy đã cải thiện chất lượng sản phẩm và tăng tốc độ sản xuất Hiện tại, nhiều loại giấy với công dụng và tính năng đa dạng đã được sản xuất.

- Phân loại giấy một cách tổng quan:

Bảng 1.1 Phân loại giấy theo công dụng

Giấy dùng cho văn hóa Giấy viết, giấy vẽ, giấy can

Giấy in In nito, in báo

Giấy bao gói Giấy bao gói nặng (carton, xi măng), giấy bao gói nhẹ (giấy gói thực phẩm)

Bảng 1.2 Phân loại theo định lượng

1.1.2 Thực trạng của ngành giấy Việt Nam [8]

Các doanh nghiệp sản xuất giấy trong nước hiện đang đối mặt với thách thức lớn là giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh so với các sản phẩm giấy nhập khẩu tương tự.

Theo Tổng Công ty Giấy Việt Nam, trong quý IV năm 2008, sản xuất giấy trong nước chỉ đạt 43% so với quý III, với lượng tồn kho lên tới 150.000 tấn dù đã giảm giá bán Cụ thể, trong tháng 12 năm 2008, sản lượng giấy chỉ đạt 31.000 tấn, tương đương 24% so với cùng kỳ năm 2007 và chỉ đạt 24% năng lực sản xuất Nhiều doanh nghiệp nhỏ đã phải ngừng hoạt động, trong khi các doanh nghiệp lớn chỉ duy trì sản xuất ở mức 30-40% công suất.

Thị trường giấy toàn cầu đang trải qua nhiều biến động về giá, ảnh hưởng đến tình hình giá bột giấy Sau nhiều năm tăng cao, vào tháng 6 năm 2008, giá giấy bắt đầu có xu hướng giảm, kéo theo sự giảm giá của bột giấy.

Đến năm 2009, ngành giấy đã bắt đầu phục hồi với việc đưa vào vận hành 5 dây chuyền sản xuất mới, có tổng công suất 190.000 tấn/năm Các dây chuyền cũ sẽ được nâng cấp, tập trung vào việc cải thiện quy trình nghiền, sàng bột và tách xơ sợi, nhằm nâng cao hiệu suất và chất lượng bột.

Tại Việt Nam, giấy thu hồi, bao gồm cả thu gom trong nước và nhập khẩu, chỉ chiếm 70% tổng lượng nguyên liệu sản xuất giấy, là tỉ lệ thấp nhất trong các nước ASEAN, trong khi Malaysia đạt 87% Tỉ lệ thu hồi giấy đã qua sử dụng ở Việt Nam cũng rất thấp, chỉ đạt 25%, so với Thái Lan là 65%.

1.1.3 Xu hướng phát triển của giấy và bột giấy [8]

Dự báo cho thấy nhu cầu giấy và bìa carton toàn cầu sẽ tăng từ 365 triệu tấn năm 2005 lên 494 triệu tấn vào năm 2020, với tỷ lệ tăng trưởng trung bình khoảng 2% mỗi năm.

Theo đó, nhu cầu bột giấy thế giới bao gồm cả giấy tái sinh sẽ tăng từ

Từ năm 2005, nhu cầu bột giấy toàn cầu dự kiến sẽ tăng từ 380 triệu tấn lên 505 triệu tấn vào năm 2020, với tỷ lệ tăng trưởng bình quân 2,9% mỗi năm, tương đương 7,7 triệu tấn Nhu cầu sử dụng bột giấy đang chuyển dịch từ Bắc Mỹ và Tây Âu sang Đông Nam Á, Nam Á và Đông Âu Hiện tại, châu Á chiếm 36% tổng tiêu dùng giấy toàn cầu, tăng từ 24% vào năm 1990 và dự kiến sẽ đạt 44% Đặc biệt, bột giấy từ giấy phế liệu đã tăng mạnh từ 52 triệu tấn vào năm 1980 lên 185 triệu tấn vào năm 2005, tức tăng 3,56 lần trong 25 năm.

Bảng 1.3 Tiêu dùng bột giấy thế giới theo khu vực 1990-2020 (Triệu tấn)

Bảng 1.4 Tiêu dùng bột giấy thế giới 1980-2005 (Triệu tấn)

Bảng 1.5 Tỷ lệ thu hồi giấy đã qua sử dụng ở châu Á và Mỹ 2007

Nước/Vùng lãnh thổ Tỉ lệ (1) (%)

(1) Tỷ lệ = Giấy đã dùng/Tổng lượng giấy tiêu dùng.

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá tình hình sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu tại nhà máy giấy Tissue – Sông Đuống cho thấy những ưu điểm và nhược điểm trong công nghệ sản xuất giấy hiện tại Qua đó, cần đề xuất các giải pháp cải tiến dây chuyền công nghệ nhằm nâng cao chất lượng bột giấy và tối ưu hóa lợi ích kinh tế cho công ty.

Nội dung nghiên cứu

Tìm hiểu chung về Công ty giấy Tissue – Sông Đuống

Khảo sát và đánh giá chất lượng nguyên liệu

Khảo sát đánh giá thực trạng đây chuyền sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu tại Công ty.

Phương pháp nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu Phương pháp điều tra khảo sát

Tìm hiểu về Công ty Chuyên gia, tư duy, kế thừa

Khảo sát chất lượng nguyên liệu Chuyên gia, tư duy, khảo sát thực tế Khảo sát đánh giá thực trạng Chuyên gia, phỏng vấn, tư duy

Khái niệm và quy trình cơ bản của sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu

Sản xuất bột giấy là quá trình biến đổi sơ sợi thực vật thành bột thông qua các phương pháp hóa học, cơ học hoặc kết hợp cả hai Đặc biệt, trong sản xuất giấy từ phế liệu, phương pháp hóa học được áp dụng chủ yếu để phân tách và làm sạch sơ sợi, trong khi phương pháp cơ học ít được sử dụng.

Xơ sợi được phân tách và loại bỏ hóa chất qua các công đoạn chính sau:

 Phân ly nguyên liệu, làm sạch bột giấy , cô đặc bột, xử lý các chất nhiệt tan và các chất đặc thù, loại mực, tẩy trắng bột.

Nguyên liệu trong sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu

Nguyên liệu để sản xuất bột giấy ở Công ty là giấy phế liệu giấy phế liệu có rất nhiều loại gồm các loại sau:

 OB (old book – sách cũ)

 OP (old paper – giấy loại)

 ONP (old new paper – tạp chí cũ)

 OCC (old corrugated containers – carton sóng đã qua sử dụng)

 HWS (hard white saving – biên trắng)

Các loại giấy phế liệu như OP, OB, ONP có nhiều ưu điểm nổi bật, bao gồm độ trắng cao, dễ xé tơi bột, ít tạp chất, nguồn nguyên liệu dồi dào và giá thành rẻ Nhận thấy những lợi ích này, Công ty sản xuất giấy Tissue – Sông Đuống đã triển khai dây chuyền sản xuất giấy vệ sinh từ các loại giấy này.

2.2.2 Nguồn gốc, đặc điểm và cách bảo quản nguyên liệu

Giấy phế liệu chủ yếu có nguồn gốc từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm giấy rọc rìa từ các xưởng in, phế liệu in ấn, và các ấn phẩm như tạp chí, sách đã qua sử dụng Ngoài ra, giấy tư liệu, công văn cũ, giấy báo, tạp chí cũ, cùng với giấy bao bì và bìa hộp từ các cơ quan xí nghiệp cũng đóng góp vào nguồn giấy phế liệu Tại các trường học, giấy sách báo cũ và vở học sinh cũng là nguồn quan trọng Cuối cùng, các hộ gia đình cũng cung cấp giấy báo cũ, sách, tạp chí, bản đồ cũ và giấy bao gói đã qua sử dụng.

Ngoài ra, một lượng giấy phế liệu khá lớn được nhập khẩu từ các nước phát triển như: Anh, Mỹ, Pháp,…

Nguyên liệu chủ yếu là dạng tấm mỏng

Giấy phế liệu, chủ yếu là giấy đã qua in ấn, chứa nhiều tạp chất và mực, gây khó khăn trong quá trình loại bỏ Những tạp chất nhẹ và kích thước nhỏ này ảnh hưởng lớn đến chất lượng bột, đặc biệt là độ trắng của sản phẩm.

Nguyên liệu có lẫn cả bột hóa học và bột cơ giới nên khó khăn cho quá trình tẩy trắng

 Cách bảo quản nguyên liệu

Nguyên liệu dạng tấm mỏng dễ cháy, nên cần tránh xa nguồn nhiệt cao như lò hơi và phải có hệ thống phòng cháy chữa cháy Do là giấy phế liệu, nguyên liệu dễ bị hòa vào nước khi gặp mưa, gây ô nhiễm môi trường; vì vậy, kho chứa nguyên liệu cần khô ráo, thoáng gió và có mái che.

Nguyên liệu có trọng lượng nhẹ, dễ dàng bay ra xung quanh, do đó cần được đóng gói thành kiện lớn để thuận tiện cho việc vận chuyển.

Dây chuyền sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu

2.3.1 Quy trình sản xuất bột giấy [1]

Quy trình sản xuất giấy từ giấy phế liệu bao gồm các công đoạn chính sau:

 Xử lý các chất nhiệt tan và các chất đặc thù khác

2.3.2 Công đoạn chính trong quá trình sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu

Phân ly giấy phế liệu bao gồm 2 giai đoạn là nghiền thô và nghiền tinh + Nghiền thô:

Quá trình làm cho giấy phế liệu phân ly bao gồm việc tách các sợi đan chéo nhau thành những sợi nhỏ hơn mà vẫn giữ được cường độ và hình thái của sợi nguyên Trong quá trình nghiền nhỏ, các tạp chất lớn và nặng cũng được loại bỏ khỏi sợi Để loại bỏ mực trên giấy phế liệu, cần thêm hóa chất tẩy mực và sục hơi nước để gia nhiệt, giúp phân ly sợi và mực hiệu quả.

Thiết bị nghiền thô chủ yếu bao gồm máy nghiền thủy lực và máy nghiền kiểu trống tròn, trong đó máy nghiền thủy lực là phổ biến nhất hiện nay Các loại máy nghiền có thể được phân loại theo cấu trúc thành máy nghiền kiểu đứng và máy nghiền kiểu nằm, cũng như theo phương thức hoạt động thành máy nghiền kiểu liên tục và máy nghiền kiểu gián đoạn Ngoài ra, chúng còn được phân chia theo nồng độ bột nghiền thành máy nghiền nồng độ cao và máy nghiền nồng độ thấp Đặc biệt, máy nghiền thô kiểu trống tròn, một thiết bị nghiền kiểu liên tục nồng độ cao, đã xuất hiện gần đây và đang dần trở nên phổ biến.

Công nghệ nghiền thô đối với giấy phế liệu chủ yếu bị ảnh hưởng bởi nồng độ, nhiệt độ và thời gian nghiền Ngoài ra, loại giấy phế liệu, tính năng kết cấu của trục quay và tốc độ chuyển dịch tịnh tiến của trục cũng đóng vai trò quan trọng trong hiệu suất hoạt động của máy nghiền thủy lực.

Nghiền tinh là bước quan trọng trong quy trình nghiền, nhằm phân ly hoàn toàn sợi mà không làm tổn thương hay giảm cường độ của chúng Các bộ phận của máy nghiền tinh được thiết kế không co rút, sử dụng lực cắt nhẹ thông qua thủy lực để tác động lên giấy phế liệu Với tốc độ quay cao, máy tạo ra lực đủ lớn để phân ly giấy phế liệu thành sợi.

Các loại máy nghiền cao tần: dạng đĩa răng, kiểu bậc thang, dạng hình nón, dạng tấm lỗ

Giấy phế liệu được nghiền qua máy nghiền thủy lực để tạo thành sợi, tuy nhiên trong bột vẫn còn lẫn nhiều tạp chất nặng như đá, cát, mùn cưa, sắt, và các tạp chất nhẹ như dăm gỗ, vật liệu Polime mỏng Quá trình loại bỏ tạp chất này được gọi là làm sạch bột, bao gồm hai công đoạn chính: loại bỏ tạp chất và sàng tuyển Bột sẽ lần lượt đi qua thiết bị loại bỏ tạp chất và máy sàng để hoàn tất quá trình Công nghệ xử lý giấy phế liệu không chỉ giúp phân ly các tạp chất mà còn hạn chế tổn thất trong quá trình xử lý.

Công nghệ sàng tuyển bột hiện đại tích hợp sàng tuyển và loại bỏ tạp chất, sử dụng phương pháp kết hợp giữa sàng mắt tròn và sàng dạng khe hở Đồng thời, công nghệ này cũng áp dụng sàng nồng độ cao và nồng độ thấp để nâng cao hiệu suất sàng.

Bảng 2.1 Thông số của tạp chất lẫn trong bột giấy từ giấy phế liệu

Chủng loại Khối lượng thể tích tương đối Kích thước hạt

Ghi chỳ: (1): bộ phận bị hoà tan; (2): < 40 àm; (3): 40 → 400 àm; (4): 400 → 4000 àm; (5): > 4000 àm

Để đảm bảo việc dự trữ bột giấy hiệu quả và đáp ứng yêu cầu công nghệ cho các giai đoạn sản xuất tiếp theo, bột giấy sau khi được sàng tuyển cần trải qua quá trình tách nước và cô đặc.

Khi chọn thiết bị cô đặc bột từ giấy phế liệu, cần xem xét quy trình công nghệ, nồng độ bột yêu cầu và loại giấy phế liệu sử dụng trong sản xuất.

Theo góc độ công nghệ, thiết bị tách nước cô đặc bột được phân loại thành ba loại: thiết bị cô đặc nồng độ thấp, thiết bị cô đặc nồng độ trung bình và thiết bị cô đặc nồng độ cao.

Các loại máy cô đặc bột giấy là: kiểu trục xoắn nghiêng, kiểu xoắn ép, máy cô đặc hình chữ V, máy nén bột kiểu lưới kẹp

 Xử lý các chất nhiệt tan và các chất đặc thù khác

Ngoài các tạp chất nặng, bột còn chứa các tạp chất nhẹ như dầu nhựa, sáp, keo dán và nhựa đường, mà việc loại bỏ chúng bằng phương pháp hóa học hoặc cơ giới rất khó khăn Sự tồn tại của những tạp chất này trong bột sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng và độ trắng của sản phẩm, do đó, việc loại bỏ chúng là rất cần thiết.

Nguyên lý hoạt động của quá trình này là phân tán các chất nhiệt tan thành những hạt nhỏ không thể nhìn thấy bằng mắt thường, giúp chúng phân bố đồng đều trong bột.

Nhiệt độ là nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến xử lý phân tán các chất nhiệt tan

Bảng 2.2 Nhiệt độ mềm hoá của các tạp chất

Nhiệt độ mềm hoá, 0 C Loại tạp chất Nhiệt độ mềm hoá, 0 C

Nhựa đường 100 - 110 Mực kết rắn do tia tử ngoại 85 - 120 Sáp 85 - 105 Chất nhiệt nóng chảy 85 - 110 Mực aniline 85 - 105

Loại mực là bước quan trọng nhất trong sản xuất giấy phế liệu, giúp tăng độ trắng của bột giấy và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xeo giấy.

Nguyên lý loại mực dựa trên việc sử dụng hóa chất và điều kiện nhiệt độ cùng tác động cơ giới để phá vỡ sự bám dính của mực trên sợi Mực in thường được cấu tạo từ dầu khô, keo động vật hoặc keo phân tán trong than đen, cùng với các hạt màu khác Trong quá trình in ấn, mực sẽ bám vào bề mặt sợi, và một số loại hạt chất lượng cao có thể tạo ra lớp màng bóng trên sợi, gây cản trở cho quá trình loại bỏ màu mực.

Quá trình loại mực bao gồm ba bước chính: đầu tiên là nghiền để phân ly; tiếp theo là tách mực ra khỏi sợi; cuối cùng là tách các hạt mực đã được tách ra khỏi sợi ra khỏi bột.

Giấy phế liệu được nghiền trong máy nghiền thủy lực để chuyển đổi thành bột, dưới tác động của cơ giới và nhiệt độ thích hợp, khiến bề mặt giấy thấm ướt và thay đổi hình dáng, làm yếu đi liên kết hidro giữa các sợi Trong quá trình này, giấy phế liệu bị phân ly thành sợi, dẫn đến việc các hạt mực bị phân tán Khi có mặt hóa chất, mực in và xà phòng tương tác, làm cho mực bị xà phòng hóa, từ đó các hạt màu tách ra khỏi sợi Để ngăn chặn hiện tượng các hạt tự do tụ lại với nhau và sợi hấp thụ lại chúng, cần bổ sung chất phân tán và chất hấp thụ màu vào mực Sau khi phân ly, các hạt này sẽ được rửa hoặc đãi lọc để loại bỏ Trong quá trình loại bỏ mực, các hóa chất làm giảm lực căng bề ngoài của hạt mực bám trên giấy, giúp giấy hút nước, mềm hóa và phân ly Để loại bỏ mực triệt để, cần kết hợp tác động cơ giới, hóa học và gia nhiệt.

Chủng loại chất loại mực rất đa dạng và phong phú căn cứ vào tác dụng khác nhau có thể phân thành các loại sau:

+ Dung dịch làm trơn ướt

+ Dịch loại màu và dịch tẩy trắng

+ Dung dịch hoạt tính bề mặt

+ Dịch thúc đẩy tích tụ trong quá trình đãi lọc

+ Dung dịch loại bỏ các chất kết dính

Bảng 2.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với hiệu suất loại mực khi xử lý giấy báo cũ

Dịch hoạt tính bề mặt Điểm đục

Nhiệt độ khi thao tác, 0 C Độ trắng,

%GE Độ bụi của bột, mg/Kg

Tổng quan về Công ty giấy Tissue – Sông Đuống

Khởi công xây dựng 1/1956 trên mảnh đất thuộc 2 địa phương Hà Nội và Bắc Ninh, nằm sát cạnh Sông Đuống và quốc lộ 1A cách ga Yên Viên 2

Nhà máy tọa lạc cách cảng Hải Phòng gần 100 Km về phía Nam, mang lại vị trí thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và nguyên vật liệu qua các phương tiện đường bộ, đường sắt và đường thủy Địa chỉ của công ty là 672 Ngô Gia Tự, Long Biên, Hà Nội.

Năm 2005, Công ty Giấy Bãi Bằng được nâng cấp thành Công ty mẹ của Tổng Công ty Giấy Việt Nam, trong đó Công ty Giấy Tissue – Sông Đuống đóng vai trò quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của ngành giấy, đồng thời có vị trí sản xuất kinh doanh chiến lược ngay trong lòng đất nước.

Hiện nay, với gần 300 công nhân viên chức đang học tập và làm việc Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty giấy Tissue – Sông Đuống

Kho vật tư sản phẩm

Px gỗ và px giấy

Hình 3.2 Trụ sở Công ty

3.1.3 Tình hình sản xuất và phát triển của Công ty giấy Tissue – Sông Đuống [5] Được đưa vào sản xuất từ năm 1959 với tên gọi "Nhà máy

Công ty Gỗ Cầu Đuống, với sản phẩm truyền thống là gỗ dán mang thương hiệu nổi tiếng về chất lượng, đã kiên cường vượt qua nhiều thăng trầm trong chiến tranh và biến động kinh tế, tiếp tục phát triển mạnh mẽ Bên cạnh đó, Công ty giấy Tissue – Sông Đuống cũng đã trải qua các giai đoạn phát triển đáng kể.

* Giai đoạn 1956 – 1960: nhà máy thành lập trên cơ sở tình hữu nghị Việt – Tiệp

1/1956 bộ Công nghiệp chính thức khởi công xây dựng nhà máy với tên gọi nhà máy gỗ dán Cầu Đuống

Thực hiện kế hoạch 3 năm 1958 – 1960 nhà máy vừa xây dựng vừa sản xuất thử

Doanh thu: năm 1958 giá trị tổng sản sản xuất đạt 1,8 triệu đồng năm 1969 tổng sản lượng đạt 6,3 triệu đồng (trong đó gỗ dán: 5360 m 3 ,ván lạng 1240000 m 3 , đồ mộc 3660 m 3 , gỗ xẻ 27000 m 3 )

1/1959 nhà máy gỗ Cầu Đuống hợp nhất với nhà máy diêm Thống Nhất gọi là nhà máy gỗ - diêm Thống Nhất

6/1960 lại tách thành 2 nhà máy với tên gọi như ban đầu

* Giai đoạn 1961 – 1965: giai đoạn phát triển mạnh mẽ

Nhà máy sản xuất gỗ xuất khẩu đã đạt và vượt kế hoạch nhà nước giao, với gỗ dán vượt 70% và ván lạng vượt 100% Sản phẩm được xuất khẩu sang nhiều quốc gia như Liên Xô, Hungary, Tiệp Khắc và CHLB Đức Đội ngũ CBCNV ngày càng phát triển, từ 1201 người vào năm 1961 lên 1334 người vào năm 1965 Giá trị tổng sản lượng đạt 12 triệu đồng, tăng 1,8 lần so với năm 1960 Đặc biệt, vào năm 1964, nhà máy đã sản xuất thành công keo UF, thay thế keo nhập ngoại, và trong giai đoạn 1964 – 1965, sản xuất thành công keo Phenol.

* Giai đoạn 1966 – 1972: giai đoạn vừa sản xuất, vừa chiến đấu

Vào tháng 4/1967, nhà máy đối mặt với cuộc chiến tranh phá hoại quyết liệt khi bị máy bay Mỹ tấn công dữ dội Ngày 26/4/1967, kho gỗ tròn bị bom trúng, và vào ngày 29/6/1967, phân xưởng xẻ bị tàn phá 80%, khiến mặt bằng bị hủy hoại nghiêm trọng Trong bối cảnh này, nhiệm vụ bảo vệ con người và máy móc trở nên cấp thiết, với chỉ bộ phận cán bộ công nhân viên giữ lại để thực hiện công tác bảo vệ, trong khi phần lớn nhân lực được sơ tán khỏi nhà máy Kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm chỉ đạt 20% so với năm 1965.

4/1969 một bộ phân xẻ tay và bộ phận mộc được rời từ nơi sơ tán về nhà máy

21/5/1970 bắt đầu khôi phục và mở rộng nhà máy Theo đó, chương trình phục hồi nhà máy được đặt tên là chương trình 504

6/1972 bộ phận công nghiệp nhẹ quyết định sáp nhập nhà máy gỗ Gia Lâm vào nhà máy gỗ Cầu Đuống

* Giai đoạn 1973 – 30/6/2005: giai đoạn phục hồi và đổi mới

27/1/1973 nhà máy bước đầu xây dụng nhà xưởng và tổ chức lại sản xuất

Năm 1975, nhà máy đã được khôi phục hoàn toàn với các phân xưởng sản xuất chính Số lao động tăng từ 1169 người năm 1973 lên 1923 người năm 1975, trong khi giá trị tổng sản lượng cũng tăng từ 2.367.400 đồng năm 1973 lên 4.540.316 đồng năm 1975.

6/1979 nhà máy hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của liên hiệp các xí nghiệp giấy – gỗ – diêm (thay vì trực thuộc trực tiếp bộ công nghiệp nhẹ)

1980 – 1988: nhà máy phát triển cơ sở tăng gia sản xuất tại xã Đại Phú – Sơn Dương – Tuyên Quang nhằm cải tạo đời sống cho CBCNV của Công ty

Nhà máy gỗ Cầu Đuống được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1988, dựa trên việc tách xí nghiệp liên hợp diêm - gỗ Sự tổ chức sản xuất và bộ phận quản lý của nhà máy đã được bố trí lại dựa trên nền tảng của nhà máy Cầu Đuống cũ.

Năm 1988 là năm đầu tiên thực hiện đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh XHCN

2/1988 phát triển thêm phân xưởng vợt cầu lông Tuy nhiên, năm 1991 phân xưởng ngừng hoạt động vì khó khăn trong việc trong việc tiêu thụ

Năm 1989 đạt 4,6 tỷ đồng, tổng số lao động là 933 người

17/11/1992 bộ Công nghiệp nhẹ quyết định đổi tên nhà máy gỗ Cầu Đuống thành Công ty giấy Cầu Đuống

Năm 1994 đạt 15,9 tỷ đồng, tổng số lao động giảm mạnh chỉ còn 518 người

Năm 1995 Công ty sản xuất và kinh doanh gặp khó khăn lớn chỉ đạt 7 tỷ đồng

Năm 1996 doanh thu đạt 7,9 tỷ đồng tuy nhiên số lượng công nhân chỉ còn 318 người, đời sống của CBCNV gặp rất nhiều khó khăn

Trước tình hình khó khăn của Công ty, Tổng Công ty Giấy Việt Nam đã quyết định đề xuất Bộ Công nghiệp nhẹ thực hiện việc sáp nhập Công ty Gỗ Cầu Đuống vào Công ty Giấy Bãi Bằng.

Vào ngày 6 tháng 9 năm 1997, ông Phạm Văn Tụ, phó tổng giám đốc Công ty giấy Bãi Bằng, được Tổng Công ty giấy Việt Nam giao nhiệm vụ kiêm giám đốc Công ty gỗ Cầu Đuống, đồng thời nhà máy này đã được đổi tên thành nhà máy gỗ Cầu Đuống.

Năm 2001, dự án đầu tư dây chuyền xeo giấy Tissue mang thương hiệu Bapaco chính thức được đưa vào hoạt động Dây chuyền xeo bắt đầu khởi công xây dựng vào năm 2000 và đã được khánh thành vào tháng 5 năm 2001.

Vào năm 2005, phân xưởng giấy đã được chia thành hai đơn vị: phân xưởng gia công và phân xưởng giấy hiện tại Ngày 1/7/2005, trong bối cảnh kiện toàn tổng Công ty theo mô hình Công ty mẹ - con, nhà máy đã đề xuất lên tổng Công ty giấy Việt Nam về việc đổi tên nhà máy gỗ Cầu Đuống thành Công ty giấy Tissue – Sông Đuống Đến ngày 27/7/2005, tổng Công ty giấy Việt Nam đã ra quyết định công nhận Công ty giấy Tissue – Sông Đuống là đơn vị hạch toán phụ thuộc của tổng Công ty.

Doanh thu: Năm 1998 đạt 5,5 tỷ đồng

Năm 2004 đã là 97 tỷ đồng

Từ năm 2005 đến nay, Tổng Công ty Giấy đã đầu tư 108 tỷ đồng để xây dựng dây chuyền khử mực công suất 20.000 tấn/năm cho Công ty Giấy Tissue – Sông Đuống, nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định cho phân xưởng Công trình này được khởi công vào tháng 5 năm 2008.

7/2009 khánh thành dây chuyền; 8/2009 hoàn thành xong xây dựng nhà xưởng và lắp đặt thiết bị 9/2009 dây chuyền xeo bắt đầu hoạt động

Tổng Công ty Giấy Việt Nam đang nâng cao chất lượng và số lượng sản phẩm thông qua việc đầu tư vào dây chuyền gia công Cụ thể, công ty đã đầu tư 13,9 tỷ đồng cho thiết bị gia công giấy vệ sinh hiện đại với công suất 4.500 tấn/năm.

Doanh thu: năm 2005 đạt 123, 2 tỷ đồng năm 2008 đạt 230.6 tỷ đồng

Hiện tại, Công ty có gần 300 công nhân viên chức đang làm việc và học tập, tất cả đều quyết tâm phấn đấu để đưa Công ty phát triển bền vững hơn.

Công ty Giấy Tissue – Sông Đuống liên tục cải thiện trình độ chuyên môn cho nhân viên thông qua việc tổ chức nhiều khóa huấn luyện và đào tạo, nhằm củng cố kiến thức và nâng cao tay nghề cho công nhân viên chức.

Khảo sát quá trình sản xuất bột giấy tại Công ty giấy Tissue – Sông Đuống

Công ty thu mua giấy từ hai nguồn chính: trong nước và nhập khẩu từ các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Bắc Âu Bột thu mua trong nước có tỷ lệ thu hồi sơ sợi thấp và nhiều tạp chất, nhưng giá thành rẻ hơn so với bột nhập khẩu Bột nhập khẩu được vận chuyển qua cảng Hải Phòng và chuyển đến công ty bằng đường bộ qua quốc lộ 1A hoặc bằng đường sông qua sông Đuống Trong khi đó, bột thu mua trong nước chủ yếu được vận chuyển bằng đường bộ từ các cơ sở thu mua giấy phế liệu.

Nguyên liệu để sản xuất bột giấy của Công ty là giấy phế liệu, giấy phế liệu có thể phân loại như sau:

 OB (old book – sách cũ)

 OP (old paper – giấy loại)

 ONP (old new paper – tạp chí cũ)

 OCC (old corrugated containers – carton sóng đã qua sử dụng)

 HWS (hard white saving – biên trắng)

Công ty sản xuất giấy cung cấp nhiều loại sản phẩm, bao gồm OB (giấy sách cũ), HWS (giấy biên trắng) và ONP (giấy tạp chí cũ) Trong quy trình sản xuất, chủ yếu sử dụng hai loại mực OB và ONP.

Nguyên liệu của Công ty được bảo quản tại bãi nguyên liệu không có mái che, dễ bị mục nát Để giảm tình trạng đọng nước, nền bãi được đổ bê tông cao hơn khu vực xung quanh Nguyên liệu được đóng thành kiện lớn, thuận tiện cho việc vận chuyển đến khu vực sản xuất.

Hình 3.3 Bãi nguyên liệu của Công ty giấy Tissue – Sông Đuống

3.2.2 Dây chuyền sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu

* Quá trình sản xuất bột giấy phế liệu

+ Quá trình sản xuất bột giấy của Công ty Tissue – Sông Đuống bao gồm các khâu đoạn sản xuất sau:

Quá trình sản xuất bột giấy của Công ty giấy Tissue Sông Đuống

Băng tải Nghiền thủy lực

Tách rác Lọc cát thô

* Các khâu đoạn chính trong quá trình sản xuất bột giấy từ giấy OP, OB, ONP

Quá trình làm cho giấy phế liệu phân ly bao gồm việc tách các sợi đan chéo nhau thành các sợi nhỏ hơn, đồng thời duy trì cường độ và hình thái của sợi nguyên Việc nghiền nhỏ cũng giúp loại bỏ các tạp chất lớn và nặng khỏi sợi Đặc biệt, khi cần loại bỏ mực từ giấy phế liệu, công ty đã thêm vào quy trình nghiền tinh để tách mực ra khỏi xơ sợi, mặc dù vẫn còn lẫn trong bột.

+ Theo cấu tạo: máy nghiền thủy lực và máy nghiền kiểu trống tròn + Theo hình thức kết cấu: máy nghiền kiểu đứng và máy nghiền kiểu nằm

+ Theo phương thức hoạt động thì có: máy nghiền kiểu liên tục và máy nghiền kiểu gián đoạn

Công ty giấy Tissue – Sông Đuống sử dụng máy nghiền thủy lực dạng đứng nồng độ cao với nồng độ bột từ 15 – 18% và công suất động cơ 425 HP Nguyên liệu được vận chuyển vào thiết bị qua hệ thống băng tải Trong quá trình nghiền, giấy được trộn với dịch xà phòng hóa nhằm tách mực ra khỏi xơ sợi.

- Cấu tạo của máy nghiền thủy lực: thân, dao bay, dao đế

+ Thân có hình trụ phía trong có gờ nổi dọc theo đường sinh của thiết bị có tác dụng làm tăng khả năng va đạp thủy lực

+ Dao bay: nằm ở chính giữa, có khả năng quay dưới tác dụng của đông cơ chính đặt ở đáy thiết bị

+ Dao đế: gồm 2 dao nằm ở 2 bên cố định trên có các rãnh khía

+ Băng tải: kích thước: B x L = 2000 x 23000 (mm) công suất đông cơ: 150 HP

Công suất động cơ: 425 HP

Vận tốc cánh khuấy: 15 mm/giây

Nguyên lý hoạt động của hệ thống bắt đầu bằng việc cấp nước vào bể thủy lực với nồng độ bột từ 15 – 18% Khi động cơ hoạt động, dao bay sẽ quay, tạo ra sự chà xát giữa dung dịch bột và mặt dao đế Dòng bột sẽ chuyển động theo chiều quay của dao và va đập vào tấm gờ trên đường sinh của bể, giúp tăng cường khả năng đánh tơi nguyên liệu Cuối cùng, bột sẽ được tháo ra ngoài qua cửa xả đáy và chuyển sang máy tách rác.

Hình3.4: Sơ đồ cấu tạo của máy nghiền thuỷ lực tại Công ty Tissue – Sông Đuống Động cơ

Bể thủy lực Dao bay

Công ty phải lắp đặt máy tách rác do nguyên liệu chứa nhiều tạp chất lớn, bao gồm polime mỏng, kim loại và cát bùn, mà máy nghiền thủy lực không thể nghiền nhỏ.

- Cấu tạo: lưới sàng, đường ống vào, đường ống ra, xe goòng thu tạp chất, động cơ

Hình3.5: Máy tách rác tại Công ty Tissue – Sông Đuống

Thiết bị tách rác hoạt động bằng cách chuyển bột từ bể thủy lực, sau khi đã phân tách thành xơ sợi, sang máy tách rác nằm ngang Tại đây, các tạp chất lớn sẽ bị giữ lại và rơi xuống dưới qua ống ở đáy thiết bị, trong khi bột tốt sẽ được lọc qua lưới và chuyển đến bể T.102 Nồng độ bột sau khi qua máy tách rác đạt khoảng 4 – 5%.

 Lọc cát nồng độ cao

Thiết bị lọc cát nồng độ cao có cấu tạo hình côn, với ống tháo bột ở đỉnh để loại bỏ tạp chất nặng Thiết bị được trang bị đường ống bột ngang để tạo dòng xoáy, giúp tối ưu hóa quá trình lọc Ở đáy thiết bị có đường ống tháo cặn, đảm bảo hiệu suất lọc cao với nồng độ bột từ 3 – 4% Chiều cao tổng thể của thiết bị là 4200 mm.

Hình 3.6 Máy lọc cát thô (lọc cát nồng độ cao) tại Công ty Tissue – Sông Đuống

Nguyên lý hoạt động của hệ thống bắt đầu từ việc bột được bơm từ bể T.102 sang thiết bị lọc cát thô thông qua bơm E.003 Tại thiết bị, bột được tạo ra thành dòng xoáy kết hợp với thiết kế hình côn, giúp các hạt tạp chất nặng mất động năng và rơi xuống đáy thiết bị Các hạt bột tốt sẽ tiếp tục di chuyển qua ống ở đỉnh thiết bị để tiến đến giai đoạn tiếp theo.

Thiết bị hoạt động chưa thực sử tốt còn bị hở ở khớp nối nên bột bị tràn ra ngoài nhà xưởng

Sàng thô là thiết bị sàng lỗ với đường kính mắt sàng đạt Φ=1,6 mm Để nâng cao hiệu quả loại bỏ tạp chất và đảm bảo công suất cho phân xưởng, khâu sàng thô được lắp đặt với 2 cấp sàng.

Hình 3.7 Máy sàng thô tại Công ty Tissue – Sông Đuống

- Nhiệm vụ: loại bỏ tạp chất có kích thước lớn hơn kích thước của bột

Nguyên lý hoạt động của quy trình này bắt đầu bằng việc chuyển bột từ lọc cát thô đến khâu sàng thô với nồng độ khoảng 3-4% Hỗn hợp bột sau đó đi qua mắt sàng, nơi các tạp chất lớn bị giữ lại Tuy nhiên, do kích thước hỗn hợp lớn, một lượng bột vẫn bị giữ lại phía trên mắt sàng, vì vậy phần này sẽ được chuyển sang sàng thô cấp tiếp theo.

Để loại bỏ tạp chất còn lại, bột tốt từ cả hai cấp sàng được chuyển sang bể T.104 để tiếp tục quy trình sản xuất Trong khi đó, bột xấu từ sàng cấp 2, vẫn còn lẫn tạp chất, được chuyển sang bể T.106 để thu hồi lượng bột còn lại.

Thiết bị sàng khe có kích thước khe sàng là 0,15 mm, được cấu tạo với 3 cấp sàng trong khâu sàng thô nhằm nâng cao hiệu quả loại bỏ tạp chất Điều này không chỉ đảm bảo công suất của phân xưởng mà còn giảm thiểu hao hụt bột.

- Nhiệm vụ: loại bỏ tạp chất có kích thước lớn hơn kích thước của bột; phân ly xơ sợi thành sợi ngắn và sợi dài

Nguyên lý hoạt động của hệ thống xử lý bột diễn ra qua nhiều giai đoạn Bột từ bể T.104 được đưa vào sàng tinh cấp 1 theo đường thẳng, nơi dòng tràn đi vào sàng Sự chênh lệch áp lực giữa trong và ngoài sàng trống, kết hợp với tốc độ quay cao của rotor, giúp các sợi ngắn trong bột đi qua mắt lưới sàng ra bên ngoài Các sợi dài bị giữ lại trong sàng trống nhờ áp lực và phiến lá rotor, sau đó được dẫn ra ngoài qua đường dành cho sợi dài Tạp chất nặng được thải ra ngoài qua đường thải tạp chất Bột tốt từ sàng tinh cấp 1 được chuyển sang bể T.107, trong khi bột xấu được chuyển sang bể T.105 và tiếp tục qua sàng tinh cấp 2 Bột tốt từ sàng tinh cấp 2 sẽ lại chuyển sang bể T.107, trong khi bột xấu được bơm sang bể T.106 để hòa trộn với bột xấu từ sàng thô cấp 2 và tiếp tục qua sàng tinh cấp 3 Để nâng cao hiệu quả loại bỏ tạp chất, bột tốt từ sàng cấp 3 sẽ quay lại sàng cấp 2 để xử lý tiếp, trong khi bột xấu sau khi đã thu hồi hầu hết sẽ được thải ra ngoài.

Bảng 3.1 Công suất động cơ của sàng

Sàng tinh Công suất (HP) Sàng thô Công suất(HP)

Hình 3.8 Máy sàng tinh tại Công ty Tissue – Sông Đuống

Ngày đăng: 22/06/2021, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2008), Khả năng sản xuất bột giấy từ giấy thải, báo cáo kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất bột giấy từ giấy thải
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Năm: 2008
3. Hoàng Thúc Đệ (1999), Công nghệ hoá lâm sản, nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ hoá lâm sản
Tác giả: Hoàng Thúc Đệ
Nhà XB: nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
4. Trương Thị Bình Minh (2009), Đánh giá thực trạng quá trình sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu tại Công ty cổ phần giấy Việt Trì , luận văn tốt nghiệp, Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng quá trình sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu tại Công ty cổ phần giấy Việt Trì
Tác giả: Trương Thị Bình Minh
Năm: 2009
5. 50 năm gỗ Cầu Đuống – giấy Tissue Sông Đuống (2009), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm gỗ Cầu Đuống – giấy Tissue Sông Đuống
Tác giả: 50 năm gỗ Cầu Đuống – giấy Tissue Sông Đuống
Năm: 2009
6. Giấy và bột giấy - sổ tay phòng thí nghiệm (2004), Viện công nghiệp giấy và xenlulô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giấy và bột giấy - sổ tay phòng thí nghiệm
Tác giả: Giấy và bột giấy - sổ tay phòng thí nghiệm
Năm: 2004
7. Tạp chí công nghiệp giấy 1 (133), 2004,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí công nghiệp giấy 1 (133)
8. Http://www.ecsme.com, Http://www.quatest1.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: ecsme".com, Http://www."quatest1

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w