1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Luật Đầu tư: Phần 1

118 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Luật Đầu tư: Phần 1
Tác giả PGS. TS. Trần Thị Thu Phương, NCS. THS. Đỗ Phương Thảo, THS. Nguyễn Thị Nguyệt, THS. Hoàng Thanh Giang, NCS. THS. Phùng Bích Ngọc, TS. Nguyễn Thị Tình, THS. Trần Ngọc Diệp, THS. Tạ Thị Thùy Trang, THS. Phạm Minh Quốc
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Luật Đầu tư
Thể loại Giáo trình
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Luật Đầu tư được biên soạn với nhiều nội dung cung cấp những kiến thức cơ bản, phục vụ cho đối tượng sinh viên bậc đại học và những người quan tâm. Giáo trình kết cấu gồm 4 chương và chia thành 2 phần, phần 1 trình bày những nội dung về: tổng quan Luật đầu tư; bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 2

Chủ biên PGS TS TRẦN THỊ THU PHƯƠNG

Tập thể tác giả

1 PGS TS TRẦN THỊ THU PHƯƠNG Chương 1 (mục 1.1; mục 1.2: 1.2.1,

1.2.2; mục 1.3; mục 1.4) Chương 4 (mục 4.1; mục 4.2)

2 NCS THS ĐỖ PHƯƠNG THẢO Chương 2 (mục 2.2)

3 THS NGUYỄN THỊ NGUYỆT Chương 2 (mục 2.1: 2.1.3; mục 2.3;

mục 2.4)

4 THS HOÀNG THANH GIANG Chương 2 (mục 2.1: 2.1.1, 2.1.2)

5 NCS THS PHÙNG BÍCH NGỌC Chương 1 (mục 1.2: 1.2.3); Chương 3

(mục 3.2: 3.2.1, 3.2.2, 3.2.4; mục 3.3) Chương 4 (mục 4.3)

6 TS NGUYỄN THỊ TÌNH Chương 3 (mục 3.4)

7 THS TRẦN NGỌC DIỆP Chương 3 (mục 3.1: 3.1.1, 3.1.2)

Chương 4 (mục 4.2)

8 THS TẠ THỊ THUỲ TRANG Chương 3 (mục 3.1: 3.1.3)

9 THS PHẠM MINH QUỐC Chương 3 (mục 3.2: 3.2.3)

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia và đối với nền kinh tế thế giới nói chung Thực tế cho thấy, hàng loạt các điều ước quốc tế được xác lập giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ nhằm thống nhất điều chỉnh các hoạt động thương mại nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng Nhu cầu ký kết các điều ước quốc tế về đầu

tư trở thành một trong những động lực thúc đẩy các quốc gia, vùng lãnh thổ ngồi lại với nhau để đàm phán thương lượng ở tầm quốc tế

Quá trình hội nhập quốc tế không chỉ diễn ra trên lĩnh vực thương mại, đầu tư, mà còn cần phải được thực hiện trên lĩnh vực pháp luật Có thể nói, hội nhập kinh tế dẫn đến nhu cầu hội nhập về mặt pháp luật Yêu cầu về hài hòa hóa pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động đầu tư quốc tế nói riêng đòi hỏi các nhà nghiên cứu, các chuyên gia phải phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên

cứu, đào tạo, phổ biến pháp luật “Giáo trình Luật Đầu tư” được hình

thành nhằm đáp ứng nhu cầu đó của xã hội

Giáo trình được tập thể các tác giả Trường Đại học Thương mại biên soạn với nhiều nội dung cung cấp những kiến thức cơ bản, phục vụ cho đối tượng sinh viên bậc đại học và những người quan tâm Giáo trình

có cách tiếp cận khác biệt so với những cuốn giáo trình trước đó khi đi sâu phân tích các kiến thức pháp luật về đầu tư và cập nhật một cách đầy

đủ sự phát triển của luật đầu tư trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay Giáo trình có ba nội dung chính và hướng tới ba mục tiêu cơ bản Đó là, (1) Cung cấp kiến thức tổng quan về luật đầu tư; (2) Nghiên cứu các chế định mang tính nền tảng của pháp luật về đầu tư như chế định về bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư; (3) Nghiên cứu qui định của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Hy vọng rằng giáo trình này sẽ mang lại nhiều kiến thức bổ ích và những thông tin thiết thực cho sinh viên và những người muốn tiếp cận Luật đầu tư hiện đại

Trang 4

“Giáo trình Luật đầu tư” bao gồm 4 chương sau:

Chương 1: Tổng quan về Luật đầu tư do PGS TS Trần Thị Thu

Phương và ThS Phùng Bích Ngọc biên soạn

Chương 2: Bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư do ThS Đỗ Phương

Thảo, ThS Hoàng Thanh Giang và ThS Nguyễn Thị

Nguyệt biên soạn

Chương 3: Hoạt động đầu tư trong nước do TS Nguyễn Thị

Tình, ThS Phùng Bích Ngọc, ThS Tạ Thị Thùy Trang, ThS Trần Ngọc Diệp, ThS Phạm Minh Quốc

biên soạn

Chương 4: Hoạt động đầu tư ra nước ngoài do PGS TS Trần

Thị Thu Phương, ThS Phùng Bích Ngọc và ThS

Trần Ngọc Diệp biên soạn

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các nhà khoa học đã cung cấp tài liệu tham khảo giúp chúng tôi hoàn thành giáo trình này Đặc biệt tập thể tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy,

cô, các nhà khoa học đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để giáo trình được hoàn chỉnh Quá trình biên soạn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy,

cô, các nhà khoa học cũng như các em sinh viên để giáo trình được hoàn thiện hơn nữa

TẬP THỂ TÁC GIẢ

Trang 5

BT Hợp đồng xây dựng - chuyển giao

BKHĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư

CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ

xuyên Thái Bình Dương CHDCND Lào Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào

CQĐKĐT Cơ quan đăng ký đầu tư

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

ĐƯQT Điều ước quốc tế

EVIPA Hiệp định bảo hộ đầu tư

EU Liên minh châu Âu

EVFTA Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

(tiếng Anh là Foreign Direct Investment) HĐND Hội đồng nhân dân

IMF Quỹ tiền tệ thế giới

KCN Khu công nghiệp

KCX Khu chế xuất

KCNC Khu công nghệ cao

KKT Khu kinh tế

MTTQ Mặt trận tổ quốc

Trang 6

ODA Vốn hỗ trợ phát triển chính thức

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

O&M Hợp đồng kinh doanh - quản lý

PPP Hợp đồng đối tác công tư

UBND Uỷ ban nhân dân

UNCTAD Tổ chức thương mại và phát triển của Liên Hợp quốc WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 7

Bảng 3 Sơ đồ quyết định chủ trương đầu tư

của Quốc hội

Trang 206

Bảng 4 Sơ đồ thủ tục quyết định chủ trương

đầu tư của Thủ tướng Chính phủ

Trang 9

MỤC LỤC

1.1 Khái quát về đầu tư và Luật đầu tư 14

1.2 Đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư 26

1.2.1 Các quan hệ đầu tư là đối tượng điều chỉnh

1.2.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật đầu tư 28 1.2.3 Chủ thể của quan hệ pháp luật đầu tư 31

1.3 Phạm vi và phương pháp điều chỉnh của Luật đầu tư 41

1.3.1 Phạm vi điều chỉnh của Luật đầu tư 41 1.3.2 Phương pháp điều chỉnh của Luật đầu tư 44

Chương 2: BẢO ĐẢM, ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ 57

2.1 Khái quát về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi

2.1.1 Sơ lược về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư 58

Trang 10

2.1.2 Vai trò của các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư 60 2.1.3 Hệ thống pháp luật về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ

2.3.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò ưu đãi đầu tư 87

3.1 Khái quát về đầu tư trong nước 119

3.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đầu tư trong nước 120 3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật

3.1.3 Các nguyên tắc thực hiện hoạt động đầu tư trong nước 131

3.2 Các hình thức đầu tư trong nước 141

3.2.1 Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 141 3.2.2 Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần,

3.2.3 Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP 146 3.2.4 Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC 154

Trang 11

3.3 Thủ tục đầu tư trong nước 159

3.3.1 Thủ tục đầu tư theo quyết định chủ trương đầu tư 160 3.3.2 Thủ tục cấp, điều chỉnh và thu hồi Giấy chứng nhận

3.4 Triển khai thực hiện dự án đầu tư 166

3.4.2 Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư 170 3.4.3 Giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ 170

3.4.6 Tạm ngừng và chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư 172 3.4.7 Thành lập và chấm dứt hoạt động văn phòng điều hành

của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng BCC 174

Chương 4: HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI 181

4.1 Khái quát về đầu tư ra nước ngoài 181

4.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đầu tư ra nước ngoài 182 4.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật

4.1.3 Các nguyên tắc thực hiện đầu tư ra nước ngoài 187

4.2 Hình thức đầu tư ra nước ngoài 194

4.3.1 Khái quát chung về thủ tục đầu tư ra nước ngoài 201 4.3.2 Thủ tục quyết định chủ trương đầu tư 202

Trang 12

4.3.3 Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký

4.3.4 Chấm dứt dự án đầu tư ra nước ngoài 219

4.4 Triển khai hoạt động đầu tư ra nước ngoài 222

4.4.4 Sử dụng lợi nhuận để đầu tư ở nước ngoài 228

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LUẬT ĐẦU TƯ

Hoạt động đầu tư là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế của một đất nước Một đất nước có nền kinh tế tăng trưởng

và phát triển là nhờ các chính sách và pháp luật về đầu tư được coi trọng

và triển khai thực hiện một cách hiệu quả Việt Nam là một nước đang phát triển, do vậy, hoạt động đầu tư lại càng được quan tâm thúc đẩy Từ những năm 80 của thế kỷ XIX, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật về đầu tư, trong đó bao gồm hai đạo luật cơ bản: Luật Đầu tư (năm 1986) và Luật Đầu tư nước ngoài (năm 1987) Các văn bản qui phạm pháp luật này đã tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thu hút, triển khai các hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và ra nước ngoài

Hệ thống các qui phạm pháp luật này đã góp phần thu hút được nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước, tạo nên cú hích cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong suốt những thập niên vừa qua Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của lĩnh vực đầu tư nói riêng, hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam cũng thể hiện rõ sự đổi mới và hoàn thiện trong suốt thời gian vừa qua, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế

Trong phần này, giáo trình đi vào tìm hiểu khái quát về Luật đầu tư

để hiểu rõ hơn về vai trò của pháp luật trong điều chỉnh hoạt động đầu tư (1.1) Phần này cũng giúp nhận diện thuật ngữ Luật đầu tư được sử dụng trong giáo trình ở nhiều góc độ khác nhau trước khi đi sâu nghiên cứu Luật đầu tư dưới góc độ một lĩnh vực pháp luật thuộc đối tượng nghiên cứu của môn học Luật đầu tư, trong chương trình đào tạo ngành Luật Kinh tế, bao gồm các nội dung về: Đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư (1.2), phạm vi và phương pháp điều chỉnh (1.3), nguồn của Luật đầu tư (1.4)

Trang 14

1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ VÀ LUẬT ĐẦU TƯ

Để hiểu rõ khái niệm Luật đầu tư, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu

về đầu tư Đối với mỗi nền kinh tế, đầu tư là hoạt động quan trọng tạo ra của cải vật chất mới cho xã hội, là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của một nền kinh tế Để hiểu rõ về hoạt động này, cần tìm hiểu khái niệm đầu tư cũng như các loại hình đầu tư và vai trò của đầu tư đối với chủ thể thực hiện nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung Chính nhu cầu điều chỉnh hoạt động đầu tư tạo nên sự hình thành của pháp luật về đầu tư Do

đó, phần nội dung tiếp theo sẽ đi vào tìm hiểu khái niệm Luật đầu tư ở các góc độ khác nhau

1.1.1 Khái quát về đầu tư

a Khái niệm đầu tư

Đầu tư có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Tương ứng với từng góc độ tiếp cận, đầu tư sẽ có thể có những cách hiểu khác nhau Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư được hiểu là sự bỏ vốn ra cùng với các nguồn lực khác (máy móc, sức lao động, trí tuệ, ) trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó hoặc tạo ra hay khai thác sử dụng một tài sản nào đó nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai, ví dụ việc mua máy móc, thiết bị, cây cối, nhà xưởng nhằm mục đích sản xuất được coi

là đầu tư Ở góc độ này, đầu tư cũng có thể được hiểu là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đạt được giá trị lớn hơn, dù có thể không chắc chắn, trong tương lai

Ở góc độ tài chính, đầu tư là việc mua một tài sản với hy vọng sẽ tạo ra thu nhập hoặc sự đánh giá cao trong tương lai và được bán với giá cao hơn Đầu tư cũng có thể được hiểu là chuỗi hành động chi của các chủ thể nhằm đạt đến chuỗi hành động thu để hoàn vốn và sinh lời Theo nghĩa này, đầu tư không bao gồm các khoản tiền tiết kiệm gửi tại ngân hàng hay các tổ chức tín dụng Thuật ngữ đầu tư thường được sử dụng khi thực hiện một hoạt động mang tính dài hạn, với mức độ rủi ro cao

Trang 15

Đầu tư trong cách hiểu của kinh tế học hướng tới sự gia tăng khối lượng tư bản hay năng lực sản xuất của nền kinh tế Trong khi đó, đầu tư trong tài chính hướng tới sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản hiện có từ thể nhân, pháp nhân này sang thể nhân, pháp nhân khác

Đầu tư cũng có thể hiểu là một hoạt động thương mại, tức là hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận, bên cạnh các hoạt động thương mại khác như mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại, Đây là cách hiểu mà Luật Thương mại 2005 của Việt Nam đang hướng theo khi qui định hoạt động thương mại là mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm cả hoạt động đầu tư (khoản 1, Điều 3, Luật Thương mại 2005) Cách hiểu này cũng được một số tổ chức quốc tế áp dụng như WTO, UNCITRAL Theo đó, đầu tư thuộc nội hàm của hoạt động thương mại

Dù có thể có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng tựu chung, các khái niệm về đầu tư đều giống nhau ở một điểm, đó là đều hướng tới sự gia tăng lợi ích trong tương lai bằng việc hy sinh các nguồn lực ở hiện tại Lợi ích đó có thể là lợi ích kinh tế hoặc lợi ích xã hội tùy vào mục đích thực hiện của hoạt động đầu tư Để đánh giá sự gia tăng lợi ích của đầu

tư, người ta có thể sử dụng các tiêu chí khác nhau Trong sản xuất kinh doanh, người ta có thể sử dụng tiêu chí lợi nhuận, được hiểu là chênh lệch giữa thu nhập đem lại với chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động đầu

tư Ở tầm vĩ mô, các tiêu chí như tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP), gia tăng số lượng việc làm, tài sản mới được tạo ra lại thường được sử dụng

Xét ở góc độ pháp luật, đầu tư là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật công nhận và bảo vệ Để thực hiện đầu tư, các chủ thể này đem vốn, tài sản hợp pháp ban đầu mình để thực hiện hoạt động theo các hình thức được pháp luật qui định Theo đó, pháp luật Việt Nam hiện hành hướng tới việc điều chỉnh hoạt động đầu tư nhằm mục đích sinh lời, hay

còn gọi là đầu tư kinh doanh Căn cứ vào Luật Đầu tư năm 2014, đầu tư kinh doanh được hiểu là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt

Trang 16

động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư (khoản 5, Điều 3) Kết hợp

với Luật Doanh nghiệp 2014, kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời (khoản 16, Điều 4) Như vậy, đầu tư có thể được hiểu

là giai đoạn khởi đầu của quá trình kinh doanh Để thực hiện hoạt động kinh doanh, nhà đầu tư sẽ trang bị cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị, nhà xưởng Lúc này, hoạt động đầu tư được coi là nền tảng để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại khác Hoạt động đầu tư kinh doanh chỉ được thực hiện theo các hình thức mà pháp luật qui định và vào những ngành nghề, lĩnh vực mà nhà nước không cấm Pháp luật mỗi quốc gia sẽ có những qui định không cho phép thực hiện đầu tư hoặc hạn chế đầu tư kinh doanh trong một số những lĩnh vực hoạt động nhất định, bên cạnh những lĩnh vực mà quốc gia đó ưu tiên phát triển với các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ đầu tư

Như vậy, theo nghĩa chung nhất, đầu tư được hiểu là việc sử dụng vốn hay nguồn lực vào một hoặc một số hoạt động nhất định, dưới các hình thức nhất định, nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận và/hoặc nhằm gia tăng lợi ích kinh tế - xã hội

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy đầu tư kinh doanh có bốn đặc điểm cơ bản sau:

- Thứ nhất, đây là hoạt động sử dụng tài sản hay vốn ban đầu của nhà đầu tư: Tài sản được sử dụng để đầu tư bao gồm cả tài sản hữu hình

và tài sản vô hình được pháp luật công nhận Để thực hiện đầu tư, các nhà đầu tư cần phải sử dụng những tài sản thuộc sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình Nói một cách khác, tài sản được đem

ra để thực hiện hoạt động đầu tư phải là các tài sản hợp pháp của nhà đầu

tư Đối với các tài sản mà nhà đầu tư có quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp, nhà đầu tư sẽ được pháp luật bảo vệ

Trang 17

- Thứ hai, đầu tư là hoạt động mang tính chất lâu dài: Thông

thường, hoạt động đầu tư hướng tới các mục tiêu trong tương lai trung và dài hạn Thời gian thực hiện hoạt động đầu tư thường kéo dài, có thể là 5 năm, 10 năm hoặc có thể kéo dài nhiều hơn Đây là đặc điểm quan trọng

để phân biệt hoạt động đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận với các hoạt động thương mại khác Trong trường hợp này, dù cả hai hoạt động đều hướng tới mục đích lợi nhuận, nhưng tính dài hạn của quá trình thực hiện tạo nên điểm khác biệt giữa hai hoạt động này Có thể lấy ví dụ, nếu như hoạt động mua, bán hàng hóa nhằm hướng tới lợi nhuận được hoàn thành bằng việc mua hàng và thanh toán tiền hàng trong thời gian ấn định thì hoạt động đầu tư lại kéo dài với việc tổ chức thực hiện phức tạp hơn để đạt được mục tiêu đặt ra

- Thứ ba, đầu tư chứa đựng rủi ro: Do đầu tư là hoạt động phải bỏ

ra nguồn lực ban đầu để hướng tới kết quả trong tương lai nên hoạt động này gắn liền với rủi ro, mạo hiểm Có thể nói, rủi ro luôn là yếu tố song hành của đầu tư và các nhà đầu tư luôn phải đối mặt với nó trong suốt quá trình thực hiện hoạt động đầu tư Rủi ro có thể tới từ nhiều nguyên nhân: rủi ro chính trị, rủi ro về pháp luật, rủi ro lạm phát, rủi ro về thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản Rủi ro có thể xuất phát từ chính những nguyên nhân nội tại của nhà đầu tư, nhưng đa phần là xuất phát từ những nguyên nhân mang tính khách quan, nằm ngoài khả năng chế ngự của nhà đầu tư, như sự thay đổi về chính sách, pháp luật, sự biến động của thị trường Đối với những rủi ro này, nếu chỉ căn cứ vào khả năng của nhà đầu tư thì khó có thể hạn chế được, cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước, của Chính phủ, mới có thể giúp nhà đầu tư giảm thiểu được các tác động của rủi ro khi thực hiện hoạt động đầu tư Chính vì vậy, đây là một trong những yếu tố quan trọng khiến nhà đầu tư phải cân nhắc nhiều trước khi đi đến quyết định đầu tư

- Thứ tư, đầu tư mang tính sinh lời: Khi thực hiện hoạt động đầu tư,

hầu hết các nhà đầu tư đều kỳ vọng ở lợi nhuận thu được Lợi nhuận này cũng có thể được coi là tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu

tư Hiệu quả trong đầu tư chính là động lực thúc đẩy nhà đầu tư thực hiện

Trang 18

hoạt động đầu tư Do vậy, để khuyến khích đầu tư, nhà nước cũng cần có những biện pháp giúp nhà đầu tư có thể đạt được tối đa hiệu quả đầu tư Dựa trên bốn đặc điểm cơ bản được phân tích nêu trên của đầu tư, pháp luật mỗi quốc gia có những qui định cụ thể để điều chỉnh về hoạt động này nhằm mục đích bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực mà nhà nước ưu tiên, có

cơ chế tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư nhằm đạt được hiệu quả của đầu tư Mỗi hoạt động đầu tư có những mục tiêu cụ thể, tuy nhiên các mục tiêu này cần phải phù hợp với mục tiêu chung mà nhà nước đặt ra đối với các hoạt động này

b Phân loại đầu tư

Dựa trên cơ sở các tiêu chí khác nhau, có thể phân chia đầu tư thành các loại sau:

- Dựa vào lĩnh vực hoạt động: Đầu tư được phân thành đầu tư phát

triển sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư cho quản lý,

- Dựa vào thời gian thực hiện để đạt được mục tiêu đặt ra: Đầu tư

được phân thành: Đầu tư ngắn hạn (thời gian dự định đạt được mục tiêu đặt ra nhỏ hơn hoặc bằng một năm); đầu tư trung hạn và dài hạn (thời gian dự định đạt được mục tiêu đặt ra lớn hơn một năm)

- Dựa vào tính chất đầu tư: Đầu tư được phân thành đầu tư chiều

rộng hay đầu tư mới (nhằm hình thành nên cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mới); đầu tư thay thế (nhằm đổi mới tài sản cố định làm cho chúng đồng bộ và tiến bộ về mặt kỹ thuật); đầu tư mở rộng hay đầu tư chiều sâu (nhằm mở rộng qui mô, nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, cải tạo, nâng cấp, trang bị lại, đồng bộ hóa, hiện đại hóa với mục đích cung cấp thêm sản phẩm cùng loại)

- Dựa vào chức năng quản lý vốn đầu tư: Đầu tư được phân thành:

Đầu tư gián tiếp là trường hợp nhà đầu tư không trực tiếp tham gia vào quản lý vốn đầu tư (như việc mua cổ phiếu, trái phiếu, ) và đầu tư trực

Trang 19

tiếp là phương thức đầu tư trong đó nhà đầu tư trực tiếp tham gia quản lý vốn đầu tư (khi đó, người bỏ vốn và người quản lý sử dụng vốn là một chủ thể) Trong đầu tư trực tiếp, lại có thể phân thành: Đầu tư dịch chuyển (là loại đầu tư trong đó nhà đầu tư mua một lượng vốn đủ lớn để nắm quyền chi phối hoạt động doanh nghiệp, việc đầu tư không làm gia tăng tài sản mà chỉ làm thay đổi quyền sở hữu vốn trong doanh nghiệp)

và đầu tư phát triển (là đầu tư nhằm tạo nên năng lực sản xuất mới, cả về lượng và vật chất, hình thức này là tiền đề để thực hiện đầu tư gián tiếp

và đầu tư dịch chuyển)

- Dựa vào lãnh thổ thực hiện hoạt động đầu tư: Có thể phân loại

thành đầu tư trong nước (là hoạt động đầu tư được thực hiện tại Việt Nam) và đầu tư ra nước ngoài (là đầu tư được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam)

- Dựa vào đối tượng đầu tư: Có thể phân thành đầu tư vật chất (đầu

tư tài sản như nhà xưởng, máy móc thiết bị ) và đầu tư tài chính

- Dựa vào các hình thức đầu tư: Có thể phân thành đầu tư thành lập

tổ chức kinh tế; đầu tư mua cổ phần, phần vốn góp, góp vốn; đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) và đầu tư theo hình thức hợp đồng đối tác công tư (PPP)

c Vai trò của đầu tư

Với các đặc điểm của mình, đầu tư là một hoạt động có vai trò quan trọng đến sự gia tăng tài sản của nhà đầu tư nói riêng và của cả nền kinh

tế đất nước nói chung

1) Đối với nhà đầu tư

Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đầu tư giúp nhà đầu tư gia tăng được nguồn lực, mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường

và nâng cao năng lực cạnh tranh Thực hiện hoạt động đầu tư giúp nhà đầu tư có được cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công nghệ để tạo nền tảng cho sản xuất kinh doanh Kết quả của hoạt động đầu tư là sự gia tăng thêm được tài sản, gia tăng thêm được lợi ích trong sản xuất kinh

Trang 20

doanh từ đó mở rộng được qui mô sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường Việc thực hiện hoạt động đầu tư trong nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng giúp nhà đầu tư tạo ra được các sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường

2) Đối với nền kinh tế

Đối với một nền kinh tế, đầu tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đầu

tư không chỉ đóng vai trò trong quá trình tái sản xuất xã hội mà còn tạo

“cú hích” cho sự phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tế thu hút được đầu tư từ các chủ thể trong và ngoài nước sẽ khiến nền kinh tế ngày càng tăng trưởng Bất kỳ hoạt động đầu tư được thực hiện bởi các cá nhân, tổ chức là chủ thể tư hay bởi nhà nước thì lợi ích mà hoạt động đầu tư đem lại không chỉ dừng lại ở những lợi ích đối với chính nhà đầu tư, mà còn đối với cả nền kinh tế nói chung Đầu tư là hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác Đầu tư cũng là hoạt động tạo ra việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống của người dân trong xã hội, phát triển sản xuất, phát triển nền kinh tế Có thể nói, đầu tư là cốt lõi, là động lực cho sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế

Đầu tư cũng góp phần nâng cao trình độ khoa học công nghệ của đất nước Những hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào, đặc biệt là từ những nước có nền kinh tế phát triển, sẽ giúp quốc gia tiếp nhận đầu tư

có cơ hội tiếp cận được các công nghệ hiện đại, dây chuyền sản xuất tiên tiến, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học Chính vì vậy, các quốc gia chậm phát triển hoặc đang phát triển thường có các chính sách thu hút hoạt động đầu tư nước ngoài từ các quốc gia phát triển để tận dụng được những lợi thế khoa học công nghệ Những thành tựu khoa học công nghệ

từ các nước phát triển sẽ giúp cho nền kinh tế của các quốc gia này tăng trưởng Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các quốc gia này phụ thuộc nhiều vào việc đầu tư cho khoa học công nghệ

Trang 21

1.1.2 Khái niệm Luật đầu tư

Luật đầu tư có thể được hiểu với nhiều ý nghĩa khác nhau Luật đầu

tư có thể được hiểu với ý nghĩa là một lĩnh vực pháp luật về đầu tư (a), hoặc được hiểu là một đạo luật (b), hoặc một khoa học pháp lý (c) hoặc

là một môn học nghiên cứu về đầu tư (d)

a Khái niệm Luật đầu tư với ý nghĩa là một lĩnh vực pháp luật

về đầu tư

Luật đầu tư trước tiên được hiểu là một lĩnh vực pháp luật điều chỉnh về hoạt động đầu tư Khi đó Luật đầu tư là tổng hợp các qui định của pháp luật điều chỉnh về hoạt động đầu tư Với ý nghĩa này, Luật đầu

tư có thể được hiểu giống như khái niệm pháp luật về đầu tư Pháp luật

về đầu tư là tổng hợp các qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm việc thực hiện, nhằm điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh và các quan hệ phát sinh từ hoạt động đầu tư kinh doanh Pháp luật về đầu tư có thể bao gồm cả pháp luật quốc gia về đầu tư và pháp luật quốc tế về đầu tư1

Pháp luật quốc gia về đầu tư được hiểu là tổng hợp các qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các hoạt động đầu tư phù hợp với chính sách về đầu tư của mỗi quốc gia Vì hoạt động đầu tư đang được tiếp cận theo cách hiểu là một hoạt động kinh doanh, thương mại, do vậy, hoạt động đầu tư được điều chỉnh bởi các qui định về thương mại, về đầu tư kinh doanh và cả các qui phạm về quyền sở hữu,

về quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh

Các qui phạm pháp luật về đầu tư được chứa đựng trong nhiều văn bản qui phạm pháp luật trong nước, trong đó, cơ bản là Hiến pháp và những văn bản luật chuyên ngành như Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Khoa học và Công nghệ, Các qui phạm pháp luật về đầu tư

1 Trong Giáo trình Luật Đầu tư, việc sử dụng thuật ngữ “pháp luật về đầu tư” hay

“pháp luật đầu tư” có ý nghĩa thay thế nhau Việc sử dụng thay đổi các thuật ngữ này chỉ nhằm phù hợp với ngữ cảnh được đề cập đến

Trang 22

còn được chứa đựng trong những văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư của Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ Ngoài ra, pháp luật về đầu tư còn được xây dựng dựa trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có chứa đựng các cam kết quốc tế về đầu tư của Chính phủ Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, pháp luật về đầu tư của một quốc gia chịu ảnh hưởng bởi các cam kết quốc tế về đầu

tư của quốc gia đó Những cam kết quốc tế về đầu tư tác động lớn đến sự hình thành và phát triển của pháp luật quốc gia về đầu tư Để thực hiện các cam kết quốc tế, các quốc gia sẽ tiến hành nội luật hóa thành các qui định pháp luật trong nước Những qui định liên quan đến bảo đảm đầu tư trong pháp luật quốc gia là minh chứng rõ nét cho ảnh hưởng của cam kết quốc tế về đầu tư đến hệ thống pháp luật quốc gia về đầu tư Trong

đó những cam kết về bảo đảm quyền sở hữu của các nhà đầu tư, bảo đảm

sự lưu thông về tài sản cho các nhà đầu tư đã được cụ thể hóa thành các biện pháp bảo đảm đầu tư trong qui định của Luật Đầu tư năm 2014, nhằm mục đích tạo sự an tâm cho các nhà đầu tư khi triển khai thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ quốc gia

Ngược lại, sự thừa nhận một cách rộng rãi các biện pháp về bảo đảm đầu tư của các quốc gia đã nâng tầm các biện pháp này lên tầm quốc

tế, trở thành một bộ phận cấu thành của pháp luật quốc tế về đầu tư Pháp luật quốc tế về đầu tư được định nghĩa là tổng hợp các qui phạm thuộc điều ước quốc tế, luật quốc gia, tập quán đầu tư, án lệ, học thuyết pháp lý điều chỉnh về hoạt động đầu tư trên phạm vi quốc tế Hệ thống pháp luật này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hóa Một trong những ý nghĩa quan trọng của pháp luật quốc tế về đầu tư

là nhằm giải quyết những xung đột lợi ích quốc gia bên cạnh lợi ích của các nhà đầu tư nhằm bảo đảm cho hoạt động đầu tư được diễn ra thông suốt, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư

Pháp luật về đầu tư cũng có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật về nhân quyền Quyền hợp pháp của các nhà đầu tư với tư cách là các thể

Trang 23

nhân sẽ luôn được công nhận và bảo vệ Trong những trường hợp có sự phân biệt đối xử, hoặc có sự đối xử đi ngược lại với công lý nhà đầu tư sẽ được bảo vệ trên cơ sở các cam kết quốc tế về nhân quyền mà quốc gia tiếp nhận đầu tư phải tuân thủ

b Luật đầu tư với ý nghĩa là một đạo luật

Thuật ngữ Luật đầu tư cũng có thể được hiểu với ý nghĩa là một đạo luật, một loại văn bản chứa đựng các qui phạm pháp luật điều chỉnh

về đầu tư Trong hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay, chúng ta có đạo luật Luật Đầu tư năm 2014, được Quốc hội khóa 13 thông qua vào ngày 26 tháng 11 năm 2014, thay thế cho Luật Đầu tư năm 2005 trước đó

Với tư cách là một đạo luật, Luật Đầu tư năm 2014 là văn bản có hiệu lực cao nhất trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh, điều chỉnh những vấn

đề mang tính nguyên tắc về quyền tự do đầu tư kinh doanh của các chủ thể, về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, các thủ tục đầu tư

và một số hoạt động diễn ra trong quá trình đầu tư Tuy nhiên, Luật Đầu

tư năm 2014 chỉ giới hạn phạm vi điều chỉnh ở hoạt động đầu tư kinh doanh, tức là hoạt động đầu tư được thực hiện bởi các chủ thể tư nhân,

mà không điều chỉnh hoạt động đầu tư công

Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành

và các văn bản pháp luật khác có liên quan tạo nên một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ điều chỉnh các hoạt động đầu tư kinh doanh Luật Đầu tư năm 2014 ra đời đánh dấu sự thay đổi quan trọng của pháp luật đầu tư của Việt Nam theo hướng tiếp cận dần với các chuẩn mực quốc tế về đầu tư Những thay đổi trong tư duy về đầu tư, trong cách tiếp cận về đầu tư thể hiện trong các qui định của Luật Đầu tư năm

2014, trong so sánh với Luật Đầu tư năm 2005 đã thể hiện sự tiến bộ vượt bậc của pháp luật Việt Nam trong việc xây dựng một hệ thống qui phạm pháp luật đầu tư theo hướng chuẩn mực và hiện đại

Trang 24

c Luật đầu tư với ý nghĩa là một khoa học

Với ý nghĩa là một khoa học pháp lý, Luật đầu tư được hiểu là một ngành khoa học nghiên cứu về pháp luật đầu tư

Đối tượng nghiên cứu của khoa học Luật đầu tư là pháp luật về đầu

tư, bao gồm các qui phạm pháp luật trong nước cũng như quốc tế điều chỉnh về hoạt động đầu tư bao gồm những khái niệm, quan điểm, phạm trù về những vấn đề pháp lý của Luật đầu tư, trong đó có những nội dung

- Đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư: Nội dung này được

nghiên cứu nhằm xác định rõ được các quan hệ pháp luật đầu tư và đặc điểm của các quan hệ này

- Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đầu tư: Việc nghiên cứu nội

dung này nhằm giúp xác định được giới hạn những vấn đề pháp lý được pháp luật về đầu tư điều chỉnh

- Thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư: Đây cũng là nội dung

nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá được những ưu điểm, hạn chế của các qui phạm pháp luật thực định về đầu tư để từ đó tìm ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư

Việc nghiên cứu pháp luật về đầu tư sẽ được thực hiện theo các phương pháp nghiên cứu khác nhau, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Mục tiêu chung của khoa học Luật đầu tư là nhằm hệ thống hóa được các qui phạm pháp luật về đầu tư, xác định được các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về đầu tư, sự phát triển của pháp luật về đầu tư từ lịch sử tới hiện tại và trong tương lai Khoa học Luật đầu tư cũng nghiên cứu về các chế định pháp luật về đầu tư và đưa ra các giải pháp hoàn thiện Xét ở góc độ nghiên cứu, pháp luật về đầu tư sẽ bao gồm không chỉ các qui

Trang 25

định của pháp luật hiện hành điều chỉnh về các hoạt động đầu tư, mà còn bao gồm cả các qui định của pháp luật đã được ban hành và được thay thế Việc nghiên cứu các qui phạm này giúp ta hiểu sâu hơn về ý nghĩa, vai trò và sứ mệnh của các qui định pháp luật ở từng giai đoạn lịch sử Khoa học Luật đầu tư giúp cho nhà nghiên cứu cũng như người đọc hiểu được một cách khái quát pháp luật về đầu tư, lý giải được sự phát triển của pháp luật đầu tư qua các giai đoạn, thời kỳ, cũng như lý giải được ý nghĩa, bản chất của các chế định pháp lý trong pháp luật về đầu

tư Việc nghiên cứu Luật đầu tư cũng giúp nhận diện, dự đoán được xu hướng phát triển của pháp luật về đầu tư để từ đó xây dựng được hệ thống các qui phạm pháp luật có chất lượng, đạt tiêu chí về tính thống nhất và tính ổn định

Khoa học Luật đầu tư có vị trí là một nhánh của khoa học Luật thương mại và có mối quan hệ chặt chẽ với các môn khoa học pháp lý khác như: khoa học Luật dân sự, khoa học Luật kinh tế, khoa học Luật thương mại quốc tế

d Luật đầu tư với ý nghĩa là một môn học

Với ý nghĩa là một môn học, Luật đầu tư được hiểu là một môn học hay một học phần trong chương trình đào tạo thuộc một chuyên ngành đào tạo cụ thể Môn học Luật đầu tư thường được xây dựng trong các chương trình đào tạo chuyên ngành luật tại các cơ sở đào tạo bậc đại học, sau đại học

Môn học Luật đầu tư có mục tiêu tìm hiểu lĩnh vực pháp luật về đầu tư, bao gồm những vấn đề lý luận về đầu tư, pháp luật về đầu tư, về các chế định pháp lý đầu tư, về trình tự, thủ tục đầu tư, về những biện pháp quản lý nhà nước về đầu tư Trên cơ sở những kiến thức mang tính

lý thuyết về đầu tư, môn học Luật đầu tư cung cấp các kỹ năng về việc

áp dụng qui định pháp luật đầu tư, các kỹ năng về phân tích, bình luận, đánh giá các qui phạm pháp luật đầu tư và giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tiễn đầu tư

Trang 26

Môn học Luật đầu tư thường được thiết kế là một môn học có tính bắt buộc trong nhóm các môn học thuộc kiến thức chuyên ngành của các chương trình đào tạo chuyên ngành luật Dù là môn học bắt buộc hay tự chọn, môn học Luật đầu tư có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các kiến thức cần thiết giúp người học có được hiểu biết toàn diện về pháp luật kinh tế của Việt Nam nói riêng và hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung

Trong giáo trình Luật đầu tư, thuật ngữ Luật đầu tư được sử dụng với ý nghĩa là một lĩnh vực pháp luật về đầu tư Do vậy, Luật đầu tư sẽ được tiếp cận theo góc độ là một lĩnh vực pháp luật với đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và nguồn luật điều chỉnh riêng

1.2 ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT ĐẦU TƯ

Với tư cách là một lĩnh vực pháp lý, đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư là các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong việc xác lập và triển khai thực hiện các hoạt động đầu tư mà luật điều chỉnh Việc xác định quan hệ đầu tư là đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư có thể được thực hiện theo các tiêu chí khác nhau (1.2.1.), tuy nhiên, dù được nhận diện theo tiêu chí nào thì các quan hệ pháp luật đầu tư cũng thường hội tụ những đặc điểm giúp phân biệt với các quan hệ pháp luật thuộc đối tượng điều chỉnh của các lĩnh vực pháp lý khác (1.2.2.) Nội dung cuối cũng sẽ đi vào tìm hiểu chủ thể của các quan hệ pháp luật đầu tư (1.2.3) Đây là những chủ thể có quyền và nghĩa theo qui định của pháp luật khi tham gia vào quan hệ pháp luật đầu tư

1.2.1 Các quan hệ đầu tư là đối tượng điều chỉnh của Luật Đầu tư

Quan hệ đầu tư được hiểu là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư, trong đó các bên tham gia cần phải đáp ứng các điều kiện do nhà nước qui định, có những quyền và nghĩa vụ nhất định theo qui định của pháp luật về đầu tư Các quan hệ đầu tư được điều chỉnh bởi pháp

Trang 27

luật tạo ra quan hệ pháp luật đầu tư Quan hệ pháp luật đầu tư có thể được coi là một bộ phận của quan hệ pháp luật dân sự nói chung vì nó cũng nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm Tuy nhiên, quan hệ đầu tư có những đặc điểm riêng biệt nhất định

so với các quan hệ dân sự khác

Xét ở góc độ quá trình, các quan hệ được pháp luật đầu tư điều chỉnh bao gồm tổng hợp các quan hệ giữa các chủ thể phát sinh từ việc bắt đầu xác lập hoạt động đầu tư đến khi triển khai thực hiện và chấm dứt hoạt động đầu tư Tất cả các quan hệ được xác lập và được pháp luật điều chỉnh trong suốt quá trình này được gọi chung là quan hệ pháp luật đầu

tư Ví dụ: khi nhà đầu tư thực hiện thủ tục đầu tư tại cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư thì thủ tục đầu tư được qui định rõ trong Luật đầu tư với các quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước cũng như quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi thực hiện các thủ tục, như vậy, các chủ thể

đã tham gia vào quan hệ pháp luật đầu tư thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư

Xét ở góc độ chủ thể, quan hệ pháp luật đầu tư có thể được xác lập giữa các cơ quan có thẩm quyền về đầu tư, giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà đầu tư, giữa các nhà đầu tư với nhau Ví dụ: việc ký kết hợp đồng hợp tác liên doanh giữa các nhà đầu tư với nhau đã tạo ra quan hệ đầu tư được Luật đầu tư điều chỉnh Khi đó, các chủ thể chịu sự ràng buộc bởi các qui định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên Quan hệ pháp luật này được nhà nước bảo đảm thực hiện

Xét ở yếu tố nước ngoài xuất hiện trong quan hệ pháp luật đầu tư,

có thể phân quan hệ pháp luật đầu tư thành quan hệ pháp luật đầu tư không có yếu tố nước ngoài và quan hệ pháp luật đầu tư có yếu tố nước ngoài Yếu tố nước ngoài xuất hiện trong quan hệ pháp luật đầu tư có thể

là ở chủ thể, có thể là ở đối tượng mà quan hệ hướng tới, có thể là ở địa điểm xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đầu tư đó Việc xác định quan

hệ pháp luật đầu tư có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong

Trang 28

việc xác định pháp luật điều chỉnh quan hệ này Ví dụ: Trong trường hợp chủ thể tham gia quan hệ đầu tư là nhà đầu tư nước ngoài thì các bên có quyền thỏa thuận về pháp luật điều chỉnh quan hệ đầu tư giữa họ

Ngoài ra, việc xác định quan hệ đầu tư thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư còn giúp cho việc xác định được phạm vi điều chỉnh của Luật đầu tư được rõ ràng

1.2.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật đầu tư

Các quan hệ pháp luật đầu tư có bản chất và đặc điểm chung của một quan hệ pháp luật dân sự, nhưng có một số đặc điểm riêng biệt, đặc thù Quan hệ pháp luật đầu tư được phát sinh giữa các chủ thể nhằm xác lập, triển khai và kết thúc hoạt động đầu tư Có thể nhận diện quan hệ pháp luật đầu tư thông qua một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, về chủ thể của quan hệ pháp luật đầu tư: Chủ thể chủ

yếu của quan hệ pháp luật đầu tư chính là các nhà đầu tư Các nhà đầu tư

có thể là cá nhân hoặc tổ chức Đối với chủ thể là cá nhân, để có thể tham gia quan hệ pháp luật đầu tư, cá nhân phải đáp ứng những điều kiện nhất định về mặt năng lực pháp lý Các chủ thể phải có năng lực hành vi dân

sự Đối với chủ thể là tổ chức, tổ chức phải có tư cách pháp nhân Năng lực hành vi dân sự hay tư cách pháp nhân của các chủ thể do pháp luật của mỗi quốc gia qui định Pháp luật về đầu tư của mỗi quốc gia, của mỗi điều ước quốc tế có thể đưa ra những cách xác định khác nhau về nhà đầu tư

Bên cạnh đó, còn có những chủ thể khác cũng tham gia vào hoạt động đầu tư như cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chủ thể có liên quan khác như các chủ thể cho nhà đầu tư thuê cơ sở vật chất, kỹ thuật, các nhà thầu giúp nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư Đối với những chủ thể này, pháp luật đầu tư qui định những quyền và nghĩa vụ nhất định căn cứ vào địa vị pháp lý của từng chủ thể

Thứ hai, về nội dung của quan hệ pháp luật đầu tư: Nội dung của

quan hệ pháp luật đầu tư chính là các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể

Trang 29

khi thực hiện hoạt động đầu tư Tùy vào từng hình thức đầu tư mà nội dung của quan hệ đầu tư có thể có sự khác nhau tương ứng với đặc thù của từng hình thức đầu tư Các quyền và nghĩa vụ này của các chủ thể thường mang tính đối ứng, quyền của chủ thể này là nghĩa vụ đối với chủ thể kia Ví dụ, nhà đầu tư trong nước có quyền được đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Khi đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi hồ sơ đề nghị hợp lệ Các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong trường hợp này thường liên quan đến những vấn đề về bảo đảm đầu tư, ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư, thủ tục đầu tư, quá trình thực hiện hoạt động đầu tư Trong quan hệ giữa các chủ thể là các nhà đầu tư với nhau, nội dung của quan

hệ giữa họ thường là các quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản, đến quyền sở hữu tài sản có liên quan đến hoat động đầu tư, bao gồm những tài sản được sử dụng để thực hiện hoạt động đầu tư hoặc là kết quả của hoạt động đầu tư

Thứ ba, về khách thể của quan hệ pháp luật đầu tư: Đây là đối

tượng mà các chủ thể của quan hệ pháp luật đầu tư hướng tới, tác động vào Nói một cách khác, đây là những lợi ích vật chất, tinh thần mà pháp luật bảo vệ cho các chủ thể trong quan hệ pháp luật đầu tư Khách thể của quan hệ pháp luật đầu tư thường tập trung vào nhóm sau:

- Tài sản: Tài sản là khách thể có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà đầu tư Bởi, tài sản chính là công cụ thực hiện hoạt động đầu tư và cũng là mục tiêu và kết quả của hoạt động đầu tư Tài sản của nhà đầu tư

có thể là tiền, vàng, kim loại quí, cũng có thể các giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu, ), cũng có thể là quyền tài sản (quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ, ), cũng có thể là các tổ chức kinh tế được thành lập bởi nhà đầu tư (doanh nghiệp), hợp đồng Các tài sản này bao gồm cả tài sản vô hình và tài sản hữu hình, động sản hoặc bất động sản và quyền tài sản có liên quan như cho thuê, cầm cố, thế chấp Trong pháp luật về đầu tư, các tài sản này có thể được sử dụng với thuật ngữ “khoản đầu tư” Khoản đầu tư thường được định nghĩa là một loại tài sản được thiết lập phù hợp với qui định pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư Việc xác định rõ khoản

Trang 30

đầu tư là nhằm bảo đảm rằng khoản đầu tư này được bảo vệ bởi pháp luật Cùng với việc nhận diện nhà đầu tư tham gia quan hệ pháp luật đầu

tư, việc xác định khoản đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đối tượng điều chỉnh của pháp luật về đầu tư

- Quyền sử dụng đất: Đất là loại tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện và thống nhất quản lý Tuy nhiên, Nhà nước công nhận các quyền cho người sử dụng đất Quyền sử dụng đất là một trong các quyền quan trọng mà nhà đầu tư quan tâm Bởi đối với đa phần các

dự án đầu tư, quyền sử dụng đất có ý nghĩa sống còn đối với việc thực hiện, triển khai các dự án đầu tư Pháp luật qui định cho nhà đầu tư khi đáp ứng các điều kiện nhất định của người sử dụng đất, có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng, cho, cho thuê lại, góp vốn, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất

- Hành vi và các dịch vụ công: Hành vi của các chủ thể trong quan

hệ pháp luật đầu tư cũng có thể được coi là khách thể của quan hệ này Khách thể này xuất hiện trong quan hệ nghĩa vụ đầu tư Ví dụ như trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước với nhà đầu tư thì nghĩa vụ của cơ quan nhà nước là phải xem xét việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài, còn khách thể của quan hệ này là hành vi của cơ quan nhà nước có hay không cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp cụ thể Khách thể của quan hệ pháp luật đầu tư cũng có thể là dịch vụ công mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ cung cấp cho các nhà đầu tư Ví dụ như dịch vụ công về việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký đầu tư của nhà đầu tư Các dịch vụ công này thường liên quan đến việc thực hiện các thủ tục đầu tư được pháp luật qui định

Thứ tư, về hình thức của quan hệ pháp luật đầu tư: Quan hệ pháp

luật đầu tư có thể được thể hiện dưới những hình thức pháp lý khác nhau Hình thức pháp lý của quan hệ đầu tư có thể là hợp đồng, có thể là một thỏa thuận quốc tế, hoặc cũng có thể là điều ước quốc tế, hoặc cũng có thể là một hành vi hoặc dịch vụ hành chính công Việc xác định được

Trang 31

hình thức của quan hệ pháp luật đầu tư sẽ giúp xác định được cơ sở pháp

lý để điều chỉnh các quan hệ này trong thực tiễn Đối với các quan hệ đầu

tư được xác lập trên cơ sở điều ước quốc tế, quan hệ đầu tư sẽ phải tuân thủ các cam kết quốc tế mà Chính phủ và Nhà nước Việt Nam đưa ra Trường hợp quan hệ đầu tư được xác lập trên cơ sở hợp đồng hoặc thỏa thuận quốc tế, việc thực hiện hợp đồng, thỏa thuận quốc tế sẽ được thực hiện trên cơ sở các cam kết ở trong hợp đồng, thỏa thuận quốc tế đó và qui định của pháp luật điều chỉnh

1.2.3 Chủ thể của quan hệ pháp luật đầu tư

Đầu tư có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh

tế xã hội trong đó chủ thể đầu tư chính là chủ thể thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh Trong pháp luật đầu tư thì chủ thể đầu tư được hiểu là nhà đầu tư Trong mục này, giáo trình đề cập đến nhà đầu tư (a) và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư (b)

a Nhà đầu tư

Mỗi hệ thống pháp luật quốc gia có cách hiểu không giống nhau về nhà đầu tư Cách xác định nhà đầu tư có ý nghĩa then chốt trong quyết định phạm vi áp dụng, các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư theo quy định của pháp luật của từng quốc gia Việc xác định rõ nhà đầu tư cũng

là điểm mấu chốt cho việc thực hiện các cam kết quốc tế về đầu tư của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ

Luật Đầu tư Indonesia năm 2007 xác định: “(4) Nhà đầu tư là cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện đầu tư vốn, là nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài” Tương tự, Luật khuyến khích đầu tư của Lào quy định rằng, nhà đầu tư là một thể nhân hoặc pháp nhân, cả trong và ngoài nước, đầu tư hợp pháp vào CHDCND Lào hoặc ở nước ngoài2 Cách xác định này cho thấy, để được coi là nhà đầu tư thì chủ thể đó phải

“thực hiện đầu tư” hoặc “đầu tư”

2 Khoản 2 Điều 3 Luật khuyến khích đầu tư Lào 2016

Trang 32

Ngược lại, đạo luật đầu tư của Canada không trực tiếp sử dụng từ

“investors” khi đề cập đến chủ thể thực hiện đầu tư nói chung mà trực tiếp xác định chủ thể đầu tư thông qua cá nhân, tổ chức người Canada và

cá nhân, tổ chức không phải người Canada (người không phải người Canada có nghĩa là cá nhân, chính phủ hoặc cơ quan của họ hoặc một thực thể không phải là người Canada)3

Như vậy, hầu hết các quốc gia đều xác định nhà đầu tư có thể là tổ chức hoặc cá nhân và nhà đầu tư gồm có nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài dựa trên cơ sở quốc tịch của nhà đầu tư đó

Pháp luật Việt Nam có các cách xây dựng khác nhau về khái niệm nhà đầu tư Luật Đầu tư năm 2005 tiếp cận nhà đầu tư theo hướng liệt

kê các chủ thể là nhà đầu tư Trong đó nêu rõ nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm:

+ Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh nghiệp;

+ Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã; + Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực;

+ Hộ kinh doanh, cá nhân;

+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;

+ Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam

Cách tiếp cận như trên có ưu điểm là nhận diện được rõ chủ thể được coi là nhà đầu tư và chủ thể không phải là nhà đầu tư Tuy nhiên, cách tiếp cận này lại không được nhiều quốc gia sử dụng bởi không bao quát được tất cả các chủ thể trong tương lai có thể trở thành nhà đầu tư

Do đó, đến Luật Đầu tư năm 2014, khái niệm nhà đầu tư đã được quy định

3 Xem Điều 3 Đạo luật đầu tư Canada 1985

Trang 33

một cách ngắn gọn hơn và dễ hiểu hơn Cụ thể, nhà đầu tư được hiểu là

tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, bao gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài Như vậy, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận nhà đầu tư có thể là cá nhân hoặc tổ chức và phân loại nhà đầu tư thành nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Với cách định nghĩa này của Việt Nam, ta cần xem xét một số vấn

đề sau:

Thứ nhất, chủ thể tham gia hoạt động đầu tư là cá nhân và tổ chức:

Vì hoạt động đầu tư có thể được coi là một hoạt động thương mại, nên khi tham gia vào hoạt động đầu tư nhằm mục đích sinh lợi, chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư cũng cần đáp ứng các điều kiện như chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại Tức là chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư, hay còn gọi là nhà đầu tư cần đáp ứng các điều kiện nhất định để được coi là thương nhân Theo khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại

2005 quy định rằng thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Khi đó, nhà đầu tư cần đáp ứng các điều kiện được coi là thương nhân Tuy nhiên, trên thực tế, việc tham gia vào hoạt động đầu tư không chỉ bao gồm các cá nhân hoặc tổ chức là thương nhân mà bao gồm các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân Do đó, các quy định mới trong Luật Đầu tư năm 2014 là hoàn toàn phù hợp, nghĩa rằng cá nhân hay tổ chức đáp ứng các điều kiện nhất định

theo quy định của pháp luật thì được tham gia vào hoạt động đầu tư Thứ hai, hoạt động đầu tư mang tính chất kinh doanh: Điểm mới

của Luật Đầu tư năm 2014 là đã xác định rõ hoạt động đầu tư kinh doanh

là như thế nào và khác biệt với các hoạt động đầu tư không nhằm mục đích kinh doanh So với Luật Đầu tư năm 2005 quy định hoạt động đầu

tư theo nghĩa rộng là bao gồm tất cả mọi lĩnh vực, mọi vấn đề đều có thể đầu tư Khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 quy định rõ đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ

Trang 34

phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư Vậy, bản chất của hoạt động đầu tư mang tính chất kinh doanh nghĩa rằng có việc bỏ vốn của các nhà đầu tư tham gia vào hoạt động đầu tư dưới các hình thức mà luật cho phép để nhằm mục đích sinh lợi cho các nhà đầu tư Đây là một điểm phân biệt giữa đầu tư kinh doanh và đầu tư không nhằm mục đích kinh doanh

Thứ ba, việc xác định nhà đầu tư tham gia vào một hoạt động đầu

tư tùy thuộc vào từng hình thức đầu tư: Phụ thuộc vào từng hình thức

đầu tư mà có cách xác định khác nhau về việc nhà đầu tư tham gia vào hoạt động đầu tư kinh doanh Ví dụ: Thành lập tổ chức kinh tế thì nhà đầu tư được xác định tham gia vào hoạt động đầu tư khi nhà đầu tư đứng tên nộp hồ sơ đăng ký đầu tư, hoặc nếu góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế thì nhà đầu tư chuyển giao vốn góp sang cho tổ chức kinh tế đó So sánh với khái niệm nhà đầu tư trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), thì quy định trong pháp luật Việt Nam có phần hẹp hơn với EVFTA Trong pháp luật Việt Nam, “nhà đầu tư” phải là chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, nghĩa là

đã và đang thực hiện hoạt động đầu tư nhất định (ví dụ ít nhất đã đứng tên nộp hồ sơ đăng ký đầu tư), trong khi đó, “nhà đầu tư” trong EVFTA không chỉ là chủ thể đang hoặc đã thực hiện việc đầu tư mà còn trường hợp “đang hướng tới việc đầu tư” Nói cách khác, theo EVFTA, một chủ thể dù mới chỉ đang tập hợp vốn để đầu tư cũng đã được coi là nhà đầu

tư và có các quyền và nghĩa vụ của một nhà đầu tư” Tuy nhiên, nhà đầu

tư trong EVFTA gắn với khoản đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của EVFTA, trong khi theo pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư không bị giới hạn

ở phạm vi này Tương tự, Hiệp định CPTPP đưa ra định nghĩa về nhà đầu tư của một Bên là một Bên hoặc công dân, doanh nghiệp của Bên đó chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện đầu tư tại lãnh thổ của bên khác Định nghĩa này cũng cho thấy nhà đầu tư không chỉ bao gồm các nhà đầu tư đang thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật, của một Bên mà còn bao gồm các nhà đầu tư dự định thực hiện hoặc đã thực hiện xong hoạt động đầu tư

Trang 35

(1) Nhà đầu tư trong nước

Nhà đầu tư trong nước là một trong những chủ thể được nhà nước khuyến khích tham gia hoạt động đầu tư Cách xác định nhà đầu tư trong nước trong pháp luật của các quốc gia có nhiều điểm tương đồng

Luật Đầu tư của Indonesia quy định: “(5) Nhà đầu tư trong nước là một cá nhân là công dân Indonesia, doanh nghiệp Indonesia, Nhà nước Cộng hòa Indonesia, hoặc khu vực thực hiện đầu tư vốn trên lãnh thổ của Cộng hòa Indonesia”4 Theo Luật Khuyến khích đầu tư Lào 2016, “Nhà đầu tư trong nước đề cập đến người Lào hoặc người nước ngoài tự nhiên, pháp nhân Lào hoặc nước ngoài đã đăng ký hoạt động kinh doanh theo luật pháp của Lào”5 Đạo Luật Đầu tư Canada 1985 quy định cụ thể và xác định nhà đầu tư trong nước là tổ chức, cá nhân Canada Luật Đầu tư năm 2014 của Việt Nam quy định nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam và tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông

Với cách xác định này thì hầu hết các quốc gia đều xác định nhà đầu tư trong nước căn cứ vào hệ thuộc luật quốc tịch của nhà đầu tư đó Căn cứ trên cơ sở đó, nhà đầu tư trong nước chính là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ quốc gia nơi mình mang quốc tịch Tại Việt Nam, Việt kiều cũng được coi là nhà đầu tư trong nước Theo Luật quốc tịch 2008 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch năm 2013, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài6 Nhà đầu tư là các doanh nhân Việt kiều có tiềm lực kinh tế rất lớn đang có xu hướng chuyển nguồn vốn đầu tư về Việt Nam ngày càng cao nhờ các chính sách kêu gọi đầu tư của nhà nước Việt Nam Cùng với kiều hối, đây là một nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế đất

4 Khoản 5 Điều 1 Luật Đầu tư Indonesia 2007

5 Khoản 4 Điều 3 Luật Khuyến khích đầu tư Lào 2016.

6 Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống

và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài (khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008)

Trang 36

nước Do đó, cần có chính sách hỗ trợ thực tế hơn nữa đối với các nhà đầu tư là Việt kiều để có thể triển khai được các dự án tại Việt Nam Trường hợp các nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân có 2 quốc tịch thì xác định theo pháp luật của nước nơi nhà đầu tư có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ Nếu nhà đầu tư có hai hay nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà nhà đầu tư có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà nhà đầu tư có quốc tịch nhưng nhà đầu tư đó là người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam

(2) Nhà đầu tư nước ngoài

Bên cạnh nhà đầu tư trong nước thì nhà đầu tư nước ngoài cũng là một trong những nhà đầu tư được Chính phủ nước sở tại quan tâm và khuyến khích tham gia vào hoạt động đầu tư Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài được quy định khác nhau giữa các quốc gia Chẳng hạn, theo Luật Đầu tư Indonesia quy định: Nhà đầu tư nước ngoài là một công dân nước ngoài, một thực thể kinh doanh nước ngoài hoặc một chính phủ nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Indonesia7 Khoản 3 Điều

3 Luật Khuyến khích đầu tư Lào 2016 quy định: Nhà đầu tư nước ngoài

đề cập đến là cá nhân nước ngoài hoặc một pháp nhân đầu tư vào Lào Theo pháp luật Campuchia, cụ thể tại Điều 1, Nghị định 88 ngày 29/12/1997 về việc thi hành Luật đầu tư, thực thể nước ngoài có nghĩa là bất kỳ một thực thể không phải là thực thể Campuchia và không được thành lập theo pháp luật của Vương quốc Campuchia8 Có thể nhận thấy, điểm chung của các quốc gia trên chính là cách thức xác định nhà đầu tư nước ngoài theo tiêu chí chính là quốc tịch, nhà đầu tư không có quốc

7 Khoản 6 Điều 1, Luật Đầu tư Indonesia 2007

8 TS Doãn Hồng Nhung, ThS.Nguyễn Thị Lan Anh (2012), Pháp luật về góp vốn, mua

cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam, NXB Tư pháp, trang 35

Trang 37

tịch tại quốc gia nơi nhà đầu tư đó thành lập hoặc hoạt động Tuy nhiên,

có quan điểm khác lại xác định nhà đầu tư nước ngoài theo vốn Ví dụ, chỉ cần doanh nghiệp tại Việt Nam có vốn đầu tư từ nước ngoài thì doanh nghiệp đó cũng bị xem là nhà đầu tư nước ngoài Đây chính là cách xác định nhà đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2005 Cụ thể Luật Đầu

tư năm 2005 quy định “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”

Luật Đầu tư năm 2014 chọn phương án xác định nhà đầu tư nước ngoài theo quốc tịch là cách xác định rõ ràng và phù hợp Cụ thể khoản

14 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” Từ định nghĩa trên, có thể phân biệt nhà đầu tư nước ngoài thành: Cá nhân có quốc tịch nước ngoài thực hiện đầu tư vào Việt Nam; tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện đầu tư vào Việt Nam Quốc tịch nước ngoài được hiểu là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam

(3) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (chỉ có hình thức

là tổ chức, không có cá nhân), tổ chức này được thành lập theo pháp luật Việt Nam nhưng có thành viên hoặc cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài

Từ định nghĩa về “tổ chức kinh tế” tại khoản 17, và định nghĩa về “tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” tại khoản 18 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014, có thể hiểu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông Như vậy, theo quy định này thì tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài với bất kỳ tỷ lệ sở hữu nào trong vốn điều lệ của tổ chức đó Có thể hiểu một cách đơn giản, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là “con lai” giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Và một điều lưu ý rất quan trọng là dựa vào tỷ lệ “lai” (tỷ lệ phần vốn góp của nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài)

mà pháp luật điều chỉnh sẽ khác nhau Cụ thể, theo quy định tại Điều 23

Trang 38

Luật Đầu tư năm 2014 thì tổ chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh;

b) Có tổ chức kinh tế quy định tại điểm a khoản này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên;

c) Có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế quy định tại điểm a khoản này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên

Quy định này cho thấy tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ phải thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài khi thuộc một trong các trường hợp được nêu Quy định này đã tạo

cơ sở pháp lý cho việc áp dụng điều kiện và thủ tục đối với các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Song, có quan điểm cho rằng việc chỉ

sử dụng tiêu chí về quốc tịch và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế là chưa đầy đủ, chưa phản ánh đúng thực tiễn quản trị của từng loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp

2014, đồng thời chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu quản lý đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Bởi lẽ, dù nắm giữ tỷ lệ vốn điều

lệ thấp hơn 51% nhưng trong nhiều trường hợp, nhà đầu tư nước ngoài vẫn có thể nắm giữ quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp mà không thông qua sở hữu Chẳng hạn như kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam thông qua hình thức cho vay kèm theo điều kiện quản lý, độc quyền tiêu thụ sản phẩm

Ngoài ra, có thể thấy, những tổ chức kinh tế, dù không phải là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo như định nghĩa, nhưng thuộc trường hợp qui định tại điểm b khoản 1 Điều 23, cũng phải thực hiện thủ tục đầu tư giống như thủ tục áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài theo qui định của pháp luật

Trang 39

b Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư

Nhà nước quản lý về đầu tư nhằm mục đích đảm bảo các nhà đầu

tư thực hiện hoạt động đầu tư đúng quy định pháp luật; hoạt động đầu tư phát triển theo chiến lược, quy hoạch mà nhà nước đặt ra; hoạt động đầu

tư kinh doanh phù hợp với tình hình, điều kiện kinh tế - xã hội Các cơ quan nhà nước sẽ có trách nhiệm quản lý các vấn đề về đầu tư thuộc sự phân công quản lý của mình và có sự phân cấp rõ ràng Cụ thể: Chính phủ thống nhất quản lý về hoạt động đầu tư cả trong và ngoài nước Các

cơ quan ban ngành gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ và cơ quan ngang

Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đều có trách nhiệm quản lý và quyền hạn thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực được phân công, trong khu vực, địa bàn quản lý tương ứng Cách tổ chức quản lý đầu tư tại Việt Nam có nét tương đồng với Trung Quốc Ở Trung Quốc, quản lý đầu tư được phân quyền cho: Cấp trung ương, và cấp địa phương (cấp tỉnh, cấp thành phố và cấp huyện, thị trấn)

(1) Cấp trung ương

- Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong việc quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam và cả hoạt động đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài Tuy nhiên, Chính phủ chủ yếu thực hiện trách nhiệm quản lý chung cho hoạt động đầu tư ở Việt Nam Bên cạnh nhiệm vụ là quản lý nhà nước về đầu tư, Chính phủ còn có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án thuộc thẩm quyền của Chính phủ

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chính giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài Cụ thể là: ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài; ban hành biểu mẫu thực hiện thủ tục đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài; hướng dẫn, phổ biến, tổ

Trang 40

chức thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư; tổng hợp, đánh giá, báo cáo tình hình đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài; xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư; chủ trì, phối hợp với các

cơ quan liên quan trong việc giám sát, đánh giá, thanh tra hoạt động đầu

tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm đứng ra làm đầu mối trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài; trực tiếp quản lý hoạt động đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế

- Các Bộ và cơ quan ngang Bộ: Có trách nhiệm, quyền hạn chủ yếu

là phối hợp với các cơ quan có liên quan đến việc quản lý hoạt động đầu

tư tại Việt Nam trong việc xây dựng pháp luật, chính sách liên quan tới hoạt động đầu tư Cụ thể là phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ,

cơ quan ngang bộ trong việc xây dựng pháp luật, chính sách liên quan đến hoạt động đầu tư; trình Chính phủ ban hành theo thẩm quyền điều kiện đầu tư đối với ngành, nghề quy định; chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng quy hoạch, kế hoạch, danh mục dự án thu hút vốn đầu tư của ngành; tổ chức vận động, xúc tiến đầu tư chuyên ngành; chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các bộ, cơ quan ngang

bộ giải quyết khó khăn, vướng mắc của dự án đầu tư trong lĩnh vực quản

lý nhà nước; hướng dẫn việc phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế Đối với hoạt động đầu tư tại Việt Nam, các

bộ, cơ quan ngang bộ còn được tham gia thẩm định các dự án đầu tư thuộc trường hợp quyết định chủ trương đầu tư theo quy định; giám sát, đánh giá, thanh tra chuyên ngành việc đáp ứng điều kiện đầu tư và quản

lý nhà nước đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền;

Ngày đăng: 15/07/2022, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Đầu tư, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Đầu tư
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2017
2. Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Đầu tư, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Đầu tư
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2009
33. Tạp chí tài chính, “Ưu đãi thuế cho doanh nghiệp: Kinh nghiệm các nước và thực tiễn Việt Nam”- (tapchitaichinh.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ưu đãi thuế cho doanh nghiệp: Kinh nghiệm các nước và thực tiễn Việt Nam
5. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 Khác
6. Luật Sửa đổi, bổ sung; Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 Khác
7. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994 Khác
8. Luật Sửa đổi, bổ sung; Luật Đầu tư trong nước năm 1998 Khác
9. Luật Quản lý nợ công năm 1997 Khác
10. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014 Khác
11. Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2010 Khác
13. Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2016 Khác
14. Nghị định 91/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2018 về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ Khác
15. Nghị định 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất Khác
16. Nghị định 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuế đất, thuê mặt nước Khác
17. Nghị định 118/2015/NĐ-CP về Luật Đầu tư Khác
18. Nghị định 135/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung NĐ 45, 46 Khác
19. Nghị định 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 11 tháng 3 năm 2018 Khác
20. Nghị định 76/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ Khác
21. Nghị định 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn ngày 17 tháng 4 năm 2018 Khác
22. Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn ban hành kèm Quyết định 03/2011/QĐ-TTg Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC BẢNG - Giáo trình Luật Đầu tư: Phần 1
DANH MỤC BẢNG (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN