Giống như các vật nuôi khác, sau khi thuần hoá, đầu tiên dê được nuôi với mục đích lấy thịt; sau đó nuôi dê để lấy sữa cũng được con người tiến hành sớm nhất, thậm chí còn sớm hơn cả bò
Trang 1I I I l l l l l l l l l l :H-TS NGUYỄN QUANG sức
[Ì b Ĩ oi S o ^
Chăn nuổỉ 1
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
Trang 2TS Đ IN H VĂN BÌN H - TS NGUYEN QUANG sức
Trang 3LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Dê là gia súc nhai lại nhỏ được nuôi từ lâu đời ở m ột số vùng đồi núi nước ta N uôi dê có nhiều ưu thế: vốn đầu tư ban đầu thấp, dê sinh sản nhanh, tạp ăn và cần ít thúc ăn tinh
và tận dụng được nhiều nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp cũng như cỏ, lá tự nhiên Chăn nuôi dê sẽ cung cấp nguồn thục phẩm thịt, sữa dê có dinh dưỡng cao phục vụ trục tiếp cho con người m ột cách dễ dàng thuận tiện và là nguồn thu nhập hàng ngày cho người dần Dê cung cắp nguồn phân bón cho cây ưồng và làm nguồn thúc ăn cho cá, nuôi giun đất có giá trị.
Đ ể góp phần phát triển chăn nuôi dê ở nước ta, Nhà xuất bản N ông nghiệp xin giới thiệu với bạn đọc cuốn sách:
Nguyễn Quang Sức biên soạn N ội dung cuốn sách giới thiệu những k ỹ thuật cơ bản về công tác giống, thúc ăn và nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý, phòng írị bệnh, chế biến sản
ph ầ n từ thịt, sữa dê.
Sách chắc chấn không trấnh khỏi có những thiếu sót nhất định Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc đ ể chất luợng sách ngày càng tốt hơn.
Nhà xuất bản Nông nghiệp
Trang 4CỦA CHĂN NUÔI DÊ
I NGUỒN Gốc, Sự PHÂN B ố VÀ PHÂN LOẠI ĐỘNG VẬT HỌC
Dê là gia súc nhai lại nhỏ thuộc loài dê (Capra), họ phụ dê cừu (Capra rovanae), họ sừng rồng (Bovidae), bộ phụ nhai lại (Ruminantia), bọ guốc chẵn (Artiodactyta) lớp có vú (manmalian)
Dê rừng (Capra aegagrus) trên thế giói đuợc chia làm ba nhóm: Nhóm 1 là: Bezoar (C.a aegagrus), nhóm này có sừng hình soán (hình 1 a) Nhóm 2 là: Ibex (C.a Ibex) và nhóm 3
là: Markhor (C.a Falconeri) nhóm này dê thuờng có sừng quặn về phía sau (hình l.b) (Heưe và Rohrs, 1973) Dê rừng phân bố rộng ở vùng núi và bán sơn địa, phạm vi phân bổ tự nhiên của nhóm Bezoar là ở vùng Tây Á Nhóm Ibex phân
bé ở vùng Tây Á, đông châu Phi và châu Âu Nhóm Markhor phân bố ở Afghanistan và vùng Kashimir - Karakorum (Harris, 1962)
Trang 5Hình La: Kiểu sừng soắn Hình l.b: Kiểu sùng quặn
về phía sau
Với những dẫn liệu đặc biệt tìm thấy được gần đây người ta đã cho là nơi thuần hoá các giống dê đầu tiên bắt nguồn từ Châu Á (Devendra và Nozawa, 1976) Vào thiên niên kỷ thứ 7- 9 trước công nguyên, tại vùng núi Tây Á lần đầu tiên người ta đã thuần hoá được dê (Herre 1958, Harris 1962, Zenner 1963, Epsteiin 1971, Kamo 1973) Theo tài liệu của Herre và Robrs 1973 thì dê là vật nuôi sớm nhất của loài người và sau đó là đến chó (Zeuner 1963) Giống như các vật nuôi khác, sau khi thuần hoá, đầu tiên dê được nuôi với mục đích lấy thịt; sau đó nuôi dê
để lấy sữa cũng được con người tiến hành sớm nhất, thậm chí còn sớm hơn cả bò lấy sữa, bởi lẽ vát sữa dê đơn giản hơn nhiều so với bò
6
Trang 6Trung tâm nuôi dê cổ nhất là ở các nuớc Trung Đông sau
đó đến Ân Độ rồi đến Ai Cập, tiếp đến là ở các nước phương Tây, Châu Á và Châu Phi, Trung tâm nuôi dê mới nhất là ở Đông Nam Châu Á
II VAI TRÒ CHĂN NUÔI DÊ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Mahatma Gandí nhà lãnh tụ nổi tiếng ở Ân Độ đã nói về
vai trò của con dê là "Dê sữa là con bò sữa của nhà nghèo" Hơn thế nữa Peacok còn cho rằng: "Dê sữa là nhà băng cho
người nghèo (ngân hàng của người nghèo)" RM Acharay
Chủ tịch Hội chăn nuôi dê Thế giới còn bổ sung thêm là "Dê
sữa chính là cơ quan bảo hiểm đáng tin cậy cửa người nghèo".
Hơn 90% tổng số dê trên thế giói được chăn nuôi ở các nước đang phát triển và đã mang lại thu nhập có ý nghĩa cho người dân Tuy nhiên cũng cố nhiều quan điểm trái ngược nhau về chủ trương phát triển chăn nuôi dê
1 Những điều có lợi của phát triển chăn nuôi dê
- Chăn nuôi dê yêu cầu vốn đầu tư ban đầu ít hơn so với
bò, nhất là bò sữa Hiện nay ở Việt Nam giá 1 bò sữa trung bình là 10 -1 2 triệu đồng, số tièn này có thể mua được 15-20 con dê sữa
Trang 7- Dê sinh sản nhanh hetn bò và trâu: So sánh 1 dê cái mới sinh ra cùng vói 1 bê cái sau 4 năm thì dê đẻ ra đuợc 23 con với tổng khối lượng là 500 kg và 2.500 kg sữa; trong khi đó một con bò chỉ đẻ ra được một con với khối lượng khoảng
350 kg và cho 2.000 kg sữa
- Mặc dù dê nhỏ nhưng nếu giống tốt thì nó có thể sản xuất ra 3-3,5 lít sữa/ngày khi được cung cấp thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng
- Dê yêu cầu ít thức ăn hơn so với bò và ưâu: Nhu cầu thức ăn của 10 con dê tương đương như 1 con bò, 7-8 con dê sữa tương đương như 1 con bò sữa
- Dê nhỏ bé, hiền lành nên ai cũng có thể nuôi đuợc nó, nhung đối với bò sữa thì người già, phụ nữ và trê nhỏ nuôi chúng rất vất vả
- Dê cần ít diện tích đồng cỏ, có thể nuôi dê với số lượng nhiều hơn so vói nuôi bò Nếu nuôi ít dê có thể chăn thả quanh nhà, dọc theo bờ đê, bờ ruộng Có thể nuôi nhốt dê trong chuông, trong sân bãi để cát cỏ lá về cho ăn hoặc có thể kết hợp chăn thả dê dưới vườn cây ăn quả, dưới rừng cây lâm nghiệp
- Dê cung cấp nguồn phân bón cho cây trồng và làm nguồn thức ăn cho cá, nuôi giun đất có giá trị
- Chăn nuôi dê sữa ở gia đình sẽ cung cấp nguồn thục phẩm sữa dê có dinh dưỡng cao phục vụ trực tiếp chó con
Trang 8người một cách dễ dàng thuận tiện và là nguồn thu nhập hàng ngày cho người dân.
- So sành hiệu quả kinh tế chăn nuôi dê với các loài gia súc khác: Tilonia (Cafasthan-India), 1987 so sánh nuôi 1 con trâu và 5 con dê sữa trong 4 năm thu được lợi nhuận hàng năm từ chăn nuôi trâu là 1.750 Rs, từ chăn nuôi dê là 1.945
Rs Abidi và Wahid (Pakistan) 1975 cho biết chăn nuôi dê cho thu nhập cao hon 40-60% so với chăn nuôi cừu Devendra (Malaysia), 1976 cho biết chi phí để sản xuất ra lkg sữa.dê chỉ băng 1/2 so với 1 kg sữa bò, trâu
- So sánh chăn nuôi dê vói trâu bò ở vùng khô cằn Ấn Độ thì thấy bộc lộ rõ tính ưu việt của con dê, hon hẳn trâu bò trong cùng một thòi kỳ sản xuất Một con trâu giá gióng cao hon 20% so với 5 con dê, chi phí về thức ăn, lao động cho trâu cao hạn 70% so với nuôi dê Trong cùng một chu kỳ sản xuất 4 năm, trâu chỉ có thể cho 2 chu kỳ tiết sữa với 2.500 lít, trong khi đó 1 dê sữa có thể cho 6 chu kỳ với tổng số 6.000 lít sữa Giá bán sữa trâu tuy cao hon sữa dê nhưng tổng thu nhập từ bán sữa dê vẫn cao hon 60% so vói sữa trâu
2 Những điều không thuận lợi của phát triển chăn nuôi dê
- Dê rất dễ bị chó cắn chết và dễ mất trộm hon bò
- Dê phàm ăn, ăn được hầu hết các loại lá cây cỏ tự nhiên
và cây trồng nên dê có thể ăn trụi cây cối, phá phách hoa
Trang 9màu trong vườn nhà và hàng xóm, cho nên khi nuôi dê ở vùng trồng cây cần phải trông nom cẩn thận.
- Con dê đực thường có mùi hôi đặc biệt làm ô nhiêm môi trường và làm con người khó chịu
- Chưa có chợ mua bán giống dê, kỹ thuật chăn nuôi dê đặc biệt là dê sữa chưa được phổ biến rộng rãi, hoàn toàn là mới mẻ đối vói người dân
- Mặc dù sữa dê thom ngon, nhưng hiện nay chua được người tiêu dùng sử dụng rộng rãi, thông thường nguôi ta có
ấn tượng sữa dê có mùi hôi khó uống
III TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI DÊ Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1 Tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam
Ở Việt Nam nghề chăn nuôi dê đã có từ lâu đời, nhưng theo phương thức quảng canh tự túc tự phát Qua số liệu của Tổng cục thống kê năm 1999 tổng đàn dê của cả nước
có 530.000 con, trong đó 72,5% phân bổ ở miền Bắc, 27,5% ở miền Nam (Tây Nguyên chiếm 12,3%, Duyên hải miền Trung chiếm 8,9%, đông và tây Nam Bộ chỉ chiém 2,1 và 3,8%) Đàn dê ở vùng núi phía Bắc chiếm 48% tông đàn dê của cả nước, chiếm 67% tổng đàn dê của miền Bắc
Trang 10Nhiều năm qua việc phát triển ngành chăn nuôi dê chưa được quan tâm chú ý Người dân chăn nuôi dê chủ yếu là nuôi quảng canh tận dụng chăn thả kết hợp, thiếu kiến thức kỹ thuật Phần lớn giống dê là dê c ỏ địa phương lấy thịt nên năng suất thấp, chưa có hệ thống giống trong cả nước, đặc biệt nghề chăn nuôi dê lấy sữa chưa được hình thành.
Từ 1993 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã quyết định giao nhiệm vụ nghiên cứu và phât triển chăn nuôi
dê, đặc biệt là chăn nuôi dê sữa ở nước ta cho Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây - Viện Chăn Nuôi Đây là đơn vị chịu trách nhiệm nghiên cứu toàn bộ các vấn đề về chăn nuôi dê và tổ chức chuyển giao kỹ thuật xây dựng ngành chăn nuôi dê ở Việt Nam Từ đó đến nay ngành chăn nuôi dê đặc biệt là chăn nuôi dê sữa ở Việt Nam đã bắt đầu
được khởi sắc Chăn nuôi dê đã góp một phần vào việc
chuyên đôi cơ câu cây trông vật nuôi trong hệ thống nông
trại bền vững ở gia đình đặc biệt là vùng Trung du đồi núi
dân nghèo nước ta Tuy nhiên đây là một ngành chăn nuôi rất mới mẻ ở nước ta, vì vậy để tạo cho nghề chăn nuôi dê phát triên một cách mạnh mẽ, tận dụng hét được tiềm năng sẵn có của nước nhà, cân thiết phải có sự quan tâm một cách thích đáng trong việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, trong nghiên cứu, trong việc xây dựng mô hình đặc biệt là việc đào tậo
Trang 11chuyển giao kỹ thuật thích hợp về chăn nuôi dê cho các cán
bộ kỹ thuật cũng như cho nguôi dân chăn nuôi con gia súc này
2 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giói
Theo số liệu của FAO (1996), hiện nay trên thế giới có khoảng 592 triệu dê và được phân bố ở các vùng như sau:
- Châu Á: 359 triệu con, chiếm 60,6%
Như vậy Châu Á là noi chăn nuôi dê khá phát triển, đặc biệt lại tập trung chủ yếu ở những nước đang phát triển (90% trong tông số dê trên thế giói và chăn nuôi chủ yéu ở khu vục gia đình với qui mô đàn nhỏ, tập trung ở những vùng khô cằn, nông dân nghèo)
Chăn nuôi dê ở những nước phát triển có qui mô đàn lớn hơn và chăn nuôi dê theo phương thức thâm canh với mục đích lấy sữa và làm pho mát mang lại hiệu quẳ kinh
tế cao
Trang 12Bảng 1: Tình hình sản suất và tiêu thụ thịt, sữa dê
trên Thế giới (FAO 10/1990)
Khu vự c
Sản x u ấ t th ịt
(1000 tấ n )
Sản x u ấ t s ữ a (1 0 0 0 tấ n )
Sản xu ấ t da (1000 tấ n )
1990
% tă n g
s o v ớ i
n ăm 1980
1990
% tăng
s o v ớ i năm 1980
1990
% tă n g
s o v ớ i năm 1980
Chăn nuôi dê ở Pháp: Theo Capri Gene France (1991) cho biết tổng đàn dê của Pháp có 900.000 con, chủ yếu là nuôi dê
Trang 13lấy sữa Toàn bộ sữa dê được làm thành pho mát ở gia đình hoặc ở trang trại.
Ở Malaysia, Borhan Abu Samah (1989) cho biết chăn nuôi dê ở đây từ năm 1976 đến năm 1986, về số lượng đàn dê giảm mỗi năm là 2% nhưng tiêu thụ thịt dê lại tăng lên 1977
là 6.034 tấn, đến năm 1987 là hơn 6.595 tấn, tăng 8,14% Giống dê ở Malaysia nhỏ, khối lượng trưởng thành chỉ đạt 20-25 kg Họ đã nhập tinh đông viên của các giống dê như Alpine, Seanen, Toggeburg, Anglo Nubian từ nước Đức vào
để lai vói giống dê địa phương ở khắp nơi trong cả nước Con lai có khối lượng khi trưởng thành là 32-36 kg, cao hơn so với dê nội và vừa cho thịt vừa cho sữa
Ở Philippin, việc nghiên cứu và phát triển chăn nuôi
dê được chính phủ quan tâm chú V Một chương trình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê Quốc gia đã được thiết lập Theo D.R Escano, R.E Samonte (1991) thì tổng
số đàn dê ở Philippin năm 1983 là 1,9 triệu con, đến năm
1988 là 2,1 triệu con Hàng năm sản xuất ra gần 40.000 tấn thịt
Theo M.B Bẹo Philippin hiện đã đưa ra và đang tiến hành một chương trình nghiên cứu toàn diện về con dê nhằm đẩy mạnh ngành chăn nuôi dê của Philippin trong những năm tới
Trang 14Chăn nuôi dê ở Trung Quốc: theo Liv Xing Wu, Yvan Xi Fan (1988) tổng số luợng dê sữa cả nước có 3,2 triệu con, hàng năm sản xuất ra 529 ngàn tấn sữa Từ năm 1978 Chính phủ bắt đầu quan tâm và tốc độ phát triển đã ngày càng nhanh chóng Theo Ga Bin Yun và cộng sự (1989), hiện nay Trung Quốc có 12 trại dê sữa giống Giống Ximong Saanen
là giống dc phổ biến ở Trung Quốc Ở trại giống trường Đại học Nông nghiệp Tây Bắc, sản lượng sữa của dê là 800 kg/con/chu kỳ; ở trại Xixia tỉnh Shangdong là 750 kg/con/chu kỳ Trung Quốc đã sử dụng dê Ximong, Saanen lai vói dê địa phương Con lai năng suất sữa đã tăng lên 80- 100% ở thế hệ thứ nhất, thế hệ thứ hai lên đến 200%, đạt 300kg sữa/chu kỳ, thòi gian vắt sữa là 7-8 tháng Ở một số nơi thế hệ 3,4 đạt đuợc 500-600 kg/chu kỳ tiết sữa Guan Cao (1988) Hiện nay, Trung Quốc cũng là nước đã sử dụng kỹ thuật cấy truyền hợp tử trên dê Theo Wang Ruixing, Zhang
và cộng sự, năm 1988 Trung quốc đã có 11 dê con ra đòi từ
kỹ thuật tách đôi hợp tử
Đê hội tụ các nhà khoa học nghiên cứu và tổ chúc sản xuất nhằm trao đổi học tập, giúp đỡ lẫn nhau đẩy mạnh phát triển chăn nuôi dê trên toàn thế giói, Hội Chăn nuôi dê thế giới (International Goat Association) đã được thành lập từ năm 1976, trụ sở đặt tại 216 Wachusett Ruhand Massachusetts
Trang 1591543 USA Cứ 4 năm Hội Chăn nuôi dê thế giới tổ chức họp 1 lần Hội nghị lần thứ 5 họp tại Ấn Độ vào tháng 5/1992; Hội nghị lần thứ 6 họp tại Trung Quốc vào tháng 8/1996; Hội nghị lần thứ 7 họp tại Pháp vào tháng 5/2000 vói trên 40 nước tham dự và có báo cáo khoa học trên tất cả các lĩnh vực về chăn nuôi dê trên toàn thế giới.
Khu vực Châu Á cũng thành lập tổ chức chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ (Small Ruminant Production Systems Network for Asia), địa điểm tại Indonexia nhằm mục đích góp phần đẩy mạnh trao đổi thông tin nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê, cừu trong khu vực
Trang 16Chương II
MỘT S ố ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CAN BIET
VỀ CON DÊ
I ĐẶC ĐIỂM VỀ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIEN
Cũng như các gia súc khác, sự sinh trưởng và phát triển của dê tuân theo qui luật giai đoạn, nó phụ thuộc vào giống, tính biệt, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc quản lý và môi trường Thông thường khối lượng dê sơ sinh là 1,6-3,5kg;
3 tháng đạt 6-12 kg; 6 tháng là 10-21 kg; 12 tháng là 17-30 kg;
18 tháng là 30-40 kg Dê đực luôn tăng trọng nhanh hơn dê cái Giai đoạn sơ sinh đến 3 tháng tuổi cường độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối là cao nhất (90-120 g/con/ngày và 95-130%), rồi tiếp theo là giai đoạn 3-6 và 6-
12 tháng (70-110 g/ngày và 30-50%), giai đoạn 12-18 tháng cường độ sinh trưởng giảm đi dần dần (20-45 g/con/ngày và 10-20%), giai đoạn 18-24 tháng cường độ sinh trưởng của
dê thấp xuống (20-30g/con/ngày), đến giai đoạn 24-30 và 30-36 tháng tuổi, dê bước dần sang tuổi trưởng thành, cuờng
độ sinh trưởng thấp hẳn và thay đổi không rõ rệt Thay đổi khối lượng của một số giống dê qua các tháng tuổi được trình bày ở bảng 2
Trang 17Bảng 2 Khối lượng của m ột số giống dê
qua các tháng tuổi (kg)
Lứa tuổi Dê Cỏ
Dê Bách
T h ả o
Dê
B arbar y
Ju m n a pari
Trang 18II ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN CỦA DÊ
Dê là gia súc có khả năng sinh sản nhanh hơn nhiều so với
bò và trâu Thông thường tuổi động dục lần đầu của dê là 6-8 tháng tuổi, tuổi phối giống lần đầu là 8-10 tháng tuổi và tuổi
đẻ lứa đầu là 360-420 ngày Các giống dê khác nhau, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc khấc nhau thì tuổi đẻ lứa đầu của
dê cũng khác nhau Một số chỉ tiêu về sinh sản của một số giống dê ở Việt Nam được thể hiện ở bảng 3
Bảng 3: M ột số đặc điểm sinh sản của
các giống dê nuôi ở Việt Nam
C h ỉ tiêu D ê C ò Bách
T hảo
B bary*
ar-Ju m n a -pari*
B tal*
- T u ổ i đẻ lứa đầu (ngày) 3 3 4 3 46 399 567 551
Trang 19IL BỘ MÁY TIẾT SỮA CỦA DÊ
l c ấ u tạo bầu vú dê
Trang 20Bầu vú của dê nằm ở dưới bụng giữa hai chân sau và gồm
2 núm vú Trông bề ngoài bầu vú là một khối song bao gồm hai tuyến sữa Giữa hai tuyến sữa có một vách ngăn Vì thế tuyến sữa bên bầu vú này cạn hết thì tuyến sữa bên bầu vú kia vẫn còn nguyên Các tuyến tiết sữa của vú bố trí theo tuyến chùm, phân chia thành nhiều thùy.mỗi thùy lại chia thành nhiều tuyến hình túi Các tuyến này tập trung vào những ống dẫn sữa, các ống này chảy dồn cái nọ vào cái kia
và cuối cùng đổ vào bể sữa Trong vú còn có các mạch mấu, dây thần kinh và bạch huyết Tỷ lệ hệ số trung bình đểíạo ra
1 lít sữa cần một lượng máu đi qua tĩnh mạch vú là khoảng trên 300 lít máu
2 Sản lượng sữa
Sản lượng sữa của dê là khối lượng sữa (kg hoặc lít) sản xuất ra trong một chu kỳ cho sữa Năng suất sữa là khối lượng sữa tính theo ngày Năng suất sữa của các giống dê trung bình 300-3000 ml/con/ngày, tuỳ thuộc vào giống, lứa
đẻ, thức ăn ở nước ta, dê c ỏ có sản lượng sữa trung bình là
350 ml/con/ngày và thòi gian cho sữa là 90-100 ngày/chu kỳ cho sữa Dê Bách Thảo cho 1,3 líưcon/ngày với chu kỳ cho sữa là 150 ngày và mộ.t năm cho 1,7 chu kỳ cho sữa Dê Barbari cho 1,0-1,05 líưcon/ngày vói 148-150 ngày cho sữa/chu kỳ, là giống dê có sản lượng sữa cao nhất: 3,8-3,9
Trang 21lít/100 kg thể trọng Dê Jumnapari cho 1,4-1,6 líưcon/ngày với 160-180 ngày cho sữa.
Người ta thường căn cứ vào các chỉ tiêu như năng suất sữa, thòi gian cho sữa/chu kỳ tiết sữa, số lứa đẻ/năm để tính
ra sản lượng sữa sản xuất ra của một con dê/năm Bên cạnh
đó người ta còn tính sản lượng sữa /100 kg thể trọng, chi phí thức ăn để sản xuất ra 1 lít sữa để đánh giá khả năng cho sữa của từng con dê sữa
3 Chất lượng sữa dê
Chất lượng sữa dê phụ thuộc vào giống, tháng cho sữa, thúc ăn Thành phần dinh dưỡng của sữa một số giống dê ở Việt Nam được thể hiện ở bảng 4
Bảng 4 Thành phần dinh dưỡng của sữa m ột số
giống dê nuôi ở Việt Nam (%)
G iố n g dê V C K Protein M ỡ sữ a K hoáng Đ ư ờ n g
B ách T h ả o 15,04 4,3 4 5 ,45 0,96 4,60
B a rb a ri 14,93 4,05 5 ,60 0,85 4,31
J u m n a p a ri 14,69 3,85 5 ,50 0,88 4,40
Dê Cỏ 16,06 4,28 6,40 0,81 4,50 Nguồn: Đinh Văn Bình và CTV, 1998
22
Trang 22Đánh giá giá trị dinh dưỡng của sữa dê, người ta thấy tốt hơn so vói sữa bò và trâu Sữa dê có hàm lượng vitamin, khoáng, protein, đường cao hơn, kích thước hạt mỡ sữa dê lại nhỏ hơn nhiều so vói bò và trâu nên khả năng tiêu hoá hấp thu của nó rất tốt Vì vậy sữa dê là nguồn thức ăn quí cho trẻ
em, người ốm và cụ già
IV ĐẶC ĐIỂM TIÊU HOÁ CỦA DÊ
1 Cấu tạo bộ máy tiêu hoá của dê
Cũng như các gia súc nhai lại khác, dê có dạ dày 4 túi Dạ
cỏ là phần rất quan trọng trong quá trình tiêu hoá của dê Khi còn nhỏ dê uống sữa thông qua sự đóng mở của rãnh thực quản để sữa đi thẳng từ miệng qua lá sách xuống dạ múi khế, lúc này thúc ăn tiêu hoấ chủ yếu ở dạ múi khế nên khối lượng dạ múi khế chiếm tới 70% dạ dày dê, các dạ khác chỉ chiếm 30% Khi trưởng thành dạ cỏ phát triển mạnh chiếm tới 80% khối lượng dạ dày dê, dạ múi khế chỉ còn lại 7% Khu hệ vi sinh vật trong dạ cỏ của dê cũng có sự khác biệt so vói gia súc nhai lại khác bởi lẽ dê có biên độ thích ứng rộng với mùi vị các loại thức ăn Nó có thể ăn được nhiều loại thức
ăn có nhièu độc tố, cay, đắng mà gia súc khác không ăn được như lá soan, lá xà cừ, lá chàm tai tượng, cỏ bướm
23
Trang 23Hình 2: Bộ máy tiêu hoầ của dê
Dạ dày dê trưởng thảnh
24
Trang 24Tác dụng của rãnh thực quản: Rãnh thực quản bắt đầu từ thượng vị đến lỗ tổ ong-lá sách Rãnh thực quản có hình lòng máng Ở gia súc bú sữa, khi bú hoặc uống sữa, cơ mép rãnh thực quản khép chặt lại làm cho rãnh thực quản trở thành một cái ống, sữa và nước chảy thẳng qua dạ lá sách vào dạ múi khế.
Thụ quan của phản xạ khép rãnh thực quản phân bố ở lớp màng nhày của lưỡi miệng và hầu Thần kinh truyền vào của phản xạ khép rãnh thực quản là thần kinh lưỡi, thần kinh dưới lưỡi và nhánh hầu của thần kinh sinh ba Trung khu phản xạ
ở hành não liên hệ chặt chẽ với trung khu mút, bú Thần kinh truyền ra là thần kinh mê tẩu Khi cắt dây mê tẩu thì phản xạ rãnh thực quản mất đi Một số các chất hoá học kích thích gây khép rãnh thực quản như NaCl, Na2S 0 4, đường con vật càng trưởng thành thì rãnh thực quản càng không thể khép hoàn toàn được, lúc đó rãnh thực quản chỉ còn là cái gờ có tác dụng dẫn nước khi gia súc uống
Tiêu hoá ở dạ cỏ: Dạ cỏ được coi như “Một thùng lên men lớn” Tiêu hoá ở dạ cỏ chiếm một vị trí rất quan trọng trong quá trình tiêu hoá của gia súc nhai lại 50% vật chất khô của khẩu phần được tiêu hoấ ở dạ cỏ Trong dạ cỏ, các chất hữu
cơ của thức ăn được biến đổi mà không có sự tham gia của men tiêu hoá Chất xơ và cấc chất khắc của thức ăn được
2 Q uá trìn h tiêu hoá trong dạ dày của dê
Trang 25phân giải là nhờ men của vi sinh vật sống cộng sinh trong dạ cỏ.
Môi trường dạ cỏ thuận lọi cho sự phát triển của vi sinh vật là môi trường trung tính (pH = 6,5-7,4) tưong đối ổn định nhờ tác dụng trung hoà axit sinh ra do quá trình lên men của nước bọt Các muối phốt phát và bi-cácbonat trong nước bọt
3 Tiêu hoá ở dê con
Dê con sinh ra chỉ bú mẹ, uống sữa và nó không tiêu hoá được thức ăn thô Dê con khi bú sữa, sữa chảy qua rãnh thực quản xuống thẳng dạ múi khế và sữa sẽ được tiêu hoá ở đây
và ở ruột non Sữa đầu là sữa có nhiêu dinh dưỡng và kháng thể cho dê con Vì vậy sau khi dê đẻ 30 phút đến một giờ phải cho dê con bú được sữa đầu của dê mẹ Sau ít ngày sinh
ra, dê con bắt đầu tập ăn thức ăn Đến 2-3 tuần tuổi nó đã ăn
và tiêu hoá được một lượng nhỏ thúc ăn thô xanh dễ tiêu và
hệ vi sinh vật dạ cỏ dần dần hình thành Từ lúc này cần cung cấp cho dê con thức ăn sạch và có chất lượng tốt Khi đến tuổi cai sữa khu hệ vi sinh vật trong dạ cỏ của dê con cũng còn chưa hoàn hảo Vì vậy cần chú ý chăm sóc dê con chu đáo để tăng tỷ lệ nuôi sống
Trang 264 Hệ số tiêu hoá thức ăn của dê
Giá trị của thức ăn không những được đánh giá qua két quả phân tích thành phần dinh dưỡng mà còn được xem loại thức ăn đó có được tiêu hoá và hấp thu được bao nhiêu »
Hệ số tiêu hoá thức ăn là lượng thúc ăn được dê tiêu thụ không bị thải ra qua phân Công thức tính:
Hệ số tiêu Lượng thức - Lượng thải
hoáthứcăn = ăn ăn vào qua phân X 100
Hệ số tiêu hoá phụ thuộc vào giai đoạn phát triển và các phần của cây thức ăn, loại dê và giống dê, đặc điểm sinh học của cây thóc ăn, mức độ nuôi dưỡng dê
5 Luựng thúc ăn ăn đuợc
Dê hơn hẳn các loại gia súc khác là có thể ăn được rất nhiều loại thức ăn Thậm chí một số loại thức ăn có mùi khác biệt, có độc tố mà gia súc khác không ăn được, nhưng dê vẫn
ăn như lá xoan, lá keo tai tượng, lá điền thanh tuy nhiên lượng thúc ăn ăn được phụ thuộc vào nhiều yếu tố và ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ và năng suất chăn nuôi Vì vậy cần thiết phải hiểu được các nhân tố ảnh hưởng đến lượng thức ăn
dê ăn được và tìm ra biện pháp để cho dê ăn được nhiều thức
ăn nhất Có ba nhân tó chủ yếu ảnh hưởng đến lượng thức ăn
Trang 27ăn được như: Nhân tố thức ăn (mùi, vị, thay đổi thức ăn, độ
ẩm, khả năng tiêu hoá, kích thước, loại hình), nhân tố môi trường ngoại cảnh (thời gian cho ăn, số lần cho ăn, số lượng thức ăn, sự cạnh tranh với gia súc khác, nhiệt độ, độ ẩm không khí, phương pháp cho ăn) và nhân tố gia súc (tính ngon miệng, ưa thích, tầm vóc gia súc, giai đoạn sản xuất như đang chửa hay tiết sữa)
V MỘT S ố TẬP TÍNH KHÁC BIỆT CỦA DÊ
1 Tập tính ăn uống
Dê có khả năng gặm cỏ như trâu bò nhưng nó thích ăn lá cây, hoa và các cây lùm bụi, họ đậu thân gỗ hạt dài Dê là con vật thích hoạt động nhanh nhẹn, chúng di chuyển rất nhanh khi ăn xung quanh cây và bứt lá búp ở phần ngon nhất rồi nhanh chóng chuyển sang cây và bụi khác tiếp theo Trung bình hàng ngày dê đi lại chạy nhảy 10-15km/ngày Dê thích ăn ở độ cao 0,2-l,2m chúng có thể đứng bằng 2 chân rất lâu để bứt lá, thậm chí còn trèo lên cả cây để chọn phần ngon để ăn Thức ăn khi để sát mát đất chúng rất khó ăn, thường phải quỳ chân trước xuống để ăn Môi và lưỡi dê rất linh hoạt để vơ ngoạm thức ăn và chọn loại thức ăn nào nó ưa thích nhất, thức ăn rơi vãi dê thường bỏ không ăn lại Lượng thức ăn ăn được trên 100kg trọng lựợng của dê thường là 2,5- 3kg VCK/ngày Dê là con vật sử dụng nước hiệu quả hơn28
Trang 28nhiều so với trâu bò, nó là con vật có khả năng chịu khát rất giỏi Devendrá 1967 cho biết dê nặng 18-20 kg thì một ngày cần uống 680 ml nước, trong đó 544 ml uống từ 7 giờ sáng đến 19 giờ tối và 136 ml uống từ 7 giờ tối đến 7giờ sáng ở mùa hè, mùa xuân luợng nước uống của dê chỉ là 454 ml.
2 Tính khí bất thưửng, hiếu động, ương bướng và
khôn ngoan của dê
Dê là loài vật có tính khí bất thường và hiếu động Dê rất phàm ăn, nhưng luôn luôn tìm thức ăn mói Chúng nếm mỗi thứ một chút rồi cuối cùng chẳng ưng ý một món nào cả Dê vừa chạy nhảy vừa leo trèo rất giỏi Chúng có thể leo lên những vách núi, mỏm đá cạnh vực sâu cheo leo nguy hiểm Với sự nhanh nhẹn khéo léo, chúng có thể di chuyển dễ dàng trên những mỏm đá cheo leo nhất Trong trường họp cần thiết con dê đực trưởng thành có thể đứng rất lâu trên một mỏm đá bên bờ vục thẳm vói diện tích chỉ chừng 200-300 cm2,
il ám móng vào những gò đá chỉ hoi nhô lên một chút dê có thể leo lên những sườn dốc gần như thẳng đứng Ngay cả dê con chỉ mới 12-15 ngày tuổi cũng đã có thể nhảy lên những mỏm đá cao 1-2 m
Dê thường chọi nhau rất hăng, không riêng gì dê đực mà
cả dê cái cũng vậy Chúng dùng sừng húc vào mặt, vào đầu, vào bụng địch thủ Những con dê không sừng thì húc cả đầu,
Trang 29cuộc chiến đấu có khi kéo dài đến nửa giờ Tính thích húc nhau là do tính hung hăng hay gây sự, hoặc do đùa nhau, hoặc là do cử chỉ của một con dê trong đàn mà chúng cho là khiêu khích Đôi khi do buồn sừng hay một lý do hào đó mà
dê tự nhiên chuẩn bị tư thế chiến đấu, nó lùi lại lấy đà rồi cúi đầu lao thẳng vào một bụi cây hoặc húc đầu vào một mô đất Khi gặp nguy hiểm, đôi khi dê tỏ ra rất hăng, liều mạng; nhưng nhiều khi lại tỏ ra rất nhát dễ hoảng sợ trước một vật
lạ Nhiều người nuôi dê phàn nàn cho là dê trong bướng Tuy nhiên dê cũng là con vật rất khôn ngoan, dê rất mến người chăm sóc chúng Dê có khả năng nhớ được noi ở của mình cũng như tên của nó khi con người đặt cho Nó nhận biết được người chủ của chúng từ xa vè và thường kêu ầm lên để đón chào Nhiều lúc dê phạm lỗi bị phạt đòn thì không kêu, nhưng nếu bị đánh bất công dê kêu be be ầm ĩ để phản đối
3 Tập tính theo đàn của dê
Dê thường sống tập trung thành từng đàn Mỗi con trong đàn có một vị trí xã hội nhất định Những con mới nhập đàn thường phải thử súc để xác định vị trí xã hội của nó Chọi nhau là hình thức thử súc rất phổ biến trong đàn dê Con ở vị trí " xã hội thấp" phải phục tùng và trong sinh hoạt phải nhường con ở vị trí xã hội cao Trong đàn dê thường có con
dê đầu đàn dẫn đầu trên bãi chăn, đàn dê di chuyển gặm cỏ
Trang 30TẬP TÍNH ĂN UỐNG CỦA DÊ
Trang 31T \ p TÍNH Ả \ UốNCì CT A DF.
Trang 32theo con đầu đàn, ở trong đàn dê rất yên tâm Khi bị tách khỏi đàn dê tỏ ra sợ hãi Dê thích ngủ nghỉ trên những mô đất hoặc trên những tảng đá phẳng và cao Dê ngủ nhiều lần trong ngày, nhiều lúc trong khi ngủ dê vẫn nhai lại, khứu giác và thính'giác của dê rất phát triển nên dê rất nhạy cảm với tiếng động dù nhỏ như có tiếng chân người đi đến gần chuồng, chúng phát hiện được ngay và lao xao kêu khe khẽ như thông báo cho nhau biết Dê còn có khả năng tự chịu đựng,dấu bệnh Khi dê ốm thường vẫn cố theo đàn cho đến khi kiệt sức ngã quỵ xuống mới chịu, vì vậy phải thật quan tâm tỉ mi mói phát hiện được dê mới mắc bệnh.
Trang 33Chuưng III
KỸ THUẬT CHĂN NUÔI DÊ
I GIỐNG VÀ KỸ THUẬT v Ề G IốN G D Ê
1 Giới thiệu những gióng dê hiện có ở Việt Nam
- Dê địa phương (Một số nơí còn gọi là "dê cỏ"), có màu lông khá khác nhau, đa số màu vàng nâu hoặc đen loang trắng; trọng lượng trưởng thành 30-35 kg, sơ sinh 1,7-1,9 kg,
6 tháng tuổi ll-12kg; khả năng cho sữa 350-370g/ngày với chu kỳ cho sữa là 90-105 ngày; tuổi phối giống lần đầu 6-7 tháng, đẻ 1,4 lứa/năm 1,3 con/lứa, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa 65-70%; phù hợp với chăn thả quảng canh với mục đích lấy thịt
- Dê Bách Thảo: Là giống dê kiêm dụng sữa thịt, cho đến nay người ta cũng chưa xác định được rõ nguồn gốc của nó Một số người cho rằng nguồn gốc của nó là con lai giữa dê British-Alpine từ Pháp với dê Ân Độ đã được nhập vào nước
ta, nuôi qua hàng trăm năm nay Dê này có màu lông đen loang sọc trắng, tai to cụp xuống; trọng lượng trưởng thành 40-45 kg dê cái, dê đực 75-80 kg, sơ sinh 2,6-2,8 kg, 6 tháng 19-22 kg; khả năng cho sữa là 1,1-1,4 kg/ngày với chu kỳ cho sữạ là 148-150 ngày, tuổi phối giống lần đầu là 7-8
Trang 34tháng, đẻ 1,7 con/lứa và 1,8 lứa/năm Dê hièn lành, có thể nuôi nhốt hoàn toàn hoặc nhốt kết hợp chăn thả ở các vùng,
và đèu cho kết quả chăn nuôi tốt
- Dê Jumnapari: Là giống Ân Độ được nhập vào nước ta
từ năm 1994, có màu lông trắng tuyền, chân cao; trọng lượng trưởng thành 42-46 kg, con đực 70-80 kg, sơ sinh 2,8-3,5 kg,
6 tháng 22-24 kg; khả năng cho sữa 1,4-1,6 kg với chu kỳ 180-185 ngày Tuổi phối giống lần đầu 8-9 tháng; đẻ 1,3 con/lứa, 1,3 lứa/năm Dê phàm ăn và chịu đựng tốt với thòi tiết nóng búc
- Dê Beetal: Cũng là một giống dê Ấn Độ được nhập về cùng lúc vói dê Jumnapari; màu lông đen tuyền hoặc loang trắng, tai to dài cụp; khả năng sản xuất tucng đương dê Jumnapari; phàm ăn và hiền lành
- Dê Barbari: Là giống dê được nhập vè từ Ân Độ, có màu lông vàng loang đốm trắng như hươu sao, tai nhỏ thẳng; trọng lượng trưởng thành 30-35 kg; dê có bầu vú phát triển, khả năng cho sữa 0,9-lkg/ngày vói chu kỳ 145-148 ngày; khả năng sinh sản tốt (đẻ 1,8 con/lứa và 1,7 lóa/nãm) Dê có thân hình thon chắc, ăn rất tạp, chịu đựng kham khổ tốt, hiền lành phù hợp với hình thức chăn nuôi ở nước ta
- Dê Alpine; Là giống dê sữa của Pháp (nuôi nhiều ở vùng núi Alpes), màu lông chủ yếu màu vàng, đôi khi đốm tráng,
35
Trang 35tai nhỏ thẳng; trọng lượng trưởng thành 40-42 kg, con đực 50-55 kg, sản lượng sữa 900-1000 1ÍƯ1 chu kỳ cho sữa 240-
250 ngày Dê Alpine đã được nhập vào nước ta với số lượng ban đầu là 35 con, đang được nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu
Dê và Thỏ Son Tây và tỉnh Ninh Thuận; tinh cọng rạ của giống dê này cũng được nhập về từ Pháp, đang được dùng để lai tạo với dê trong nước, bước đầu đã cho kết quả tốt
- Dê Saanen: Là giống dê chuyên dụng sữa của Thụy Sĩ, nuôi nhiều ở Pháp và các nước châu Âu; dê có màu lông trắng, tai vểnh nhỏ; có năng suất sữa cao 1000-1200kg sữa/chu kỳ trong 290-300 ngày Trọng lượng con cái trưởng thành 45-50kg, con đục 65-75kg Giống dê Saanen cũng đã được nhập vào nước ta bằng tinh cọng rạ, và đã dùng lai tạo vói dê Bách Thảo, cho két quả tốt Mới đây, chúng ta nhập
25 dê Saanen về Việt Nam nuôi thử nghiêm và đang theo dõi thích nghi chúng
- Dê Bore; là giống dê chuyên dụng thịt, có nguồn gốc từ châu Phi, nay được nuôi nhiều ở Mỹ, châu Phi Giống dê này
có màu lông nâu, có vòng trắng quanh cổ Con đực nặng tới 100-160 kg, con cái nặng tói 90-110 kg Dê này có cơ bắp rất đầy đặn, sinh trưởng nhanh Để phát triển giống dê thịt quí này, ở Mỹ đã thành lập một Hội chăn nuôi dê thịt Bore Nhiều nước đã nhập giống dê Bore để lai tạo giống dê thịt phù hợp với điều kiện ở từng nước
Trang 36- Các con lai: Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Son Tây
đã tiến hành nghiên cứu hàng'loạt các công thức lai giữa các giống dê Dê Bách Thảo đục lai vói dê cái cỏ , cho con lai F1
và F2 Con lai sinh trưởng và tăng trọng tốt, khả năng sinh sản và cho sữa đều cao hon dê c ỏ từ 25-30%; có khả năng thích ứng với chăn nuôi ở nhiều vùng nước ta Sử dụng dê đực 3 giống dê Ân Độ lai với dê c ỏ và dê Bách Thảo, cho con lai cũng có khả năng sản xuất cao hon so vói dế c ỏ và dê Bách Thảo thuần, s ử dụng tinh cọng rạ của dê đực Phấp lai với dê Bách Thảo, có tỷ lệ thụ thai đạt 40-45%; năng suất sữa
ở con lai tăng lên được 35-40%
Với tập đoàn giống dê phong phú nêu trên, vừa tiến hành nhân thuần ở những noi có điều kiện nuôi thâm canh, vừa đẩy mạnh công tấc lai tạo, nâng cao từng bước năng suất đàn
dê, chắc chắn trong tương lai không xa, công tác giống dê sẽ góp phần tích cực trong việc hình thành và phát triển ngành chăn nuôi dê sữa - thịt của nước nhà
2 Kỹ thuật chọn giống dê sữa
2.1 Chọn dê sữa cái giống
Cũng như cấc gia súc khác, khi chọn giống dê ta phải chọn qua đời trước (dòng, giống dê qua bố mẹ, ông bà), sau
đó là chọn lọc qua bản thân cá thể con giống như qua ngoại hình, khả năng sản xuất, khả năng thích ứng với điều kiện chăn nuôi và cuối cùng là chọn lọc qua đời sau của chúng
Trang 37Đối với dê do khả năng sinh sản nhanh chu kỳ sản xuất ngắn
số luợng quần thể đông vì vậy người ta thường dựa trên các tính trạng số lượng để chon lọc chúng Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số điểm cơ bản áp dụng trong sản xuất để chọn lọc dê cài giống sữa
2.1.1 Ngoại hình
- Đầu và thân: đầu rộng hơi dài trán dô, cổ dài vừa phải, mình nở rộng, ngực sâu và dài, lưng phẳng, bụng to vừa phải, hông rộng và hơi nghiêng, da mềm, lông bông mịn, bộ phận sinh dục nở nang (hình 3) Những con đầu dài, trụi lông tai, xương nhỏ, lồng ngực hẹp thì không khoẻ, hay mắc bệnh và khó nuôi
- Tứ chi: Hai chân truớc thẳng, dáng đứng nghiêm chỉnh, hông nở rộng, chân sau cứng cáp thẳng đứng, các khớp gọn, thanh, không dày cần loại bỏ những cá thể có chân móng không thẳng, đầu gối chân trước dày, chân trước không thẳng, chân sau vòng kiềng, cổ chân yếu, quá bẹt
- Bầu vú: Bầu vú nở rộng, các phần cân đối, bầu vú gắn chặt vào phần bụng, gọn ở phía trước, hai núm vú dài và đưa
về phía trước, nhìn phía sau bầu vú nở tròn, lông bầu vú càng mịn càng tốt, bầu vú phải treo vững, núm vú to dài từ 4-6 cm
Có nhiều tĩnh mạch nổi trên bầu vú
38
Trang 38* Những đặc điểm ngoại hình của dê cái giống sữa tốt nên chọn làm giống:
1- Đầu rộng, hoi dài, rắn chắc, vẻ mặt linh hoạt
2- Cổ dài, mềm mại, có cơ chắc, nổi, nhọn vè phía đầu.3- Lưng thẳng
4- Sườn tròn và xiên vè phía sau
5- Có một hõm phía trước xương chậu, thể hiện khả năng tiêu hoả tốt
6- Hông rộng và hơi nghiêng đảm bảo cho dê có bầu vú
7- Những mạch máu lớn nổi rõ ở phía sau, là loại vú da.8- Khớp mắt cá thẳng tránh cho dê khi đi không làm ảnh hưởng tới các mạch máu trên bầu vú
9- Những núm vú to dài từ 4-6cm treo vững vàng trên bầu
vú Bầu vú gắn chặt vào phần bụng, gọn về phía trước
10- Thấy rõ các tĩnh mạch ở phía trước bầu vú
11- Gân sữa (tĩnh mạch) chạy từ bầu vú lên tới nách chân trước Gân sữa gấp khúc thì dê nhiều sữa ở dê cái tơ gân sữa thường lặn dưới da, phải lấy tay sờ mói thấy
12- Chân trước thẳng, cân đối
13- Hàm dàikhoẻ
Trang 39Hình 3 Những hình ảnh ngoại hình của dê
nên chọn làm giống
* Ngoại hình dê cái không nên chọn làm giống.
1- Đầu dài, trụi lông fai
Trang 40Hình 4 Những dê không chọn lầm giống
2.1.2 Khả năng cho sữa
- Khả năng cho sữa là chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá phẩm chất giống Khả năng cho sữa được tính bằng sản luợng sữa trong một chu kỳ tiết sữa (năng suất sữa hàng ngày
và thòi gian cho sữa) Do đó, nên chọn dê vừa phải có sản lượng sữa trung bình hàng ngày cao, mức sụt sữa thấp và thời gian cho sữa kéo dài ở nước ta, với giống dê sữa Bách Thảo những dê cái sữa nên chọn con có năng suất cao hơn 1,1 líưngày và thòi gian cho sữa đạt 150 ngày trở lên để làm dê giống Dê Barbari 1 liưngày và thời gian cho sữa 150 ngày,
dê Jumnapari 1,2 liưngày và thòi gian cho sữa đạt 180 ngày trở lên