George Berkeley December 31, 2012 1 TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI BÀI THUYẾT TRÌNH LỚP TCNH 19C 1 December 31, 2012 2 TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI TỔNG QUAN CHUNG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI December 31, 2012 3 Điều kiện lịch sử và phát triển Ra đời khoảng từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ VI (TCN), giai đoạn xã hội chiếm hữu nô lệ, với mâu thuẫn gay gắt giữa tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc Triết học Hy Lạp coi là thành tự rực rỡ của văn minh phương tây, và là cơ sở xuất phát cho triết học châu Âu sau này.
Trang 1TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
BÀI THUYẾT TRÌNH LỚP TCNH 19C
Trang 2TỔNG QUAN CHUNG
Trang 3TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
Điều kiện lịch sử và phát triển
Ra đời khoảng từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ VI (TCN), giai đoạn xã hội chiếm hữu nô lệ, với mâu thuẫn gay gắt giữa tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc.
Triết học Hy Lạp coi là thành tự rực rỡ của văn minh phương tây, và là cơ sở xuất phát cho triết học châu
Âu sau này.
Triết học Hy Lạp gắn bó hữu cơ với khoa học đương thời Nhiều nhà triết học là các nhà khoa học tự nhiên.
Đã có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái, duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình, vô thần và hữu thần.
Trang 4Heraclit Platon
Trang 51 Heraclit
Trang 6Heraclit (520 – 460 TCN): Nhà triết học duy vật biện chứng cổ đại
Sinh ra ở Ephedo – trung tâm kinh tế, văn hóa nổi tiếng của Hy Lạp cổ
đại
Người say mê khoa học, nhưng không dừng ở sự thông thái mà luôn tìm
đến cái logos( bản chất, quy luật)
Trang 7Giải quyết vấn đề “cơ sở đầu tiên” của thế giới từ một dạng vật chất cụ thể.
Lửa chính là bản nguyên của thế giới.
Trang 8Bản thể luận
Đưa ra tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong sự vật hiện tượng.
Tồn tại các mặt đối lập và sự trao đổi của các mặt đối lập.
“Mọi vật sinh ra qua đấu tranh”.
Sự vận động, phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan (logos) quy định.
Logos khách quan là trật tự khách quan trong vũ trụ
Đấu tranh là quy luật phát triển của vũ trụ
Trang 91 Heraclit
Nhận thức luận
Lý luận nhận thức mang tính duy vật và biện chứng sơ khai:
Nhận thức bắt đầu từ cảm giác.
Không tuyệt đối hóa nhận thức cảm tính.
Để nhận thức được bản chấy quy luật của sự vật phải nâng từ cảm giác lên thành nhận thức lý tính.
Nhận thức mang tính tương đối.
Quan niệm con người có hai mặt đối lập: lửa và ẩm ướt.
Lửa sinh ra linh hồn Người tốt có linh hồn khô ráo và ngược lại.
Trong con người có đấu tranh và chuyển hóa giữa hai mặt: sức khỏe - bệnh tật, thiện – ác…
Trang 10Quan niệm về chính trị - xã hội
Bản tính con người là bình đẳng.
Sự bất bình đẳng của con người, theo ông là hậu quả của sự bất bình đẳng lợi ích
Trang 112 Democrit
Trang 12vật cổ đại
Sinh trưởng trong một gia đình chủ nô dân chủ
Ông được Mác và Ăng -ghen coi là bộ óc bách khoa đầu tiên của
người Hy Lạp
Thuyết nguyên tử là cống hiến nổi bật của ông đối với chủ nghĩa
duy vật Ngoài ra, ông còn có nhiều đóng góp quý giá về lý luận nhận thức
460-370 tr.CN
Trang 132 Democrit
Bản thể luận:
Thuyết nguyên tử vũ trụ được cấu thành từ hai thực thể đầu tiên: nguyên tử và chân không
Mặc dù Đêmôcrít chưa giải thích được nguyên nhân của vận động, nhưng ông đã gắn liền vận động
với nguyên tử, và nó cũng vô cùng, vô tận như nguyên tử Đó là một đóng góp hết sức quan trọng đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên và triết học duy vật
Trang 14 Nhận thức của người ta bắt nguồn từ cảm giác Nhờ sự vật tác động vào các giác quan mà ta có cảm giác về chúng, những
cảm giác này chỉ là chủ quan của con người
Muốn nhận thức bản chất của sự vật, con người ta không được dừng lại ở cảm giác, mà phải biết quy nạp, so sánh, phán
đoán, tức là phải đẩy tới nhận thức lý tính
Ông chia nhận thức làm hai dạng: dạng nhận thức "mờ tối"(nhận thức cảm tính) và dạng nhận thức “trí tuệ”
Mặt tích cực trong quan điểm trên đây là ở chỗ, ông coi đối tượng của nhận thức là thế giới khách quan do nguyên tử và
chân không tạo ra
Trang 152 Democrit
Nhận thức luận:
Mặt hạn chế trong quan niệm này là ở chỗ, ông coi các thuộc tính khách quan của sự vật như âm thanh, mùi vị, mầu sắc chỉ
là những quy ước chủ quan của con người
Một công lao to lớn nữa đối với triết học, đó là lôgíc học Ông đã nêu ra nhiều vấn đề về lôgíc học như định nghĩa khái
niệm, phương pháp so sánh, quy nạp, giả thiết.v.v, trong đó phương pháp quy nạp có vị trí nổi bật
Trang 16Lập trường của chủ nô dân chủ, bảo vệ nền dân chủ Aten chống lại chế độ chuyên chính
Coi nhà nước là trụ cột của xã hội, cần phải xử lý nghiêm khắc những kẻ vi phạm pháp luật hay
các chuẩn mực đạo đức
Trang 173 Platon
Trang 18Nhà triết học duy tâm khách quan
Platonism (427 – 327 TCN)
Sinh ra trong gia đình chủ nô quý tộc ở Athen
Một đại biểu xuất sắc và tiêu biểu của triết học duy tâm trong lịch sử triết
học
Hệ thống triết học của ông đề cập đến nhiều học thuyết như ý niệm, nhận
thức luận…
427 – 327 TCN
Trang 193 Platon
Bản thể luận
Chia thế giới thành hai loại:
Thế giới ý niệm: thế giới tồn tại chân thực, bất biến.
Thế giới của các sự vật cảm tính: thế giới tồn tại không chân thực, thường xuyên biến đổi, phụ thuộc vào thế giới ý niệm.
Các ý niệm là các khái niệm, tri thức đã được khách quan hóa, tồn tại mãi mãi từ xưa đến nay.
Ý niệm có trước, là nguyên nhân, là bản chất của sự vật; sự vật chỉ là cái có sau, là bắt chước, cái mô
phỏng, là bản sao của ý niệm
Khái niệm về tồn tại và không tồn tại.
Trang 20Bản thể luận
Các quan niệm duy tâm, thần bí về linh hồn:
Thể xác con người là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn.
Linh hồn con người là sản phẩm của vũ trụ, do Thượng đế tạo ra từ lâu.
Linh hồn gồm ba bộ phận:
Xúc giác: các giác quan của con người
Cảm tính: cảm giác của con người khi sống (chết cùng con người)
Lý tính: cảm giác của linh hồn vĩnh cửu (tồn tại mãi mãi).
Trang 213 Platon
Nhận thức luận
Đối tượng của nhận thức không phải là các sự vật cảm tính, khách quan bên ngoài mà là thế giới ý niệm.
Quá trình nhận thức là sự hồi tưởng của lý tính.
Nhận thức cảm tính có sau nhận thức lý tính.
Nhận thức cảm tính không phải là tri thức.
Tri thức chỉ có thể đạt được bằng lý tính.
Nhận thức có hai dạng:
Nhận thức mờ nhạt: cảm tính tạo ra, không tạo thành chân lý.
Nhận thức chân lý: lý tính tạo ra.
Trang 22Quan niệm về chính trị - xã hội
Chia ra ba hạng người:
Hạng một: lý tính có vai trò chủ đạo, lãnh đạo nhà nước.
Hạng hai: người lính, võ sĩ, linh hồn tràn đầy gan dạ.
Hạng ba: đại chúng như nông dân, thương nhân…
Sự tồn tại nhà nước là cần thiết để duy trì trật tự xã hội.
Mô hình nhà nước lý tưởng là nhà nước cộng hòa.
Trang 234 Aristot
Được Mác coi là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại
Cống hiến nổi bật của Arixtốt là ông đã phê phán một cách
cặn kẽ học thuyết về ý niệm của Platôn, đã đặt nền móng cho khoa học lôgíc thời cổ đại Nhưng vì dao động giữa hai đường lối duy vật và duy tâm, nên triết học của ông mang tính chất chiết trung, không triệt để
384 – 322 TCN
Trang 24 Arixtốt, nhận ra sai lầm của thầy học mình (Platon) về học thuyết ý niệm : Platon đã tách rời bản chất khỏi cái có bản chất đó, và biến
ngay cái chung (khái niệm) thành cái riêng bên cạnh thế giới cảm tính, quyết định thế giới cảm tính
Theo Arixtốt, bản chất tồn tại (chứa đựng) ngay trong bản thân sự vật
Nhận thức của con người khái quát thành những cái chung, cái phổ biến dưới dạng, các khái niệm, các phạm trù, các quy luật
Arixtốt khẳng định: "Khái niệm không bao giờ lại là nguyên nhân của sự tồn tại của sự vật, mà sự vật, có thể gọi là nguyên nhân chân
chính của khái niệm" (Quan niệm được Lênin đánh giá là đã tiến sát đến chủ nghĩa duy vật)
Trang 254 Aristot
Ông thừa nhận giới tự nhiên tồn tại một cách khách quan với những sự vật hết sức đa dạng
Theo ông, hình thức của mọi hình thức là tư duy, là lý tính, sự suy nghĩ, là thượng đế
Ông đã dao động, do dự giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, hoà nhập vào thần học, trở lại gần gũi với Platôn, thầy học của
ông
Arixtốt cho rằng con người có phần linh hồn và phần thể xác, tựa như mỗi sự vật đều được hình thành từ vật chất và hình thức Ông chia
linh hồn làm 3 loại:
linh hồn thực vật có hoạt động nuôi dưỡng và sinh sản;
linh hồn động vật có khả năng cảm ứng với môi trường xung quanh;
linh hồn con người có hoạt động lý tính, đây là loại linh hồn cao nhất
Trang 26 Lý luận về nhận thức của Arixtốt là đỉnh cao của sự phát triển các tư tưởng về nhận thức luận thời cổ đại Hy Lạp
Điểm đặc sắc trong lý luận nhận thức của ông là phương pháp suy luận ba bước (tam đoạn luận) của lôgíc hình thức
Ông khẳng định rằng thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc của kinh nghiệm; tự nhiên là tính thứ
nhất, tri thức là tính thứ hai
Để đạt đến chân lý, nhận thức phải đi từ cảm tính đến lý tính Đó là quá trình đi từ những cảm giác đơn lẻ, ngẫu nhiên đến
cái chung, cái phổ biến, cái bản chất dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật
Trang 274 Aristot
Quan niệm về chính trị - xã hội