1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

CHỦ NGHĨA DUY TÂM HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ HẠN CHẾ CỦA NÓ

10 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ Nghĩa Duy Tâm Hy Lạp Cổ Đại Và Những Giá Trị Hạn Chế Của Nó
Người hướng dẫn TS. Bùi Văn Mưa
Trường học Học Viện Thông Tin & Thư Viện Hà Nội
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Triết Học GVHD TS Bùi Văn Mưa Triết học là khoa học của mọi khoa học, là đề tài nghiên cứu của lớp lớp các thế hệ diễn giả, triết gia nhưng không ai có thể hiểu rõ hoàn toàn về triết học Trong muôn trùng những nguyên lý của triết học, của các triết gia CHỦ NGHĨA DUY TÂM HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ HẠN CHẾ CỦA NÓ là đề tài mà tôi phải tìm hiểu và viết luận Với nguồn kiến thức cũng như vốn hiểu biết hạn hẹp của mình về một môn khoa học của mọi môn khoa học, tôi chỉ có thể nhìn nhận ra.

Trang 1

Triết học là khoa học của mọi khoa học, là đề tài nghiên cứu của lớp lớp các thế hệ diễn giả, triết gia nhưng không ai có thể hiểu rõ hoàn toàn về triết học Trong muôn trùng những nguyên lý của triết học, của các triết gia "CHỦ NGHĨA DUY TÂM HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ - HẠN CHẾ CỦA NÓ" là

đề tài mà tôi phải tìm hiểu và viết luận Với nguồn kiến thức cũng như vốn hiểu biết hạn hẹp của mình về một môn khoa học của mọi môn khoa học, tôi chỉ có thể nhìn nhận ra vấn đề theo chủ quan của cá nhân tôi Có thể nó không hoàn toàn chính xác, không thực sự đúng, tôi mong Thầy hướng dẫn có thể chỉ bảo thêm cũng như bỏ qua những sai sót mà tôi mắc phải Tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp quý báu của Thầy để giúp cho bài tiểu luận của tôi được hoàn thiện cũng như sâu sắc hơn

Trang 2

I Chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại

1 Điều kiện kinh tế - xã hội thời Hy Lạp cổ đại và những tiền đề

tư tưởng của chủ nghĩa duy tâm khách quan

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội thời Hy Lạp cổ đại

Hy Lạp cổ đại là một quốc gia có khí hậu ôn hòa và rộng lớn bao gồm miền Nam bán đảo Bancăng, miền ven biển phía tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở biển Êgiê Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi mà Hy Lạp cổ đại sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công - thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng Lịch sử Hy Lạp cổ đại trải qua bốn thời kỳ, trong

đó, thời kỳ Maxêđoin đã để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại kéo dài đến thế kỷ thứ IV Trong thời đại này, người Hy Lạp đã xây dựng một nền văn minh vô cùng xán lạn với những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau Chúng là cơ sở hình thành nên nền văn minh phương Tây hiện đại Vì vậy, Ăngghen đã nhận xét: "Không có

cơ sở văn minh Hy Lạo và đế quốc La Mã thì cũng không có châu Âu hiện đại được Về văn học, người Hy Lạp đã để lại một kho tàng thần thoại rất phong phú, những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫn phản ánh cuộc sống sôi động, lao động bền bỉ, cuộc đấu tranh kiên cường chống lại những lực lượng

tự nhiên - xã hội của người Hy Lạp cổ đại Về nghệ thuật, người Hy Lạp cổ đại

đã để lại các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa có giá trị Về luật pháp, người Hy Lạp đã sớm xây dựng một nền pháp luật và được thực hiện khá nghiêm tại thành Aten Về khoa học tự nhiên, các thành tựu toán học, thiên văn, vật lý được các nhà khoa học tên tuổi như Talét, Pytago, Ácximét, Ơclít sớm phát hiện ra Đặc biệt, người Hy Lạp cổ đại đã để lại một di sản Triết Học đồ sộ và sâu sắc

1.2 Những tiền đề tư tưởng của chủ nghĩa duy tâm khách quan

Trang 3

Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tạo cơ sở cho sự phân hóa lao động và đề cao lao động trí óc, coi thường lao động chân tay Điều này thúc đẩy sự hình thành tầng lớp tri thức biết xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lý luận để nghiên cứu triết học và khoa học Triết học và khoa học đã ra đời và phát triển mạnh mẽ Triết học Hy Lạp cổ đại rất đa dạng; song nhìn chung, chúng thể hiện rõ khuynh hướng nhất nguyên (chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm) hay khuynh hướng nhị nguyên một cách rõ ràng và khá nhất quán Triết học Hy Lạp cổ đại gắn liền với lịch sử ra đời của nền chính trị Hy Lạp cổ đại (mà đỉnh cao của nó là nền dân chủ Aten) và phản ánh lịch sử của đất nước này Do vậy, nó trải qua ba giai đoạn: giai đoạn hình thành, giai đoạn cực thịnh và giai đoạn suy tàn; trong đó, cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng nhất nguyên duy vật và nhất nguyên duy tâm của giai đoạn cực thịnh đã để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch sử triết học Hy Lạp

cổ đại

2 Chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại - Các học thuyết tiêu biểu

2.1 Tư tưởng triết học của Socrate

Socrate không chủ trương nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên, vì theo ông, chúng đã được thần thánh an bài, con người không có khả năng khám phá được

sự sáng tạo ra giới tự nhiên của thần thánh và cũng không thể cải đổi được giới tự nhiên theo ý mình Vì vậy, triết lý thật sự phải bàn đến các vấn đề về con người

và các hành vi của con người trong đời sống xã hội và trước hết là hành vi đạo đức Xuất phát từ đạo đức học duy lý, ông cho rằng, hiểu biết là cơ sở của điều thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác; và chỉ có cái thiện phổ biến mới là cơ sở của đạo đức, mới là tiêu chuẩn của đức hạnh; ai tuân theo cái thiện phổ biến thì mới là người có đạo đức, và muốn theo cái thiện phổ biến thì phải hiểu được nó, muốn hiểu được nó thì phải thông qua các cuộc tranh luận, tọa đàm, luận chiến tìm ra chân lí theo cách thức mà về sau được gọi là phương pháp Socrate Như vậy, đối với Socrate, chỉ có những người có tri thức như giai cấp quí tộc và các triết gia mới là những người có đạo đức Tính cách của con người và cái chết

Trang 4

của Socrate đã để lại mốt dấu ấn sâu đậm đến sự nghiệp triết học của người học trò xuất sắc của ông là Platon

2.2 Tư tưởng triết học của Platon

Platon đã xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan có nội dung chính là thuyết ý niệm với giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm, và nhiều tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức - chính trị - xã hội như sau:

- Thuyết ý niệm: Platon chia thế giới ra thành thế giới ý niệm (lý tính, tồn tại trên trời, mang tính phổ biến, chân thật, tuyệt đối, bất biến, vĩnh hằng, duy nhất ) và thế giới sự vật (cảm tính, tồn tại dưới đất, mang tính cá biệt, ảo giả, tương đối, khả biến, thoáng qua, đa tạp ) Coi ý niệm là cái sản sinh, có trước, là nguyên nhân, là bản chất, là khuôn mẫu của sự vật; coi sự vật là cái được sản sinh, có sau, là cái bóng được mô phỏng, sao chép lại từ ý niệm; bất cứ sự vật nào cũng xuất hiện từ ý niệm và có quan hệ ràng buộc với ý niệm Bằng thuyết

ý niệm, ông lý giải sự sinh thành thế giới sự vật, con người và hoạt động của linh hồn Theo Platon, sự sinh thành thế giới sự vật xảy ra gắn liền với bốn yếu tố cơ bản là tồn tại (ý niệm), không tồn tại (vật chất), con số (quan hệ tỉ lệ), sự vật cảm tính: Chính sự tồn tại của ý niệm thông qua quan hệ tỉ lệ của các con số tác động vào sự không tồn tại sinh ra sự vật cảm tính; tuy nhiên, đây là một công việc sáng tạo đầy tính thần bí (thần Tạo hóa đã kiến tạo ra thế giới sự vật hữu hình cảm tính bằng cách mô phỏng theo thế giới ý niệm) Thần linh, tức linh hồn của vũ trụ, xuất hiện dưới dạng các tinh tú và chỉ được nhận thức bằng chính linh hồn vũ trụ trong con người (đó là lí trí), và mang lại sự sống cho tất cả chim, cá, thú, con người và cả bản thân thần linh Đối với Platon, thần linh là thước đo của vạn vật Platon cho rằng con người là sự kết hợp của thể xác khả tử (được cấu từ đất, nước, lửa, không khí, là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn) với linh hồn bất tử Linh hồn của con người là sản phẩm của linh hồn vũ trụ được Thượng đế tạo

ra từ lâu; chúng ngự trị trên các vì sao trời, sau đó, dùng cánh xuống nhập vào thể xác của con người; khi nhập vào thể xác, nó quên hết quá khứ Linh hồn của con người bao gồm ba bộ phận: thể xác, ý chí và lí trí; trú ngụ tạm thời ở ba chỗ

Trang 5

khía cạnh (dục vong, tình cảm, nhận thức), thể hiện ba phẩm hạnh (điều độ, can đảm, khôn ngoan), trong đó chỉ có lí trí là bất tử Hoạt động cơ bản của linh hồn

là nhận thức Nhận thức chân lí (ý niệm) là cơ sở để con người có được hành vi đạo đức; và hành vi đạo đức của con người là chỗ dựa cho các hoạt động chính trị - xã hội

- Quan niệm về nhận thức: Nhận thức, theo Platon, là sự hồi tưởng lại (trực giác thần bí) của linh hồn bất tử (lí trí) về những gì nó đã từng chiêm ngưỡng được trong thế giới ý niệm nhưng lãng quên Linh hồn nhận thức bằng cách đàm thoại trực tiếp với nhau để làm thức tỉnh lại các ý niệm trong bản thân mình Tranh luận, sự va chạm giữa các ý kiến riêng khác hay thậm chí trái ngược nhau

để tiến đến sự thừa nhận những ý kiến chung; chúng là biện pháp khám phá ra các ý niệm phổ biến, vĩnh hằng, chân thực, là công cụ để nhận thức chân lí Nhận thức chân lí là khám phá ra ý niệm tồn tại sẵn trong linh hồn con người Đó là nhiệm vụ riêng cho tư duy lí luận thuần túy Nhận thức chân lí hoàn toàn diễn ra bên ngoài hoạt động cảm tính của con người, vì hoạt động cảm tính chỉ mang lại kiến giải sai lầm về thế giới sự vật

- Quan niệm về đạo đức : Xuất phát từ đạo đức học duy lý, Platon cho rằng, sống hạnh phúc là sống có đạo đức Sống có đạo đức là làm điều thiện Hành vi hướng thiện là hành vi không dựa trên khoái lạc, lợi thú chủ quan mà hướng đến những ý tưởng tuyệt đối khách quan dựa trên các ý niệm ở trên trời Con người chỉ nhận thức được những ý tưởng này bằng lí trí Theo Platon, con người muốn sống hạnh phúc phải dùng lí trí để chiêm nghiệm những ý tưởng và khắc phục những dục vọng vật chất thấp hèn, giúp linh hồn thoát khỏi gông cùm của nhà tù thể xác Dục vọng phải phục tùng theo trái tim, trái tim phải làm theo khối óc là điều kiện tiên quyết để sống hạnh phúc Như vậy, theo Platon, con người không thể tìm thấy hạnh phúc riêng cho mình ở xung quanh mình, dưới trần gian; con người chỉ có thể đạt được hạnh phúc trong thế giới ý niệm, ở trên trời, sau khi chết Quan niệm về đạo đức đầy tính chất duy tâm thần bí của Platon là cơ sở cho nền đạo đức Thiên chúa giáo sau này

Trang 6

- Quan niệm về chính trị - xã hội: Do ba bộ phận cấu thành linh hồn trong mỗi con người cụ thể là không giống nhau nên trong xã hội có ba loại người Loại thứ nhất bao gồm các triết gia - những người mà bộ phận lí trí trong linh hồn họ đóng vai trò chủ đạo; họ có nhận thức sáng suốt và đạo đức cao cả; Thượng đế sinh ra họ để họ lãnh đạo xã hội Loại thứ hai bao gồm các chiến binh

- những người mà bộ phận ý chí trong linh hồn họ đóng vai trò chủ đạo; họ tràn đầy lòng dũng cảm và sự gan dạ; Thượng đế sinh ra họ để họ bảo vệ xã hội Loại thứ ba bao gồm nông dân, thợ thủ công, thương gia - những người mà bộ phận cảm xúc trong linh hồn họ đóng vai trò chủ đạo; họ thích nghi với lao động chân tay và đam mê của cải vật chất; Thượng đế sinh ra họ để họ bảo đảm đời sống vật chất cho xã hội Platon coi nô lệ không phải là con người mà là động vật biết nói,

do không có lí trí nên nô lệ không có nhận thức, do không nhận thức nên không

có đời sống đạo đức, do không có đời sống đạo đức nên nằm ngoài vòng chính trị Nhà nước được hình thành nhằm đảm bảo cho sự phân công trên được thực hiện Tuy nhiên, chế độ sỡ hữu tư nhân không chỉ làm cho nhà nước không thực hiện được sứ mệnh cao cả của mình, mà hơn thế nữa, nó làm cho nhà nước bị tha hóa, gây ra sự băng hoại đời sống đạo đức, phá hoại tính hài hòa của xã hội

Vì vậy, cần phải xóa bỏ sở hữu tư nhân; phải xây dựng chế độ sở hữu công

xã với tài sản chung, cha mẹ con cái chung, trên cơ sở thực hiện một quy trình giáo dục, tuyển lựa đào tạo đặc biệt có chú trọng đến thành phần tinh túy trong xã hội Theo Platon, chế độ xã hội tốt nhất phải là chế độ cộng hòa quý tộc, do một

vị vua là triết gia tài ba nhất lãnh đạo Quan hệ về chính trị - xã hội của Platon chứa đầy tính bảo thủ và mâu thuẫn Bởi vì, ông vừa đòi hỏi phải phá bỏ tư hữu, lại vừa đòi hỏi phải bảo vệ cho bằng được chế độ đẳng cấp và sự bất bình đẳng trong xã hội; vừa kêu gọi phải xây dựng cho bằng được nhà nước cộng hòa lý tưởng; lại vừa ra sức bảo vệ cho bằng được lợi ích và địa vị của tầng lớp chủ nô quý tộc chống lại nhà nước dân chủ Aten

II Những giá trị và hạn chế

1 Những giá trị của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại

Trang 7

Giá trị đạt được của chủ nghĩa duy tâm khác quan Hy Lạp cổ đại thông qua học thuyết của Socrate và Platon là giúp cho chúng ta nhận ra giá trị của nhận thức chân lý, của tâm hồn

Con người có những ham muốn tầm thường của thể xác, của vật chất, của phần CON trong từ con người Nhưng tất cả những ham muốn dục vọng ấy phải được lý trí kiểm soát chứ không phải dễ dàng bộc lộ ra Tức con người phải có phần NGƯỜI, phần nhận thức làm cơ sở, làm nền tảng để kiểm soát những ham muốn, để sống có đạo đức, có giá trị ngay giữa dòng đời xuôi ngược cùng muôn trùng trái ngang cám dỗ Chính phần nhận thức ấy sẽ giúp cho giá trị của bản thân mỗi người được tôn lên, sẽ trở thành sen giữa bùn

Platon giúp cho con người biết đâu là hạnh phúc, sống hạnh phúc là sống có đạo đức Sống có đạo đức là làm điều thiện, hành vi hướng thiện là hành vi khoái lạc Đạo đức sẽ giúp đưa lối dẫn đường giúp con người ta trở nên thanh cao, thoát tục và cảm thấy lòng mình thanh tịnh hơn bất cứ khi nào trước những trái ngang và bộn bề của cuộc sống

2 Những hạn chế của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại

Hạn chế lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại thông qua học thuyết của Socrate và Platon là chỉ cho giai cấp quý tộc và các triết gia mới là người có đạo đức, còn mọi tầng lớp còn lại trong xã hội đều là thấp hèn, không có đạo đức Hạn chế này dẫn đến những sai lầm trong thuyết ý niệm và linh hồn của Platon

Platon quá coi trọng thần thánh, thế giới tâm linh mà hoàn toàn không chú ý đến khả năng nhận thức của con người có thể ngày càng tiến bộ hơn theo thời gian và giúp họ tìm thấy hạnh phúc ngay trong đời sống thực mà phải chờ tới khi lên trời, trở về với cát bụi mới thực sự tìm thấy hạnh phúc Điều này kiến cho con người không tin vào cuộc sống thực, khả năng tự vươn lên của bản thân, mà chỉ mong sớm được chết, sớm được siêu thoát để trở về với thế giới tâm linh thần thánh, để được hưởng hạnh phúc trên trời

Trang 8

Platon coi nô lệ không phải là con người mà là động vật biết nói, không coi trọng giá trị của những tầng lớp thấp trong xã hội mà chỉ coi họ như một loài động vật cấp cao, một công cụ lao động không có trình độ không có nhận thức, chỉ để giúp việc và phụng sự cho những tầng lớp cao hơn có thể hoạt động tồn tại

và phát triển một cách khỏe mạnh

Những hạn chế này khiến cho mô hình xây dựng nhà nước xóa bỏ tư hữu và thiết lập công hữu của Platon mang đầy tính mâu thuẫn và bảo thủ

Trang 9

Với tôi "CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ - HẠN CHẾ CỦA NÓ" là một đề tài hay nhưng khó, bởi nó chứa đựng ít nhiều quan điểm chủ quan của những nhà Triết gia thời bấy giờ, vẫn tôn thờ tầng lớp giai cấp thống trị và triết gia Chính những quan điểm đó khiến cho bên cạnh những giá trị mà nó mang lại thì vẫn tồn đọng ít nhiều hạn chế

Trang 10

- Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh, Khoa Lý Luận Chính

Trị, Tiểu Ban Triết Học: Triết Học, Phần I, Đại Cương Về Lịch Sử Triết Học, lưu

hành nội bộ, 2010

- Bộ Giáo Dục và Đào Tạo: Giáo trình Triết Học Mác Lê Nin, Nhà Xuất

Bản Chính Trị Quốc Gia, 2006

Ngày đăng: 19/06/2022, 08:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w