Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại Nhìn chung triết học Hy Lạp cổ đại có những đặc trưng sau: - Gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nh
Trang 1TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI THÔNG QUA VIỆC PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẠI BIỂU CỦA TRIẾT
HỌC Ở HY LẠP TRONG THỜI KỲ CỔ ĐẠI.
Giảng Viên: TS BÙI XUÂN THANH
Họ tên học viên: LÂM VĂN DƯỠNG
Lớp: Triết Học_Tối T3_ A308_22D1PHI61000409 MSHV: 52210207480
TP Hồ Chí Minh – Năm 2022
Trang 22 Nội dung chính: Đặc Điểm Và Các Trường Phái Triết Học Cổ Đại Hy Lạp 3
2.1 Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại 3
2.2 Các Trường Phái Triết Học Cổ Đại Hy Lạp 4
2.2.1 Trường phái Milê 4
2.2.2 Trường phái Hêraclít 6
2.2.3 Trường phái đa nguyên 6
2.2.4 Trường phái nguyên tử luận 7
2.2.5 Trường phái Pytago 9
2.2.6 Trường phái Êlê 10
2.2.7 Trường phái duy tâm khách quan 10
2.2.8 Triết học nhị nguyên của Arixtốt 12
3 Vài ưu điểm và hạn chế của triết học Hy Lạp cổ đại 16
3.1 Ưu điểm 16
3.2 Hạn chế 16
4 Kết luận 16
Trang 31 Mở đề
Triết học Hy Lạp cổ đại là một thời kì phát triển rực rỡ của triết học nhân loại với nhiều thành tựu lớn Những thành tựu thời kì này có thể nói là hết sức to lớn nếu
so với nền khoa học cụ thể Nổi bật trong số các giá trị đạt được trong thời kì này
có thể nói là “thuyết nguyên tử” và phép biện chứng Với những giá trị này triết học Hy Lạp cổ đại đã trở thành một nền tảng để phát triển triết học sau này Cụ thể thấy hầu hết các trường phái triết học hiện đại đều có mầm mống của triết học
Hy Lạp cổ đại để lại Triết học Hy Lạp cổ đại nảy sinh những học thuyết, những tiên đoán tuyệt vời Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Những Đặc Điểm Cơ Bản Của Triết Học Hy Lạp Cổ Đại Thông Qua Việc Phân Tích, Đánh Giá Một Số Đại Biểu Của Triết Học Ở Hy Lạp Trong Thời Kỳ Cổ Đại”
2 Nội dung chính: Đặc Điểm Và Các Trường Phái Triết Học Cổ Đại Hy Lạp
2.1 Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại
Nhìn chung triết học Hy Lạp cổ đại có những đặc trưng sau:
- Gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó
- Có sự phân chia và các sự đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái, duy vật
- duy tâm, biện chứng - siêu hình, vô thần - hữu thần
- Đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác, hoang sơ
-Thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị
- Coi trọng vấn đề về con người
- Triết học cổ Hy Lạp mang tính duy vật tự phát và biện chứng sơ khai Tách ra khỏi yếu tố thần linh thống trị con người từ xưa, đỉnh cao của triết học cổ Hy Lạp
là triết gia Socrate Ông đã đề cập đến thân phận con người Đa phần các triết gia
có xu hướng hướng ngoại thì Socrate quay về hướng nội, ông đã đề cập đến đạo đức con người
Trang 42.2 Các Trường Phái Triết Học Cổ Đại Hy Lạp
2.2.1 Trường phái Milê
Trường phái này do ba nhà triết học lập nên như: Talet, Anaximăngđrơ và Anaximen Đóng góp quan trọng nhất của trường phái này là đã đặc nền móng do
sự hình thành các khái niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ xung và làm phong phú thêm những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh của các mặt đối lập v.v… Một điều đáng quý nữa là các triết gia đã xuất phát từ thế giới để giải thích thế giới, khẳng định thế giới xuất phát từ một thời nguyên vật chất duy nhất
Trường phái triết học Milê là trường phái của các nhà triết học đầu tiên xứ Lonie, một vùng đất nổi tiếng của Hy Lạp Nằm chạy dài trên miền duyên hải Tiểu Á, nằm giữ huyết mạch giao thông, là cửa mở đi về phương Đông, và là trung tâm kinh tế, văn hóa của thời kỳ chiếm hữu nô lệ Nơi đây được xem là quê hương của nhiều trường phái triết học của triết gia nổi tiếng
Talet là một nhà triết học duy vật thành tựu nổi bật của ông là quan niệm triết học duy vật Ông cho rằng là nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật trong thế giới Mọi vật đèu sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại trở thành nước Theo Talet vật chất (nước ) tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó sinh ra đều biến đổi không ngừng, sinh ra và chết đi toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất
mà nền tảng là nước Quan niệm triết học của ông giới thiệu thế giới tuy còn thô
sơ mộc mạc, nhưng đã có ý nghĩa vô thần, chống lại thế giới quan tôn giáo đương thời và chứa đựng những yếu tố biện chứng tự phát Song nhà khoa học đầu tiên này chưa thể thoát khỏi ảnh hưởng của quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ, điều này thể hiện ở chỗ; ông cho rằng thế giớ đầy dãy những vị thần linh và khi không thể giải thích được hiện tượng từ túnh của nam châm thì ông khẳng định rằng nó là linh hồn
Anaximăngđrơ là nhà triết học duy vật là bạn của Talet Khác với Talet khi giải quyết vấn đề bản thể luận triết học, ông cho rằng, cơ sở của sự hình thành vạn vật trong vũ trụ là từ một dạng vật chất đơn nhất, vô định, vô hạn và tồn tại một cách vĩnh viễn: đó là Apeiron Các triết gia thời cổ đại đã có những giải thích khác
Trang 5nhau về Apeiron: đó là vật mang tính vật chất; là hỗn hợp của các yếu tố như đất, nước, lửa, không khí; là cái trung gian giữa lửa và không khí; là cái không xác định (Arixtôt) Apeirôn không chỉ là nguồn gốc sinh ra mọi vật mà còn là cơ sở vận động của vạn vật Apeirôn là nguồn gốc sinh ra mọi cái, đồng thời là nguồn gốc và sự thống nhất của các sự vật đối lập nhau: nóng-lạnh, sinh ra- chết đi, toàn bộ vũ trụ tồn tại như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng So với Talet, Anaximăngđrơ có một bước phát triển xa hơn trong sự khái quát trừu tượng
về phạm trù vật chất ở Talet, vật chất đầu tiên là nước mang tính ít trừu tượng hơn so với ở Anaximăngđrơ là Apeirôn - một chất vô định hình mà người ta không thể trực quan thấy được Lần đầu tiên trong lịch sử Hy Lạp cổ đại, vật chất không bị đồng nhất với vật cụ thể Đó là bước tiến mới trong tư duy trừu tượng của người Hy Lạp Cũng như Talet, chịu ảnh hưởng các quan niệm thần thoại và tôn giáo, khẳng định điểm tận cùng giới hạn của thế giới mọi sinh vật theo ông đèu sinh ra từ Apeirôn và có lỗi lầm với nhau những lỗi lầm của chúng phá vỡ các chuẩn mực và giới hạn của chúng Mọi cái cuối cùng đều trở thành Apeirôn.theo nghĩa này, Apeirôn trở thành một cái ít nhiều mang tính thần bí
Anaximen là học trò của Anaximăngđrơ, đứng trên quan điểm duy vật chất phác, ông nghiên cứu thiên văn học và triết học Ông cho rằng, mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú đều từ trái đát mà ra, do trái đất quay nhanh mà bắn ra xa, điều này đến nay đã bị bác bỏ nhưng ở thời ấy có giá trị lớn trong việc đấu tranh chống lại những quan điểm duy tâm, tôn giáo về vũ trụ về cuộc sống xã hội.Ông cũng có những tiên đoán: trái đất có hình cái trống, tự xoay quanh mình nó, mưa đá là kết quả đóng thành băng của các tia nước trên cao, khi băng bị không khí làm tan
ra thì thành tuyết Theo ông, không khí là nguồn gốc là bản chất của mọi cái là bản nguyên của thế giới, vì nó giữ vai trò quan trọng trong đời sống của tự nhiên
và con người ngay cả các vị thần cũng được sinh ra từ không khí ông cho rằng, hơi thở chính là không khí, người ta không thể sống nếu không thở, tâm hồn con người rung động theo hơi thở mạnh, yếu Không khí là cái vô định hình, mà bản thân Apeirôn cũng chỉ là một thuộc tính của không khí không khí sinh ra mọi vật
Trang 6bằng hai cách loãng ra và cô đặc lại: không khí loãng thành lửa; đặc thành gió, mây; đặc nữa thành nước; đặc nữa thành đất, đá
2.2.2 Trường phái Hêraclít
Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quý tộc chủ nô ở thành phố Ephetdơ Ông sớm trở thành một nhà triết học duy vật thể hiện rõ các tư tưởng biện chứng chất phát từ thời cổ Hy Lạp Ông coi bản nguyên của thế giới là lửa Vũ trụ không phải do Thượng Đế hay một lực lượng siêu nhiên nào đó tạo ra, mà nó “đã” và
“đang” sẽ mãi mãi là ngọn lửa vĩnh hằng không ngừng bùng cháy và lụi tàn Tàn lụi và bùng cháy theo cái logos tức là “quy luật, trật tự” nội tại của chính mình Ông xem thế giới “vừa tồn tại vừa không tồn tại”, “không ai tắm hai lần trong một dòng sông” Thế giới vật chất “vừa đa dạng vừa thống nhất, vừa mang tính hài hòa vừa xung đột”
Như vậy, Hêraclit là nhà triết học đã nêu lên các phỏng đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, mà sau này Marx đã đề cập và đi sâu Phép biện chứng duy vật chất phát là đóng góp của triết học Hêraclit vào kho tàng
tư tưởng của nhân loại
2.2.3 Trường phái đa nguyên
Để giải thích tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật Empedocles ( 490 – 430 TCN ) và Anaxagoras ( 500 – 428 TCN ) cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sự khai minh của các trường phái như Milet - trường phái Héraclite xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất đa dạng Empedocles thừa nhận khởi nguyên của thế giới là bốn yếu tố : đất, nước, lửa và không khí Anaxagorax cho rằng cơ sở đầu tiên của tất cả mọi sự vật là
“những hạt giống” Anaxagorax xem “ mọi cái được trộn lẫn trong mọi cái” Tuy nhiên, quan điểm của họ cũng còn mang tính sơ khai, nghĩa là còn hạn chế Những hạn chế này được thuyết phục bởi thuyết nguyên tử luận Nhưng thuyết này vẫn còn sơ khai và nhận định bằng cảm tính
Trang 72.2.4 Trường phái nguyên tử luận
Trường phái này là đỉnh cao của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại được thể hiện trong trường phái nguyên tử luận Lơxíp là người sáng lập và Démocrite là người
kế thừa và phát triển
Lơxíp là người đầu tiên ở Hy Lạp cổ đại nêu lên học thuyết nguyên tử Các tác phẩm trình bày học thuyết cảu ông không được lưu giữ, người ta biết đến qua người học trò Đêmôrít hoặc những trích dẫn ở các tác phẩm của các nhà triết học khác Tán thành quan niệm về tồn tại của Pácmênít nheng khác với Pácmênít ở chỗ, ông không phủ nhận cái không- tồn tại theo ông, cái không -tồn tại chính là khoảng chân không -“không gian rỗng” nhờ có không gian rỗng này mà mà các nguyên tử và các vật thể có thể vận động, kết hợp và phân tán ông hiểu sự vận động là sự thay đổi vị trí trong không gian Lơxíp cho rằng, mọi sự vật được cấu thành từ những nguyên tử đó là những hạt vật chất tuyệt đối không thể phân chia được, nó vô hạn về số lượng và vô hạn về hình thức: nó vô cùng bé, không thể thẩm thấu được, không có chất lượng Các nguyên tử chỉ khác nhau về kích thước
và hình thức, sở dĩ có những sự vật khác nhau là vì có những hình thức sắp xếp khác nhau của các nguyên tử Lơxíp đã đè cập đén tính nhân quả tất yếu trên quan điểm luận duy vật, chống lại mục đích luận của chủ nghĩa duy tâm ông khẳng định: “không mọt sự vật nào phát sinh một cách vô cớ mà tất cả đều phát sinh trên một căn cứ nào đấy, và do tính tất nhiên”
Đêmôcrit là học trò giỏi của Lơxíp ông đã đén Aicập, Babilon, Ânđộ tìm hiểu và
đã tiếp xúc với những tri thức triết học xuất hiện ở phương đông cổ đại ông hiểu xâu rộng nhiều lĩnh vực: triết học, đạo đức học, mỹ học, ngôn ngữ học, kỹ thuật,
âm nhạc Ông cho rằng, mỗi nguyên tử có một hình thức nhất định, nguyên tử không những vô hạn về số lượng mà còn vô hạn về hình thức; mọi sự vật đều được cấu thành từ các nguyên tử, sự kết hợp đó không phải lad tuỳ tiện, ngẫu nhiên mà kết hợp theo quy luật trật tự, cũng như bảg chữ cái, từ đó thực hiện sự kết hợp theo thứ tự nhất định tạo thành từ Nguyên tử cũng khác nhau về tư thế, giống như tư thế của các chữ cái.sự vật khác nhau là do sự vật được cấu tạo từ những hình thức khác nhau; sự sắp xếp theo trật tự khác nhau; và được xoay đặt
Trang 8theo những tư thế khác nhau Mọi sự biến đổi của sinh vật thực chất là sự bién đổi trình tự sắp xếp của các nguyên tử tạo nên chúng, còn bản thân nguuyên tử - hạt vật chất nhỏ nhất thì không thay đổi gì cả Ở đây một mặt, Đêmôcrit tán thành lý thuyết “tồn tại” duy nhất bất biến của Patmênit, coi nguyên tử là bất biến; mặt khác ông kế thừa quan điểm của Hêraclit cho rằng mọi sự vật không ngừng biến đổi Đêmôcrít đồng quan điểm với Lơxíp - người thầy của mình và phát triển học thuyết nguyên tử lên một trình độ mới ông cho rằng, nguyên tử và khoảng không
là cơ sở cấu tạo nên mọi vật; nguyên tử là hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy, không phân chia được, không mùi vị, không âm thanh, không màu sắc không có
sự khác nhau về chất mà chỉ có sự khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế Đêmôcrit và các nhà nguyên tử luận khẳng định sự tồn tại của cái không - tồn tại theo nhận xét của Arixtôt thậm chí còn cho rằng “cái tồn tại có thực không hơn gì cái không tồn tại, bởi vì sự vật tồn tại không mảy may hơn gì khoảng không và cả hai đều có nguyên nhân vật chất” Cái không - tồn tại chính là khoảng không trống rỗng, nó không chịu ảnh hưởng gì các sự vật (tức cái tồn tại) trong nó cả
Do các vận động đó các nguyên tử có cùng một kích thước, cùng một hình thức kết hợp với nhau tạo thành: lửa, đát, nước, không khí Trong thế giới mọi sự vật đều luôn luôn quy tụ về trung tâm do trọng lượng của chúng Đemôcrit khẳng định: vũ trụ vô tận và vĩnh viễn, có vô số thề giới vĩnh viễn phát sinh phát triển và
bị tiêu diệt
+ Quan niệm về sự vận động: Quan điểm của Đemôcrit về vận động, gắn liền với vật chất là một phoán đoán thiên tài có giá trị đặc biệ Theo ông vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên tử ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân, tự nó, còn khoảng trống chân không là điều kiện vận động của nó Tuy nhiên, Đêmôcrit đã không lý giải được nguồn gốc của sự vận động
+ Quan điểm về tất nhiên và ngẫu nhiên: Dựa trên học thuyết nguyên tử, Đêmôcrit đã đi tới quan điểm quyết định luận đó là sự nhận thức sự ràng buộc theo luật nhân quả, tính tất nhiên và tính khác quan của các hiện tượng tự nhiên đay là quan điểm có giá trị của ông đóng góp cho nền triết học Hy Lạp cổ đại
Trang 9theo Arixtôt: “Đêmôcrit”sau khi đã gạt bỏ [cái nguyên nhân] có tính mục đích, bèn đem tất cả những mà tự nhiên sử dụng về tính tất yếu
+ Nhận thức luận:
Đêmôcrit cho rằng trên thực tế chỉ tồn tạ các sinh vật khác quan do nguyên tử tạo
ra, còn tất cả những ccái như mùi vị, màu sắc, âm thanh chỉ tồn tại trong cảm nhận của con người, là kết quả tác động của các nguyên tử lên các giác quan của chúng ta
2.2.5 Trường phái Pytago
Pitago sinh tại Xamốt, thuộc vùng Iôni, sau di cư sang Cơrôtôn, miền nam Ý Là nhà toán học, Pitago đưa ra nhiều định lý có giá trị Trong triết học Pitago là nhà duy tâm tôn giáo, xây dựng những tư tưởng huyền bí về ý nghĩa cuộc sống và bản nguyên vũ trụ, mang đậm dấu s61n huyền học phương Đông Bản tính con người, theo Pitago, có tính chất nhị nguyên - thể xác khả tử, linh hồn bất tử Ý nghĩa cao
cả của cuộc đời là xuất hồn, thanh tẩy những cái nhơ bẩn, những điều ác trong lòng, hòa mình vào linh hồn vũ trụ, tránh kiếp luân hồi Triết lý, vì vậy, là hành trình của sự giải thoát
Trong tư tưởng của Pitago những con số chiếm vị trí đặc biệt Triết lý về con số ở Pitago bắt đầu bằng mệnh đề “cái gì đo được thì tồn tại, cái gì tồn tại thì đo được”, vì thế những con số định hình nên thế giới, diễn đạt sự vật, thậm chí là bản chất và chuẩn mực của chúng Triết lý là nhận thức quy luật vận động của vũ trụ thông qua những con số Khi ta nói “linh hồn hòa điệu”, thì đó chính là quan hệ hòa điệu của các con số Pitago dùng tương quan chẵn - lẽ, bộ mười và bộ bốn để giải thích tính thống nhất và đa dạng của tự nhiên, xã hội, con người, trong đó số
1 là đơn vị cơ sở, sau số 1 (lẽ) là số đối lập - số 2 (chẵn); lẽ là cái hữu hạn, chẵn là cái vô hạn Số 1 là con số năng động nhất, Bản nguyên hoạt động, chi phối tất cả, nhưng con số kỳ diệu nhất là số 10, bao gồm 10 mối quan hệ của các mặt đối lập: hữu hạn vô hạn, chẵn lẽ, đơn đa, phải trái, nam nữ, động tĩnh, thẳng -cong, sáng - tối, tốt - xấu, tứ giác - đa diện Trong sự liệt kê đơn giản, ngây thơ, ngẫu hứng và không mấy sắc sảo này đã thể hiện những phạm trù đầu tiên của tư tưởng, sự nỗ lực lý giải thực tại của Pitago - ông đã nâng con số lên trình độ khái
Trang 10niệm, hiểu nó như tồn tại tự thân “trong nó, cho nó và cho cái khác” (Hêghen) Từ các con số hình thành nên những vật thể, những hành chất (nước, không khí, lửa)
và toàn thể vũ trụ Vũ trụ được cấu thành từ 10 thiên hà, tạo nên sự hòa điệu thiêng liêng Tuy nhiên không thể đưa lẽ công bằng, tự do về những con số, vì đó
là những khái niệm trừu tượng, khó được cụ thể hóa, hiện thực hóa hoàn toàn trong cuộc sống Lẽ công bằng không đo bằng các con số
Bản tính con người, theo Pitago, có tính chất nhị nguyên, trong đó thể xác khả tử, linh hồn bất tử Ý nghĩa cao cả của cuộc đời là xuất hồn, thanh tẩy những cái nhơ bẩn, những điều ác, hóa thân vào linh hồn vũ trụ, tránh kiếp luận hồi Cách tiếp cận như thế cho thấy triết lý nhân sinh của Pitago mang đậm dấu ấn của huyền học phương Đông
2.2.6 Trường phái Êlê
Pácmênit cho rằng: Tồn tại là bản chất chung của vạn vật Không có gì được sinh
ra từ hư vô (không tồn tại); không có gì mất đi mà không để lại dấu vết-tồn tại Trong thế giới vạn vật biến đổi nhưng bản thân tồn tại luôn bất biến, đồng nhất với chính nó Bản chất của tồn tại là bất biến, vĩnh hằng và đơn nhất
Tư tưởng biện chứng phủ định của Pácmênít và Dênôn đối lập với tư tưởng biện chứng khẳng định của Hêraclít Tư tưởng biện chứng của Pácmênít thể hiện ở ba quan niệm 1) vận động, biến đổi là hư ảo, không có không gian rỗng thuần tuý 2) tồn tại và tư duy đồng nhất với nhau vừa như là quá trình, vừa như là kết quả 3) trong thế giới không có sự sinh thành, xuất hiện và diệt vong Tư tưởng biện chứng của Dênôn thể hiện ở quan niệm về vạn vật đồng nhất thể và vạn vật bất biến Bằng phương pháp chứng lý và nghịch lý, ông giải thích mối quan hệ giữa vận động với đứng im; giữa liên tục với gián đoạn; giữa hữu hạn với vô hạn Các nghịch lý (aporia) của Dênôn đã khuyến khích các cuộc tranh luận để đi tới chân lý
2.2.7 Trường phái duy tâm khách quan
Pla-tôn xuất thân trong một gia đình chủ nô quý tộc ở A-ten Tên thật của ông là Aristôclơ Theo Arixtốt, lúc đầu Platôn là học trò của Cratin (người theo thuyết tương đối), sau đó là học trò của Xôcrát (nhà triết học duy lý, duy tâm chủ nghĩa)