1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm đánh giá về tư tưởng biện chứng của triết học hy lạp cổ đại và đóng góp của triết học hy lạp cổ đại đối với sự phát triển lịch sử triết học của nhân loại

20 113 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm đánh giá về tư tưởng biện chứng của triết học hy lạp cổ đại và đóng góp của triết học hy lạp cổ đại đối với sự phát triển lịch sử triết học của nhân loại
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 37,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2 1 1 Giới thiệu về triết học Hy Lạp cổ đại 2 1 1 1 Bối cảnh ra đời về triết học Hy Lạp cổ đại 2 1 1 2 Đặc điểm của triết học H. MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM21.1. Giới thiệu về triết học Hy Lạp cổ đại21.1.1. Bối cảnh ra đời về triết học Hy Lạp cổ đại21.1.2. Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại21.2. Tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại31.2.1. Phép biện chứng khách quan31.2.2. Phép biện chứng chủ quan4CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM VỀ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI72.1. Đánh giá về triết học Hy Lạp cổ đại72.1.1. Phép biện chứng khách quan72.1.2. Phép biện chứng chủ quan102.2. Đóng góp của triết học Hy Lạp cổ đại đối với sự phát triển lịch sử triết học của nhân loại.132.2.1. Đóng góp của triết học Hy Lạp cổ đại về thế giới quan.132.2.2. Đóng góp của triết học Hy Lạp cổ đại về nhận thức luận15KẾT LUẬN17  PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUHành trang cuộc sống của mỗi người luôn luôn cần tới những tri thức, trí tuệ sâu sắc. Thế giới quan và phép biện chứng là thứ không thể thiếu được trong hành trang trí tuệ ấy của mỗi người. Nó là cái cần phải được từng người tự học hỏi, chăm lo, đổi mới để có thể nhìn, hiểu và làm theo những luận điểm tổng quát góp phần như một chiếc la bàn định hướng cuộc sống, làm cho cuộc sống thêm hiệu quả, hạnh phúc và thành đạt. Bài viết này làm rõ khái niệm phép biện chứng duy vật, các thành phần của nó, ý nghĩa vai trò của nó, nguồn tư liệu để xây dựng thế giới quan và nhu cầu xây dựng một thế giới quan hiện đại.Năng lực tư duy hình thành và phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội lịch sử của con người; trình độ tư duy của con người, do đó phụ thuộc vào năng lực và trình độ thực tiễn của họ. Song, tư duy cũng thâm nhập vào thực tiễn và chỉ đạo thực tiễn của con người; những đổi mới và phát triển diễn ra trong tư duy, vì vậy có tác dụng mở đường, định hướng cho những đổi mới và phát triển của con người trong hoạt động thực tiễn. Do đó, qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Quan điểm đánh giá về tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại và đóng góp của triết học Hy Lạp cổ đại đối với sự phát triển lịch sử triết học của nhân loại” để có cái nhìn sâu và rộng hơn về vấn đề. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1. Giới thiệu về triết học Hy Lạp cổ đại1.1.1. Bối cảnh ra đời về triết học Hy Lạp cổ đạiTriết học ra đời khoảng thế kỷ VI TCN khi chế độ chiếm hữu nô lệ được xác lập trên cơ sở phát triển của kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Sự phát triển kinh tế thúc đẩy sự ra đời, phát triển của khoa học và triết học.Nhà nước Hy Lạp xuất hiện dưới hình thức các quốc gia thị thành (thành bang); xã hội phân chia thành hai giai cấp đối lập là chủ nô và nô lệ. Cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của các khuynh hướng triết học.1.1.2. Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đạiTriết học Hy Lạp cổ đại là ngon cờ lý luận của giai cấp chủ nô, ngay từ đầu đã mang tinh giai cấp sâu sắc. Về thực chất, là thế giới quan,ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống trị, là công cụ lý luận để duy trì và bảo vệ trật tự xã hội đương thời, phục vụ cho giai cấp chủ nô.Triết học Hy Lạp cổ đại gắn chặt với khoa học tự nhiên, lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu. Vì vậy, nó thuộc loại hình triết học tự nhiên, nhà triết học đồng thời là nhà khoa học tự nhiên; muốn hiểu biết sâu sắc nền triết học này cần phải có tri thức khoa học tự nhiên vững chắc.Thế giới quan bao trùm triết học Hy Lạp cổ đại là duy vật và vô thần. Triết học duy tâm và cuộc đấu tranh của họ chống lại triết học duy vật thường diễn ra, song chủ nghĩa duy vật và thế giới quan vô thần luôn chiếm ưu thế; nó là vũ khí lý luận cần cho giai cấp chủ nô chống lại những thế lực chống đối, những điều mê tín, dị đoan và những điều vô lý trong thần thoại.Phép biện chứng tự phát, ngây thơ ra đời và phát triển trong triết học Hy lạp cổ đại cùng với chủ nghĩa duy vật mộc mạc, chất phác và thành tựu của khoa học tự nhiên là đặc điểm nổi bật của lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại. Ngay từ đầu, sự ra đời của triết học Hy Lạp đã gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, xuất phát từ nhu cầu phát triển của nhận thức khoa học và kỹ thuật, gắn liền với quá trình ra đời và phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp, chứa đựng mầm mống của hầu hết các thế giới quan sau nàyThành tựu nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện ở việc nó là “ mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”, đáng kế nhất là sự ra đời của chủ nghĩa duy vật mộc mạc, chất phác và phép biện chứng tự phát, ngây thơ những hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử triết học nhân loại. Vì vậy, nó gắn chặt với tên tuổi và sự nghiệp của các nhà triết học: Talét (khoảng 624 547 TCN), Đêmôcơrít (khoảng 460370 TCN), Plantôn (427347 TCN): Arixtốt (384 322 TCN), Êpiquya (341 270 TCN),…

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 2

CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2

1.1 Giới thiệu về triết học Hy Lạp cổ đại 2

1.1.1 Bối cảnh ra đời về triết học Hy Lạp cổ đại 2

1.1.2 Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại 2

1.2 Tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại 3

1.2.1 Phép biện chứng khách quan 3

1.2.2 Phép biện chứng chủ quan 4

CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM VỀ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 7

2.1 Đánh giá về triết học Hy Lạp cổ đại 7

2.1.1 Phép biện chứng khách quan 7

2.1.2 Phép biện chứng chủ quan 10

2.2 Đóng góp của triết học Hy Lạp cổ đại đối với sự phát triển lịch sử triết học của nhân loại 13

2.2.1 Đóng góp của triết học Hy Lạp cổ đại về thế giới quan 13

2.2.2 Đóng góp của triết học Hy Lạp cổ đại về nhận thức luận 15

KẾT LUẬN 17

Trang 2

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Hành trang cuộc sống của mỗi người luôn luôn cần tới những tri thức, trí tuệ sâu sắc Thế giới quan và phép biện chứng là thứ không thể thiếu được trong hành trang trí tuệ ấy của mỗi người Nó là cái cần phải được từng người

tự học hỏi, chăm lo, đổi mới để có thể nhìn, hiểu và làm theo những luận điểm tổng quát góp phần như một chiếc la bàn định hướng cuộc sống, làm cho cuộc sống thêm hiệu quả, hạnh phúc và thành đạt Bài viết này làm rõ khái niệm phép biện chứng duy vật, các thành phần của nó, ý nghĩa/ vai trò của nó, nguồn tư liệu để xây dựng thế giới quan và nhu cầu xây dựng một thế giới quan hiện đại

Năng lực tư duy hình thành và phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội -lịch sử của con người; trình độ tư duy của con người, do đó phụ thuộc vào năng lực và trình độ thực tiễn của họ Song, tư duy cũng thâm nhập vào thực tiễn và chỉ đạo thực tiễn của con người; những đổi mới và phát triển diễn ra trong tư duy, vì vậy có tác dụng mở đường, định hướng cho những đổi mới và phát triển của con người trong hoạt động thực tiễn Do đó, qua quá trình học

tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Quan điểm đánh giá về tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại và đóng góp của triết học Hy Lạp

cổ đại đối với sự phát triển lịch sử triết học của nhân loại” để có cái nhìn

sâu và rộng hơn về vấn đề

Trang 3

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1 Giới thiệu về triết học Hy Lạp cổ đại

1.1.1 Bối cảnh ra đời về triết học Hy Lạp cổ đại

Triết học ra đời khoảng thế kỷ VI TCN khi chế độ chiếm hữu nô lệ được xác lập trên cơ sở phát triển của kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Sự phát triển kinh tế thúc đẩy sự ra đời, phát triển của khoa học và triết học

Nhà nước Hy Lạp xuất hiện dưới hình thức các quốc gia thị thành (thành bang); xã hội phân chia thành hai giai cấp đối lập là chủ nô và nô lệ Cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của các khuynh hướng triết học

1.1.2 Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại

Triết học Hy Lạp cổ đại là ngon cờ lý luận của giai cấp chủ nô, ngay từ đầu đã mang tinh giai cấp sâu sắc Về thực chất, là thế giới quan,ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống trị, là công cụ lý luận để duy trì và bảo vệ trật tự xã hội đương thời, phục vụ cho giai cấp chủ nô

Triết học Hy Lạp cổ đại gắn chặt với khoa học tự nhiên, lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu Vì vậy, nó thuộc loại hình triết học tự nhiên, nhà triết học đồng thời là nhà khoa học tự nhiên; muốn hiểu biết sâu sắc nền triết học này cần phải có tri thức khoa học tự nhiên vững chắc

Thế giới quan bao trùm triết học Hy Lạp cổ đại là duy vật và vô thần Triết học duy tâm và cuộc đấu tranh của họ chống lại triết học duy vật thường diễn ra, song chủ nghĩa duy vật và thế giới quan vô thần luôn chiếm ưu thế;

nó là vũ khí lý luận cần cho giai cấp chủ nô chống lại những thế lực chống

Trang 4

Phép biện chứng tự phát, ngây thơ ra đời và phát triển trong triết học

Hy lạp cổ đại cùng với chủ nghĩa duy vật mộc mạc, chất phác và thành tựu của khoa học tự nhiên là đặc điểm nổi bật của lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại Ngay từ đầu, sự ra đời của triết học Hy Lạp đã gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, xuất phát từ nhu cầu phát triển của nhận thức khoa học và kỹ thuật, gắn liền với quá trình ra đời và phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp, chứa đựng mầm mống của hầu hết các thế giới quan sau này

Thành tựu nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện ở việc nó là “ mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”, đáng kế nhất là sự ra đời của chủ nghĩa duy vật mộc mạc, chất phác và phép biện chứng tự phát, ngây thơ- những hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật

và phép biện chứng trong lịch sử triết học nhân loại Vì vậy, nó gắn chặt với tên tuổi và sự nghiệp của các nhà triết học: Talét (khoảng 624- 547 TCN), Đêmôcơrít (khoảng 460-370 TCN), Plantôn (427-347 TCN): Arixtốt

(384-322 TCN), Êpiquya (341- 270 TCN),…

1.2 Tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại

1.2.1 Phép biện chứng khách quan

Khi phản ánh tính chất biện chứng của tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng khách quan tự phát đó của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại thường tồn tại dưới hai loại hình cơ bản:

1) Phép biện chứng khẳng định - khẳng định và phân tích các quy luật biện chứng khác nhau trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội hay tư duy;

2) Phép biện chứng phủ định (mang tính chất tiêu cực) - phủ định tính chân lý của những cái mà trong đó, tính mâu thuẫn nội tại bộc lộ ra

Vốn là thuộc tính bẩm sinh của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng khách quan tự phát xuất hiện ngay từ khi nền triết học này xuất hiện ở các nhà triết học tự nhiên thuộc trường phái Milê Với tư cách phép

Trang 5

biện chứng khẳng định, nó được thể hiện rõ nhất ở Hêraclít; còn với tư cách phép biện chứng phủ định, nó được thể hiện ở trường phái Êlê

Mặc dù có thể phân biệt phép biện chứng Hy Lạp cổ đại theo hai nghĩa

đó, nhưng thực ra, hai nghĩa này không tuyệt đối biệt lập, tách rời nhau Ngay

từ khi bắt đầu xuất hiện, chúng đã có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau Hơn nữa, nghệ thuật tranh luận nhằm phát hiện và chứng minh chân

lý ngày càng thể hiện ra là khả năng nhận thức đối tượng trong những tính quy định đối lập nhau và vốn có ở nó, khả năng quy những tính quy định đó

về một cái thống nhất, khả năng phát hiện ra sự thống nhất của các mặt đối lập, tức là ngày càng trở thành phương pháp nhận thức biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy Và, đương nhiên, kể từ thời Xôcrát, nhiều nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã phát triển phép biện chứng theo cả nghĩa này lẫn nghĩa kia

Trước khi tìm hiểu một cách khái quát các loại hình, các dạng cơ bản của tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại, chúng tôi muốn lưu ý một nguyên tắc mà chúng tôi đã tuân theo trong bài viết này - nguyên tắc về

sự lựa chọn tài liệu Tài liệu cho bài viết này được xác định bởi sự thay đổi tiêu chí phân biệt phép biện chứng và phép siêu hình Chẳng hạn, Đêmôcrít chủ trương truyền bá tư tưởng về sự xuất hiện, phát triển và diệt vong của vô

số thế giới trong Vũ trụ bao la với tư cách một tổ hợp các quá trình liên kết Ông cho rằng, sự biến đổi các quá trình liên kết đã được hình thành và sự phân hủy của chúng diễn ra cùng với những nguyên tử bất biến và chỉ khác nhau về phương diện hình học - hình thức, trật tự, tư thế Trước khi xuất hiện quan niệm này của Đêmôcrít, trong triết học Hy Lạp cổ đại đã có một quan niệm biện chứng về thế giới, đối lập với quan niệm về tồn tại không thể phân chia được, bất biến và bất động của trường phái Êlê

Trang 6

1.2.2 Phép biện chứng chủ quan

Phù hợp vói cơ sở vũ trụ luận của phép biện chứng khách quan này là biện chứng của quá trình nhận thức, cái mà có thể gọi một cách ước lệ là phép biện chứng chủ quan Tuy nhiên, khi nói tới phép biện chứng chủ quan này, chúng ta cần phải phân biệt nó với biện chứng của các khái niệm đã được thực thể hóa Biện chứng chủ quan hay biện chứng của quá trình nhận thức chủ yếu nằm trong những suy luận của Hêraclít về sự tương tác giữa cảm giác

và tư duy, trong các phỏng đoán được coi là sáng suốt của Đêmôcrít về tính chế định lẫn nhau giữa nhận thức “mờ tối” (nhận thức theo dư luận) và nhận thức “trong sáng” (nhận thức chân lý), cũng như trong những lời tiên tri của Anaxago về khả năng nhận thức thông qua các mặt đối lập Đây cũng được coi là một đóng góp lớn của các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại

Trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, dường như đồng thời với phép biện chứng khách quan (tích cực), loại hình thứ hai của tư tưởng biện chứng

cổ đại - phép biện chứng phủ định (tiêu cực) cũng đã xuất hiện Bản thân các nhà triết học Hy Lạp đã gọi phép biện chứng này theo nghĩa thứ hai của phép biện chứng cổ đại - nghệ thuật đàm thoại, tranh luận triết học Họ sử dụng các cuộc đàm thoại, tranh luận triết học như một nghệ thuật để thông qua sự xung đột giữa các ý kiến trái ngược nhau mà phát hiện ra chân lý, và gọi đó là nghệ thuật phát hiện và chứng minh chân lý Cùng với quá trình phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng theo nghĩa này cũng đã trở thành phương pháp nghiên cứu các vấn đề khoa học, trong đó có cả các vấn đề triết học

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, Dênông - nhà triết học thuộc trường phái Êlê được coi là người đầu tiên sử dụng phép biện chứng theo nghĩa này Cũng theo cách hiểu đó, Điôgien Laécxơ và Arixtốt đã gọi Dênông là người khởi xướng phép biện chứng Tuy nhiên, dưới một hình thức hoàn toàn rõ nét, thì phép biện chứng theo nghĩa này chỉ được thể hiện ra ở Xôcrát

Trang 7

Trên thực tế, loại hình này của phép biện chứng đã được phát triển bởi các nhà triết học mà xét về các định hướng phương pháp luận, lại là các nhà siêu hình Tuy nhiên, trong quá trình luận chứng để phát triển nghệ thuật đàm thoại, tranh luận triết học và nhờ đó, chỉ ra những mâu thuẫn trong các học thuyết của các nhà triết học siêu hình, các nhà triết học duy vật - các nhà biện chứng khách quan, cũng đã cố gắng vạch ra những hạn chế trong bức tranh duy vật về thế giới và trong nhận thức của các nhà biện chứng khách quan về những thuộc tính của thực tại khách quan Do vậy, những nghịch lý nổi tiếng

mà Dênông đưa ra đã làm cho Hêgen phải thán phục tới mức khẳng định rằng, Dênông chính “là người khởi xướng phép biện chứng” Ông viết: “Ở Dênông, chúng ta cũng tìm thấy một phép biện chứng thật sự khách quan”; rằng “những antinômi của Cantơ “không phải là cái gì khác hơn cái mà Dênông đã làm ở đây”(11) Thậm chí, Hêgen còn coi những luận điểm, quan niệm của Dênông về vận động là sâu sắc và “tinh vi hơn rất nhiều” so với antinômi của Cantơ

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng phủ định còn được coi

là tổng thể những lập luận có tính ý hướng nhằm chống lại bản thân sự thực

về tính đa nghĩa, đa dạng, về sự vận động, biến đổi và về sự phát triển, chuyển hóa của sự vật từ trạng thái này sang trạng thái khác Song, các lập luận đó, theo V.I.Lênin, về thực chất, chỉ đặt ra vấn đề “thể hiện” các quá trình khác nhau “trong lôgíc của những khái niệm” như thế nào(12) Do vậy,

có thể nói, chính các lập luận đó đã làm bộc lộ các mâu thuẫn của quá trình nhận thức và ở một chừng mực nhất định, của cả đối tượng nhận thức, tức là những mâu thuẫn của bản thân các quá trình và những trạng thái được nhận thức Phép biện chứng thường được coi là tiêu cực này trong triết học Hy Lạp

cổ đại đã được Hêgen vạch ra, song nó chỉ được đánh giá một cách sâu sắc trong lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin

Trang 8

CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM VỀ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA TRIẾT

HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 2.1 Đánh giá về triết học Hy Lạp cổ đại

2.1.1 Phép biện chứng khách quan

Có thể nói, mọi loại hình, mọi dạng cơ bản của tư tưởng biện chứng đều đã được phác họa rõ nét trong lịch sử phát triển của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại Nó được bắt đầu từ những tư tưởng biện chứng tự phát, mang

“tính nhân hình” trong các câu chuyện thần thoại và sau đó là trong những tư tưởng biện chứng rõ nét hơn, sâu sắc hơn trong các tác phẩm của các nhà triết học ở thời kỳ Hy Lạp hóa Điều này chứng tỏ rằng, tư tưởng biện chứng cổ đại đã phân định được tất cả các loại hình của phép biện chứng mà sau đó, được phục hồi ở thời Phục hưng và đặc biệt, đã được phát triển một cách rõ nét ở thế kỷ XIX dựa trên một số thành tựu của phép biện chứng ở thế kỷ XVII- XVIII Đó là những hình thức sau đây:

Thứ nhất, đó là phép biện chứng khách quan tự phát, phép biện chứng được hình thành trong quan niệm về Vũ trụ ở các nhà duy vật thuộc xứ Iôni

và đạt đến sự phát triển đáng kể ở Anaxago, Đêmôcrít và đặc biệt là ở Hêraclít, ở những người mà, như V.I Lênin nhận xét, “biểu tượng và tư tưởng, sự phát triển của cả hai, nil aliud (không có gì khác)” và “đối tượng thể hiện như là biện chứng”(5) Sau đó, nó được hình thành với sự bổ sung thêm các đặc trưng mới trong học thuyết của Arixtốt về sự chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật khi chuyển từ dạng tiềm năng thành hiện thực và ngược lại, trong quan niệm về Vũ trụ của trường phái Xtôíc, trong thế giới quan nguyên tử luận của Êpiquya Đây được coi là loại hình biện chứng cơ bản, vì “theo nghĩa đen, phép biện chứng là sự nghiên cứu mâu thuẫn trong ngay bản chất của các đối tượng”(6)

Trang 9

Thực ra, sau Arixtốt và Êpiquya, do một cuộc “tổng khủng hoảng” về

tư tưởng bắt đầu diễn ra trong nền văn hóa cổ đại nói chung, trong triết học

Hy Lạp cổ đại nói riêng, cái được gọi là học thuyết về phép biện chứng khách quan đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu và khi đó, đã xuất hiện quá trình “phân đôi” độc đáo của chúng Điều đó được thể hiện ở chỗ, bên cạnh việc loại trừ một cách riêng biệt các phỏng đoán và những luận điểm biện chứng khách quan đích thực, trong chủ nghĩa Platôn mới đã hình thành phép biện chứng khách quan giả tạo Phép biện chứng này được thể hiện qua các nghịch lý và những mâu thuẫn nhận thức của Pirôn và Enêxiđem, thông qua những “sơ đồ luận” về Vũ trụ mang tính thần bí hóa của Plôtin và Prôclơ Khuynh hướng

“thoái bộ” này của phép biện chứng khách quan đã đưa tư tưởng biện chứng

cổ đại tới tình trạng tự gạt bỏ, mặc dù sau này, chủ nghĩa Platôn mới đã khôi phục lại nó ở thời đại Phục hưng

Các luận điểm riêng biệt của phép biện chứng đã được đặt lên hàng đầu một cách đủ xác định trong phép biện chứng khách quan tự phát của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và mối liên hệ nội tại giữa chúng cũng đã được chính các nhà triết học này vạch ra Sự hiện diện của mối liên hệ này sở dĩ có được trong phép biện chứng cổ đại là nhờ trực giác (“sự quan sát trực tiếp”) - cái được coi là “thiếu sót của triết học Hy Lạp”, do “chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên”, do “hãy còn quan niệm giới tự nhiên là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thể ấy”, cái mà do vậy, “sau này, nó buộc phải nhường chỗ cho các cách nhìn khác” Nhưng đó cũng chính là “ưu điểm của nó so với tất cả các địch thủ siêu hình sau này của nó”, là cái mà “về toàn thể”, đã làm cho triết học Hy Lạp cổ đại “đúng hơn so với chủ nghĩa siêu hình”(7) Chính vì vậy mà Ph.Ăngghen nhận xét rằng, tư tưởng của các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại đã thừa nhận “tính thống nhất trong sự muôn vẻ vô tận của những hiện tượng thiên nhiên là một điều dĩ nhiên và tìm sự thống nhất ấy

Trang 10

ở một vật hữu hình nào đó, ở một vật đặc biệt nào đó, như Talét, ở nước vậy”(8)

Sau khi phát triển phép biện chứng khách quan, các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã mô tả hiện thực trong sự biến đổi liên tục của nó Và, một số nhà triết học trong số đó đã đề cập tới mối quan hệ biện chứng khá phức tạp và sâu sắc giữa quá trình phát triển theo hướng tiến lên và quá trình phát triển mang tính luân hồi trong Vũ trụ “Những nhà triết học vận động”, -những môn đệ của Hêraclít, đã cố gắng phát triển luận điểm về sự thay thế phổ biến giữa các trạng thái của sự vật và về sự chuyển hóa lẫn nhau giữa tồn tại và không tồn tại Hơn nữa, Hêraclít - người sáng lập ra khuynh hướng tư duy này, cũng như Đêmôcrít đã đề cập đến mối quan hệ biện chứng, đến sự thống nhất giữa tính biến đổi phổ biến và tính ổn định tương đối của các sự vật và trạng thái của chúng Những kết luận mà các nhà triết học Hy lạp cổ đại rút ra được khi xem xét vấn đề này, như Ph.Ăngghen nhận xét, là “những kết quả khổng lồ của người Hy Lạp”(9)

Với việc phát hiện ra các mối liên hệ và quan hệ phổ biến trong Vũ trụ, phép biện chứng khách quan của người Hy Lạp cổ đại đã sớm đạt tới đỉnh cao của nó trong học thuyết của Hêraclít về sự đấu tranh phổ biến và sự thống nhất của các mặt đối lập, còn dưới một hình thức chất phác hơn- ở Empêđôclơ Được các nhà triết học đó sử dụng, các khái niệm “đấu tranh” và

“hài hòa”, “thù địch” và “tình bạn”, “chiến tranh” và “hòa bình” vẫn chưa tách khỏi cơ sở “nhân hình” và ngữ nghĩa thường nhật của chúng và do vậy, còn bao hàm nhiều cái chưa rõ ràng, thậm chí còn có phần bị lu mờ và không chính xác Song, trong các khái niệm đó và trong mối liên hệ qua lại giữa chúng đã có hạt nhân của phép biện chứng theo nghĩa duy vật của nó Cần phải nhấn mạnh rằng, Hêraclít đã cụ thể hóa sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập không những với tư cách cuộc đấu tranh giữa chúng, mà còn với tư cách sự phân đôi của cái thống nhất và sự chuyển hóa (“trao đổi”) thành cái

Ngày đăng: 12/02/2023, 14:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) V.I. Lênin. Toàn tập, t. 29. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr. 263 - 331 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1981
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t. 20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, t. 20
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
(3). C.Mác (1845), “Luận cương về Phoiơbắc”, C.Mác và Ph.Ăngghen.toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cương về Phoiơbắc
Tác giả: C. Mác
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1845
(4). C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1993
(5). Phạm Xuân Nam (Chủ biên), (2001), “Triết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu
Tác giả: Phạm Xuân Nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2001
(6). Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII”, Nxb GP - CXBIPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb GP - CXBIPH
Năm: 2016
(8). Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
(9). Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
(10). Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
(11). Dương Phú Hiệp (Chủ biên) (2016), “Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
(12). Dương Phú Hiệp (2018), “Triết học và đổi mới”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học và đổi mới
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2018
(7). Hồ Bá Thâm (2014). Bàn về năng lực tư duy. Tạp chí Triết học, số 2, tr 8- 12 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w