1 CHƢƠNG 8 XỬ LÝ ẢNH 3D Đề tài đăng ký dịch Chương 8 3 – D IMAGING (quyển “Digital Image Processing”) Nhóm gồm Mai Duy Khánh MSHV CB100645 Dịch phần 8 1 và 8 2 Cao Văn Thế MSHV CB110796 Dịch phần 8 3, 8 4, 8 5 Nguyễn Ngọc Quyến MSHV CB110896 Dịch phần 8 6, 8 7, 8 8 và tổng hợp 2 Digital Image Processing (Bernd Jähne) Chương 8 3 – D IMAGING 8 1 Nền tảng Trong chƣơng này chúng ta sẽ thảo luận về các công nghệ sử lí ảnh cho phép khôi phục lại sâu của ảnh Công nghệ này đƣợc chia thành 2 loại Cả công.
Trang 2Digital Image Processing
(Bernd Jähne)
Chương 8: 3 – D IMAGING
8.1 Nền tảng
Trong chương này chúng ta sẽ thảo luận về các công nghệ sử lí ảnh cho phép khôi
phục lại sâu của ảnh.Công nghệ này được chia thành 2 loại.Cả công nghệ này đều có thể
khôi phục lại độ sâu của bề mặt trong không gian 3-D và cho phép khôi phục đầy đủ thể
tích của vật thể.Thông thường ảnh 3-D đều có chiều sâu và dạng hình khối.Điều này dẫn
đến có nhiểu phức tạp,Sự phức tạp rất đa dạng cả về độ sâu và dạng khối.Do vậy trong
khuôn khổ chương này sẽ không đề cập chi tiết các công nghệ sử lí hiện có.Mà chúng ta
chỉ tập chung vào nguyên lí cơ bản.Có một và nguyên lí cơ bản mà nhiều công nghệ tạo
ảnh 3-D dựa vào.Nắm được những nền tảng chung này ,chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được
các công nghệ sử lí chính xác
Chúng ta bắt đầu với thảo luận về sự hạn chế căn bản của việc tạo ảnh phản xạ
trong 3-D ở phần 8.1.1 và đưa ra những tổng kết ngắn gọn những nguyên lí cơ bản về tạo
độ sâu ảnh (phần 8.1.2) và tạo dạng khối ảnh (phần 8.1.3)
) Then one section is devoted to each of the basic
principles of 3-D imaging: depth from triangulation (Section 8.2), depth
from time-of-flight (Section 8.3), depth from phase (interferometry) (Section 8.4), shape
from shading and photogrammetric stereo (Section 8.5),
and tomography (Section 8.6)
Trang 3As we have discussed in detail in Sections 7.6.1 and 7.6.2, a projective
Trong phần 7.6.1 và 7.6.2 chúng ta đã nói đề cập tới một hệ thống quang xạ ảnh
optical system is a linear shift-invariant system that can be described by
là một hệ thống dịch tuyến tính bất biến có thể mô tả bởi một hàm trải (PSF) và một hàm
biến đổi quang (OTF)
3-D OTF cho quang hình chỉ ra hạn chế của hệ thống tạo xạ ảnh một cách tốt nhất (xem
phần 7.6.2)
Trong đó q và k3 biểu diễn bán kính và thành phần hướng trục của vector số sóng
The symbols q and k3 denote the radial and axial components of the
wave number vector, respectively Two severe limitations of 3-D imaging
Hai điểm hạn chế phức tạp của tạo ảnh 3-D bám theo hình dạng của 3-D OTF
immediately follow from the shape of the 3-D OTF
Hao tổn độ tương phản với số lượng sóng lơn Theo Eq (8.1), OTF là tỷ lệ nghịch
đảo với số tia sóng q Do đó độ tương phản của một cấu trúc sẽ suy giảm theo tỷ lệ với số
lượng sóng của nó Tính chất này của OTF đúng cho mọi xử lý ảnh quang học – bao gồm
cả thị giác của con người – câu hỏi đặt ra là tại sao ta có thể nhìn được tất cả những cấu
trúc thật đẹp?
Câu trả lời nằm ở phần cuối cấu trúc hình học của vật thể được quan sát Hầu hết
vật thể trong môi trường tự nhiên là che chắn Vì thế chúng ta chỉ có thể quan sát bề mặt,
Trang 4ví dụ ta không quan sát được vật thể 3D thật mà chỉ thấy cấu trúc 2D Nếu chúng ta tưởng
tượng một bề mặt 2D trên một mặt phẳng 2D, PSF 3D cũng giảm còn 2D Một cách toán
học thì nghĩa là phép nhân PSF với mặt phẳng δ song song với bề mặt vật thể được quan
sát Do đó đĩa không rõ nét giống như khoảng cách tới bề mặt từ ống kính giờ trở thành
2d PSF Sự hạn chế của những về mặt 2D vì thế cần duy trì cường độ của toàn bộ cấu
trúc với những bước sóng lớn hơn đĩa Chúng ta cso thể nhìn được với cùng độ tương
phản
Chúng ta đi tới cùng một kết luận trong không gian Fourier Nhân 3D PSF với mặt
phẳng δ trên không gian x tương đương với quấn lại 3D OTF với đường δ dọc trục quang
học, như là tích hợp trong cùng một hướng tương ứng Nếu ta tích hợp 3D OTF dọc theo
tọa độ k, có sự độc lập bất biến của tia số tia sáng q:
Để giải tích phân này, ta thế z” = z’/(q tan α) được một tích phân trên một nửa cung
tròn đơn vị
Kết luận, có sư khác biệt quan trọng giữa tạo ảnh bề mặt (vì tạo ảnh độ sâu) và tạo
ảnh hình khối OTF của cấu trúc bề mặt độc lập với số lượng sóng Tuy nhiên, với cầu
trúc hình khối, chúng ta gặp vấn đề giảm OTF với số lượng tia sóng Khi quan sát cấu
trúc bằng mắt hoặc camera, chúng ta sẽ không thể quan sát chi tiết Những hệ thống tạo
ảnh chiếu không được thiết kế cho ra vật thể 3D chính xác Vì thế, xử lý ảnh hình khối
đòi hỏi những kỹ thuật khác
8.1.2 Nguyên lý cơ bản của xử lý ảnh chiều sâu
Xử lý ảnh chiều sâu của một bề mặt chắn sáng đòi hỏi thêm dữ liệu thông tin
ngoài độ sáng tại mỗi điểm ảnh mà đưa ra chiều sâu của ảnh hoặc phạm vị ảnh Chúng ta
Trang 5có thể chia làm 4 nguyên lý căn bản của xử lý ảnh chiều sâu – còn gọi là thuật toán chiều
sâu Thêm vào đó, chiều sâu có thể được tính toán theo độ dốc của các bề mặt bằng thuật
toán dựng hình từ bóng đổ
Độ sâu từ phép đo tam giác Nếu chúng ta quan sát một vật thể từ 2 điểm nhìn
khác nhau được phân cách bởi đường cơ sở b, vật thể sẽ được nhìn dưới nhuwgnx góc
nhìn khác nhau từ 2 vị trí Kỹ thuật này được gọi là phép đo tam giác – kỹ thuật cơ bản
trong đo đạc và vẽ bản đồ
Kỹ thuật triangulation là trọng tâm của tính bất đồng bề rộng trong các kỹ thuật
Thoáng qua thì những kỹ thuật này có vẻ khác nhau, nhưng khó tin được là chúng lại
được dựa cùng trên một nguyên lý
Depth from time-of-flight Đây là một nguyên lý không phức tạp của việc đo đạc
khoảng cách Một tín hiệu được gửi đi, truyền với tốc độ xác định tới vật thể, nó được
phản xạ và truyền ngược về camera Thời gian truyền tỷ lệ trực tiếp tới khoảng cách của
nơi gửi tín hiệu và vật thể, vật thể và nơi nhận
Depth from phase: đo giao thoa Phép đo giao thoa có thể được coi là dạng đặc
biệt của phép đo khoảng cách time-of- flight Kỹ thuật này đo khoảng cách của phần nhỏ
bước sóng phát xạ bằng cách không chỉ đo biên độ (năng lượng) của sự bức xạ mà còn
đo pha của nó Đo pha được thêm vào trong phần phát xạ tương quan (Phần 6.3.3) dẫn
đến cường độ mạnh khi 2 sóng chồng lên nhau cùng pha (vân lồi) và cường độ yếu khi
chúng lệch pha 180° (π, vân lõm) Nguồn sáng cuos bước sóng trong khoảng 400 –
700nm (Phần 6.3.1 và Hình 6.6) Do đó phép đo khoảng cách giao thoa giải quyết được
trong khoảng nanometer (10-9m) – một phần nhỏ của bước sóng
Chiều sâu gắn kết Một thuộc tính cố hữu của phát xạ là độ dài gắn kết của nó
(Phần 6.3), vẫn có thể có sự khác biệt đường cực đại tại những vị trí trên cùng Độ dài
liên kết có thể được đo đạc dễ dàng bằng khả năng tạo ra những phần giao thoa Chúng
có thể ngắn vài bước sóng Độ sâu trong kỹ thuật cô kết lấp đầy chõ trống trên miền
khoảng cách, do đó có thể đo đạc giữa những kỹ thuật đo giao thoa và time-of-flight
Trang 6Hình dáng từ đổ bóng Hình dạng của những bề mặt cũng có thể được xác định
từ hướng của các yếu tố bề mặt Điều này được biểu diễn toán hoặc bằng pháp tuyến bề
mặt Tất nhiên sau đó độ sâu tuyệt đối của bề mặt sẽ bị mất mát, nhưng sơ lược độ sâu có
thể được tính toàn bằng tích hợp độ nghiêng bề mặt Pháp tuyến bề mặt có thể được suy
ra từ bóng đổ vì độ sáng bề mặt phụ thuộc góc của tới của nguồn chiếu sáng
8.1.3 Nguyên lý cơ bản của tạo ảnh hình khối
Mọi độ sâu trong kỹ thuật có thể đo nhiều độ sâu đồng thời cũng hữu dụng cho tạo
ảnh hình khối Vì vậy khả năng đo nhiều độ sâu là thuộc tính quan trọng kahcs của kỹ
thuật tạo ảnh sâu Thêm vào đó, 2 nguyên lý cơ bản của tạo ảnh hình khối:
Phân chia chiếu sáng Trong ảnh chiếu, chúng ta không biết từ sự chiếu sáng tập
hợp ở mặt phẳng ảnh gốc Nó có thể từ mọi vị trí của tia chiếu (xem Phần 7.3.1 và Hình
7.3) Tuy nhiên sự chiếu sáng có thể được sắp đặt bằng cách chỉ một khoảng sâu nào đó
nhận sáng Sau đó chúng ta biết độ sâu nào rọi trên mặt phẳng ảnh gốc Khi đó ta quét độ
sâu chiếu sáng sẽ thu được một ảnh hình khối
Độ sâu từ nhiều nguồn chiếu: phương pháp rọi kính Một chiếu sáng đơn chỉ
chứa thông tin cục bộ từ đối tượng hình khối Câu hỏi đặt ra là có thể lấy nhiều nguồn
chiếu từ những vị trí khác nhau và kết hợp ở một phần khá của thông tin cục bộ trong một
ảnh 3-D hoàn thiện Kỹ thuật này được gọi là phương pháp rọi kính
8.1.4 Đặc tính của kỹ thuật ảnh 3-D
Ảnh chiều sâu được đặc trưng bằng 2 lượng cơ bản, phân giải chiều sâu σz và
khoảng rộng chiều sâu ∆z Mật độ chiều sâu biểu thị sai số thống kê của phép đo và vì
vậy giảm thiểu sự sai khác chiều sâu Chú ý rằng sai số hệ thống của phép đo chiều sâu
có thể lớn hơn rất nhiều (xem Phần 3.1) Phân giải chiều sâu bao nhiêu phụ thuộc khoảng
cách z là thuộc tính quan trọng của kỹ thuậ tạo ảnh sâu Nó tạo ra sự khác biệt lớn, ví dụ
nếu phân giải đồng nhất, không phụ thuộc của chiều sâu, hoặc giảm khoảng cách z
Trang 7Miền sâu ∆z là sự khác biệt độ sâu tối thiểu và tối đa có thể được đo bằng kỹ
thuật tạo ảnh sâu Do đó, tỷ số của miền chiều sâu và phân giải chiều sâu ∆z/σz có ý
nghĩa quan trọng trong phép tạo ảnh chiều sâu
Hình 8.1: Một thiết lập camera nổi
8.2 Chiều sâu từ Triangulation
Nhìn vào cùng một vật thể từ những điểm khác nhau được chia bằng vector cơ sở
b bởi những góc nhìn khác nhau Bằng cách này hay cách khác, sự khác biệt trong góc
nhìn dẫn đến sự thay đổi mặt phẳng hình ảnh, được gọi là sự không tương xứng, từ bất cứ
độ sâu của vật thể có thể được phỏng đoán
Phép đo độ sâu Triangulation-based measurements bao gồm một trạng thái rộng
của những kỹ thuật – cái nhìn thoáng lần đầu – không có nhiều điểm chung, nhưng vẫn
được dựa trên cùng nguyên lý Trong phần này sẽ thảo luận về nhìn nổi (Phần 8.2.1),
triangulation hoạt động, nơi một hoặc 2 cameras được thay thế bằng một nguồn sang
Trang 8(Phần 8.2.2), độ sâu tiêu điểm (Phần 8.2.3), và soi hiển vi cộng tiêu (Phần 8.2.4) Trong
phần về nhìn nổi, chúng ta cũng thảo luận về nguyên lý hình học cơ bản của trigulation
8.2.1 Nhìn nổi
Sự quan sát một cảnh từ 2 điểm khác nhau cho phép khoảng cách của những vật
thể được xác định rõ Một thiết lập với 2 cảm biến ảnh được gọi là hệ thống nổi Nhiều hệ
thống thị giác sinh học thể hiện được cảm giác chiều sâu Trong hình 8.1 minh họa độ sâu
có thể được xác định bao nhiêu từ một thiết lập camera Hai camera được đặt gần nhau
với một trục quang học song song Khoảng cách vector b giữa hai trục được gọi là cơ sở
nhìn nổi Một vật thể sẽ được chiếu ra từ những ví trí khác nhau của mặt phẳng ảnh bởi vì
nó được nhìn sơ qua từ những góc khác nhau Sự khác biệt vị trí thể hiện sự bất tương
xứng hoặc thị sai, p Điều này dễ dàng được tính trong Hình 8.1
Thị sai là tỷ lệ nghịch đảo với khoảng cách X3 của vật thể (bằng 0 khi vật thể ở vô
cực) và tỷ lệ trực tiếp với cơ sở lập thể và độ dài tiêu cự của camera (d≈ f cho những vật
thể xa) Như vậy sự ước lượng khoảng cách trở lên khó khăn với việc phải gia tăng
khoảng cách Điều này có thể thấy rõ ràng hơn bằng sử dụng luật truyền sai (Phần 3.3.3)
để tính toán sai số X3:
Trong đó, độ nhạy tuyệt đối cho ước lượng độ sâu ra tăng, với khoảng cách được
bình phương Như ví dụ chúng ta chúng ta đặt một hệ thống nổi với một cơ sở nổi
200mm và thấu kihs với độ dài tiêu cự 100mm Sau đó tại khoảng cách 10m thay đổi thị
Trang 9sai khoảng 200 µm/m (khoảng 20 pixel/m), trong khi nó chỉ 2 µm/m (0.2 pixel/m) tại
khoảng cách 100m
Thị sai là số lượng vector và đường song song với vật gốc nổi b Điều này có lợi là
nếu 2 camera được hướng chính xác, chúng ta biết trước được hướng của thị sai Nói
cách khác, chúng ta không thể tính toán thị sai trong mọi trường hợp Nếu một khu vực
ảnh không cho ra những thay đổi nhạt trên hướng của vật gốc, thì sẽ không thể xác định
được thị sai Vấn đề này là một trường hợp đặc biệt đòi hỏi bài toán về độ mở với ý
tưởng xác định chuyển động sẽ được thảo thuận chi tiết trong Phần 14.2.2
Thông tin về chiều sâu chứa đựng trong những hình ảnh nổi có thể được hiểu
trược tiếp với một số phương pháp khác nhau Đầu tiên là hình ảnh nổi trái và phải có thể
được thể hiện trong một hình ảnh, ta cho 1 cái là màu đỏ, cái còn lại màu xanh Người
quan sát sử dụng kính đeo với một bộ lọc màu đỏ cho bên phải và kính lọc xanh cho bên
trái Bằng cách này, mắt phải sẽ chỉ quan sát được màu xanh và bên trái chỉ thấy màu đỏ
Phương pháp này – được gọi là phương pháp cặp ảnh nổi màu bổ sung – có điểm bất lợi
khi sử dụng ảnh không màu Tuy nhiên nó không cần thiết bị phần cứng đặc biệt nào và
có thể được đề xuất, thể hiện được trên bất cứ màn hình RGB nào, và in được ra với
những máy in chuẩn
Nhìn nổi đứng cũng cho phép quan sát ảnh nổi màu [114] Những ảnh 2 thành
phần được sắp đặt cho 1 phần ở trên phần còn lại KHi được nhìn với kính lăng trụ cho
khúc xạ ảnh trên ở bên mắt phải và ảnh dưới dưới ở mắt trái, cả 2 hợp nhất trong một ảnh
3-D
Người nhìn lập thể khác sử dụng thiết bị chuyên dụng Một nguyên tắc chung là
hiện ảnh nổi bên trái và phải luân phiên nhanh trong một màn hình và chuyển hướng
phân cực của màn hình đồng bộ Người quan sát được đeo kính phân cực lọc đúng màu
cho mắt trái và phải
Tuy nhiên, phương pháp cặp ảnh màu bổ sung có khả năng lớn nhất cho hầu hết
trường hợp, có thể được sử dụng với hầu hết trạm sử lý ảnh, chỉ thêm 1 thành phần thiết
Trang 10bị kính xanh/đỏ Miêu tả chung của những ứng dụng kỹ thuật và khoa học của ảnh nổi
được đưa ra bởi Lorenz [127]
8.2.2 Chiều sâu của Active Triangulation
Thay cho việc thiết lập camera nổi, một camera được thay thế bằng một nguồn
sáng Để tìm được chiều sâu của nó cần phải nhận dạng mỗi điểm ảnh từ hướng chiếu
sáng tới Kỹ thuật này tương đương kỹ thuật bất tương xứng Như vậy kỹ thuật active
Triangulation gồm tất cả những đặc trưng cơ bản của hẹ thống nổi mà chúng ta đã thảo
luận ở phần trên
Những kỹ thuật phức tạp đã được phát triển trong những năm gần đây để mã hóa
tia sáng theo một cách duy nhất Thông thường nhất, máy chiếu sáng được sử dụng mẫu
viền máy chiếu với những sọc trực giao tới đường cơ sở triangulation trên màn hình
Một mẫu đơn không có hiệu quả để nhận dạng vị trí của mẫu trên mặt phằng ảnh
trong phương pháp duy nhất, nhưng với những vân liên tục với những độ dài bước sóng
khác nhau, mỗi vị trí chiều ngang trên mặt phẳng máy chiếu sáng có thể được xác định
bằng chuỗi duy nhất của những vân sáng tối Một chuỗi bộ phận của sáu hình như trong
Hình 8.2
Trang 11Hình 8.2: Active triangulation by projection of a series of fringe patterns with different
wavelengths for binary coding of the horizontal position; from Wiora [218]
Giống một chuỗi các mẫu vân cũng có lợi thế - bên trong khoảng giới hạn động
của camera – nhận thấy mẫu vân trở nên độc lập với hệ số phản chiếu của vật thể và sự
phục thuộc khoảng cách của nguồn sáng Tình trạng bịt sáng thể hiện rõ ở bóng của máy
pha café trong Hình 8.2
Mã nhị phân dãy vân không rõ trong những vân sáng rõ Xác định rõ vị trí độ phân
giải cao đƣợc minh họa trong Hình 8.3
Trang 12Figure 8.3: Active triangulation by phase-shifted fringe patterns with the same
wavelength Three of four patterns are shown with phase shifts of 0, 90, and 180 degrees;
from Wiora [218]
8.2.3 Độ sâu tiêu cự
Chiều sâu giới hạn của trường hệ thống quang học thực (Phần 7.4.3) là một kỹ
thuật khác để đánh giá chiều sâu Một vật thể chỉ được phản chiếu mà không mờ nếu nó
nằm trong chiều sâu của trường Ở tia lóe đầu tiên, nó nhìn không giống như chiều sâu
của kỹ thuật triangular Tuy nhiên, nó lại chính xác cùng hình họa như dung kỹ thuật
triangulation Chỉ khác biệt ở chỗ thay vì 2, nhiều tia sáng bị rối và bán kính đĩa bị mờ
thay thế cho sự bất tương xứng Cơ số Triangulation phù hợp hệ số phóng đại của thấu
kính Vì vậy chiều sâu kỹ thuật hội tụ có tất cả những thuộc tính cơ bản của kỹ thuật
Triangulation Với những thấu kính được dung, độ phân giải tăng với bình phương của
khoảng cách (so sánh Eq (8.4) với Eq.(7.21))
Thảo luận về sự giới hạn của ảnh chiếu trong Phần 8.1.1 đã thể hiện chiều sâu từ
kỹ thuật hội tụ không khả thi với ảnh khối, vì hầu hết các cấu trúc biến mất, đặc biệt
trong những hướng khác của trục quang học Tuy nhiên chiều sâu từ tiêu điểm rất hữu
dụng và đơn giản trong xác định những bề mặt chắn sáng
Trang 13Steurer et al [194] đã phát triển một phương pháp đơn giản dựng lại ảnh chiều sâu
từ chuỗi tiêu sáng hiển vi Một bản vẽ chiều sâu là một hàm 2 chiều với chiều sâu của
một vật thể d – liên quan tới mặt phẳng chiếu – như một hàm của tọa độ ảnh [x, y]T
Với sự hạn chế được đưa ra, chỉ một phần giá trị chiều sâu của mỗi ảnh cần được
tìm Chúng ta có thể sử dụng khả năng trải điểm 3-D của ảnh quang học đã được nói chi
tiết trong Phần 7.6.1 với giá trị cực đại rõ rang trong mặt phẳng tiêu vì hướng đổ rõ ràng
vuông góc với khoảng cách của mặt phẳng tiêu Có nghĩa là tại tất cả các điểm mà ta
nhận được những điểm ảnh rõ ràng nhưn đường bờ, đường thẳng, hoặc những điểm viễn
cực, chúng ta cũng thu được một vô cực trong giá trị nhạt trên mặt phẳng tụ Hình 8.4
minh họa khả năng dàn điểm ảnh của những điểm ảnh lân cận chỉ mượt ở biên gần với
mặt phẳng hội tụ
Figure 8.4: Superposition of the point spread function of two neighboring points
on a surface
Trang 14Figure 8.5: a Focus series with 16 images of a metallic surface taken with depth
distances of 2 µm; the focal plane becomes deeper from left to right and from top to
bottom B Depth map computed from the focus series Depth is coded by intensity
Objects closer to the observer are shown brighter From Steurer et al [194]
Trang 15Figure 8.6: Principle of confocal laser scanning microscopy
Phương pháp của Steurer khiến cho việc sử dụng yếu tố giá trị cực đại riêng biệt của
khả năng trải phổ tồn tại trên mặt phẳng hội tụ Thuật toán của ông bao gồm 4 bước như
sau:
1 Chọn chuỗi tiêu cự với những bậc độ sâu bất biến
2 Sử dụng lưới lọc phù hợp như toán tử phương sai (Phần 15.2.2) để nhấn mạnh
những cấu trúc nhỏ Những ảnh được lọc kỹ được phân chia để thu một mặt nạ
phủ những vùng với những sự thay đổi nhẹ đáng chú ý
3 Trong vùng mặt nạ, tìm giá trị lớn nhất của sự khác nhau trong tất cả các ảnh của
chuỗi hội tụ Ảnh xuất hiện với giá trị lớn nhất sẽ cho ra giá trị chiều sâu của ảnh
chiều sâu Bằng phép nội suy những giá trị vị trí chiều sâu của giá trị lớn nhất có
thể được xác định chính xác hơn với độ phân giải chiều sâu của chuỗi ảnh [178]
4 Để đồ thị chiều sâu không dày đặc, phép nộ suy là cần thiết Steurer đã sử dụng
phương pháp tăng vùng sau đó một lưới lọc yếu – chỉ được sử dụng vùng được nội
suy theo thứ tự không làm ảnh hưởng thới những giá trị chiều sâu đã được tính
Trang 16Tuy nhiên những kỹ thuật phù hợp, như sự xoắn thường (Phần 11.6.2) hoặc bất cứ
kỹ thuật nào được mô tả trong Phần 17.2 đều có thể chấp nhận
Phương pháp này đã được sử dụng thành công để xác định cấu trúc mặt phẳng của
những mẫu kim loại Hình 8.5 cho thất giá trị thu được là rất tốt Một bộ lọc có thể được
sử dụng quan sát những tia chiếu từ bề mặt Hơn thế nữa, mặt phẳng còn thể hiện rõ ràng
những vết của quá trình tán xạ
Kỹ thuật này chỉ tốt nếu mặt phẳng thể hiện chi tiết Nếu không thì kỹ thuật chiếu
sáng cộng tiêu của Scheuermann et at [178] có thể được sử dụng chiếu mẫu thống kê trên
mặt phẳng tiêu (so sánh trong Phần 1.2.2 và Hình 1.3)
8.2.4 Cộng tiêu hiển vi
Hình ảnh hiển vi hình khối hết sức quan trọng trong kỹ thuật vật liệu và khoa học
đời sống Vì vậy phát sinh câu hỏi: có thể thay đồi quá trình tạo ảnh - khả năng trải điểm
- vì vậy khả năng chuyển đổi quang học sẽ không biến mất, đặc biệt là trên trục z
Trang 17Figure 8.7: Demonstration of confocal laser scanning microscopy (CLSM) a A square
pyramid-shaped crystal imaged with standard microscopy focused on the base of the
pyramid b Similar object imaged with CLSM: only a narrow height contour range, 2.5
µm above the base of the square pyramid, is visible c Image composed of a 6.2 µm depth
range scan of CLSM images Images courtesy of Carl Zeiss Jena GmbH, Germany
Trả lời cho câu hỏi này là sử dụng hiển vi quét laser cộng tiêu Nguyên lý cơ bản
của nó là chỉ chiếu những điểm trên mặt phẳng hội tụ Điều này thu đƣợc bằng quét chum
Trang 18laser lên mặt phẳng ảnh được hội tụ bằng thiết bị quang học hienr vi lên trên mặt phẳng
hội tụ (Hình 8.6) Giống như các thiệt bị quang học được sử dụng chiếu và tạo ảnh, sự
phân bố cường độ trong không gian vật thể được tính xấp xỉ bằng khả năng trải điểm ảnh
của kính hiển vi (Hơi chút khác biệt xuất hiện, như nguồn sáng laser hội tụ) Chỉ một
phần mỏng gần mặt phẳng hội tụ nhận được sự chiếu sáng mạnh Ngoài phần này sự
chiếu sáng đổ bóng với khoảng cách vuông góc với mặt phẳng hội tụ Bằng cách này sự
góp ảnh của bên ngoài những vật thể xa tiêu điểm bị chặn mạnh và giảm thiểu biến dạng
Tuy nhiên chúng ta có thể thu được một sự tái thiết hoàn toàn không biến dạng không?
Chúng ta sẽ sử dụng 2 chuỗi độc lập của ý tưởng để trả lời câu hỏi này
Trước tiên hãy tưởng tượng một cấu trúc dự đoán trên trục z Trong phép chiếu
hiển vi thong thường, cấu trúc này sẽ bị mất vì tất cả những chiều sâu đã được chiếu rọi
với ánh sáng như nhau Tuy nhiên trong phép chiếu hiển vi cộng tiêu chúng ta vẫ có thể
quan sát sự biến đổi dự đoán trên trục z vì sự giảm mạnh của cường độ chiếu sáng cung
cấp độ dài bước sóng trên trục z là không quá nhỏ
Cùng một yếu tố được chiếu sáng sử dụng PSF PSF của phép chiếu cộng tiêu thu
được như là sản phẩm của sự phân bố cường độ trong không gian và PSF của ảnh quang
học Như cả 2 khả năng đổ bong với z-2, PSF của phép chiếu cộng tiêu đổ bóng với z-4
Sự hạn chế rõ nét hơn của PSF trên trục z dẫn đến trong OTF khác 0 trên trục z
Hình ảnh 3-D tối hơn của phép chiếu hiển vi quét laser cộng tiêu được minh họa
trong Hình 8 Một ảnh thu được với phép chiếu hiển vi tiêu chuẩn thể hiện một pha lê
trong hình dạng của hình chop vuông chỉ rõ nét ở gốc hình chóp (Hình 8.7a) Hướng tới
đỉnh chóp, đường biên trở lên nhòa hơn Trái lại, hình ảnh đơn với phép chiếu quét laser
cộng tiêu chỉ hiện một độ cao hẹp tại tất cả các nơi (Hình 8.7b) Một ảnh với chiều sâu
6.2 µm quét bằng tất cả những ảnh them vào được hiện trên toàn khoảng chiều sâu (Hình
8.7c) Nhiều chi tiết rõ mà rằng không thể nhìn thấy trong ảnh của phép chiếu hiển vi
thường Phép chiếu hiển vi quét laser hiển vi đã trở thành ứng dụng phổ biến trong y học,
công nghệ sinh học và nghiên cứu vật liệu
Trang 198.3 Độ sâu từ Time-of- Flight
Kỹ thuật Time - of- flight đo lường độ trễ tín hiệu gây ra bởi thời gian để một tín
hiệu truyền trong một khoảng cách nhất định Nếu tín hiệu được gửi đi từ vị trí của máy
ảnh, nó đã truyền hai lần khoảng cách giữa máy ảnh và đối tượng phản ánh Do
Trong đó c là tốc độ truyền tín hiệu Eq (8.5) cho thấy thống kê lỗi của phép đo
độ sâu là độc lập với khoảng cách đến đối tượng Nó chỉ phụ thuộc vào tính chính xác
Đây là một ưu điểm đáng kể so với các kỹ thuật tam giác (Eq (8.4))
Với kỹ thuật Time -of- flight khiến ta lập tức nghĩ tơi điều chế xung, tức là,đo
thời gian trễ giữa việc gửi và nhận một đoạn xung ngắn Khoảng cách đo tối đa phụ thuộc
vào tần số củacác xung được gửi cho đối tượng Với sóng điện từ, sự đo lường độ trễ là
rất khó Bởi vì tốc độ ánh sáng c = 3.108 m / s, độ trễ chỉ có 6,7 ns trên một mét
Điều chế xung là chỉ là một trong nhiều kỹ thuật để điều chỉnh tín hiệu cho
đo thời gian của flight Một kỹ thuật mạnh mẽ là điều chế sóng liên tục (điều chế
CW) Với kỹ thuật này, tín hiệu được điều chế định kỳ và thời gian trễ được đo như là
một giai đoạn chuyển đổi giữa tín hiệu đi và tín hiệu vào:
) 7 8 ( 4
z z
Trong đó ν là tần số điều chế Độ sâu được đưa ra bởi giai đoạn thực tế có thể
được đo duy nhất chỉ trong một phạm vi ± π:
2 2
cT c
z