1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trang 1

158 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Đội Ngũ Giáo Viên Tiểu Học Huyện Bắc Trà My Tỉnh Quảng Nam
Tác giả Đậu Thị Luyện
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Xuân Bách
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 23,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế thừa và phát triển tư tưởng các kỳ Đại hội trước, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 5

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Giả thuyết khoa học 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Phạm vi nghiên cứu 6

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6

9 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 7

1.1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu 7

1.1.1 Những nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực 7

1.1.2 Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên 8

1.2 Các khái niệm chính của đề tài 13

1.2.1 Quản lý 13

1.2.2 Quản lý giáo dục 15

1.2.3 Phát triển 15

1.2.4 Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học 16

1.3 Yêu cầu đối với giáo viên Tiểu học trong giai đoạn hiện nay 18

1.3.1 Vị trí của giáo dục Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân 18

1.3.2 Vai trò, đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên Tiểu học 19

1.3.3 Những yêu cầu cơ bản đối với phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục hiện nay 21

1.3.4 Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học theo hướng tiếp cận phát triển nguồn nhân lực 27

1.4 Các nội dung phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học 30

1.4.1 Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học 30

1.4.2 Tuyển dụng, bố trí đội ngũ giáo viên tiểu học 31

1.4.3 Kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên tiểu học 33

1.4.4 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học 34

1.4.5 Tạo lập môi trường để đội ngũ giáo viên tiểu học phát triển 35

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học 36

1.5.1 Yếu tố khách quan 36

1.5.1 Yếu tố chủ quan 37

Tiểu kết Chương 1 38

Trang 7

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

TIỂU HỌC HUYỆN BẮC TRÀ MY TỈNH QUẢNG NAM 39

2.1 Khái quát về quá trình khảo sát 39

2.1.1 Mục tiêu khảo sát 39

2.1.2 Nội dung khảo sát 39

2.1.3 Đối tượng và địa bàn khảo sát 39

2.1.4 Phương pháp khảo sát 40

2.1.5 Xử lý kết quả khảo sát 40

2.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam 41

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 41

2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 41

2.2.3 Khái quát tình hình công tác giáo dục và đạo tạo huyện Bắc Trà My 42

2.2.4 Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến công tác phát triển giáo dục và đào tạo huyện Bắc Trà My 44

2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 45

2.3.1 Mạng lưới trường, lớp, học sinh; đội ngũ giáo viên tiểu học 45

2.3.2 Thực trạng cơ cấu đội ngũ giáo viên tiểu học ở các trường Tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam năm học 2020-2021 47

2.3.3 Thực trạng chất lượng đội ngũ GVTH các trường tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 52

2.4 Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 56

2.4.1 Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ GVTH huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 56

2.4.2 Công tác tuyển dụng, bố trí đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 58

2.4.3 Công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 60

2.4.4 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GVTH huyện Bắc Trà My 63

2.4.5 Công tác tạo lập môi trường cho đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 65

2.5 Đánh giá chung 68

2.5.1 Ưu điểm 68

2.5.2 Hạn chế 68

2.5.3 Nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế 69

Tiểu kết Chương 2 71

Chương 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC HUYỆN BẮC TRÀ MY TỈNH QUẢNG NAM 72

Trang 8

3.1 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp 72

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 72

3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính mục tiêu 72

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 73

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 73

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 73

3.2 Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 73

3.2.1 Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 74

3.2.2 Thực hiện việc tuyển dụng đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 79

3.2.3 Bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông 2018 82

3.2.4 Đổi mới kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam theo chuẩn nghề nghiệp 85

3.2.5 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay 89

3.2.6 Xây dựng môi trường làm việc cho đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 94

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 101

3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 102

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 102

3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 102

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 102

3.4.4 Đối tượng khảo nghiệm 103

3.4.5 Thời gian khảo nghiệm 103

3.4.6 Kết quả khảo nghiệm 103

3.4.7 Phân tích, đánh giá kết quả khảo nghiệm 104

Tiểu kết chương 3 105

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC pl1

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ quản lý CNH-HĐH : Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa CTGDPT : Chương trình giáo dục phổ thông CSGD : Cơ sở giáo dục

DTTS : Dân tộc thiểu số ĐNGVTH : Đội ngũ giáo viên tiểu học

GD : Giáo dục GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo GDTH : Giáo dục tiểu học

GV : Giáo viên GVTH : Giáo viên tiểu học KT-XH : Kinh tế - xã hội PTĐNGV : Phát triển đội ngũ giáo viên PTDTBT : Phổ thông dân tộc bán trú QLGD : Quản lý giáo dục

TH : Tiểu học THCS : Trung học cơ sở TH&THCS : Tiểu học và Trung học cơ sở

TW : Trung ương UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 10

46

2.7 Bảng phân tích vị trí việc làm (bộ môn) của ĐNGVTH năm

học 2020-2021 (Thời điểm tháng 01/2021) 47 2.8 Phân tích theo độ tuổi của ĐNGVTH (Thời điểm tháng

2.13 Thống kê kết quả xếp loại về chuyên môn, nghiệp vụ của

ĐNGVTH năm học 2019-2020 (thời điểm tháng 8/2020) 53 2.14 Kết quả xếp loại viên chức ĐNGVTH từ năm học 2017-

2.15 Kết quả xếp loại chuẩn nghề nghiệp ĐNGVTH, năm học

2019-2020 (thời điểm tháng 8/2020) 55 2.16 Kết quả thi đua khen thưởng của ĐNGVTH năm học 2017-

Trang 11

Số hiệu

2.17 Thực trạng công tác quy hoạch phát triển ĐNGVTH huyện

2.18 Thực trạng công tác tuyển dụng, bố trí ĐNGVTH 58 2.19 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá ĐNGVTH huyện

2.20 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGVTH huyện

2.21 Thực trạng việc thực hiện các chế độ, chính sách cho đội

ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 66 3.1

Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

103

3.2

Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

104

Trang 12

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Số hiệu

1.1 Mô hình lý thuyết PTNNL của Richard Noonan 28 1.2 Mô hình lý thuyết quản trị NNL của Leonard Nadle 29 1.3 Mô hình lý luận phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học 30

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục là một hiện tượng xã hội và là một trong những nhu cầu tất yếu của xã hội, vì nó chỉ xuất hiện ở con người, giáo dục nảy sinh trên cơ sở kinh tế xã hội nhất định, nó tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Nói cách khác, giáo dục là một hoạt động gắn liền với tiến trình phát triển xã hội, ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có nền giáo dục tương ứng, khi xã hội chuyển

từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác thì toàn bộ hệ thống giáo dục cũng thay đổi theo Do đó, ở một giai đoạn lịch sử nào hay ở bất kỳ quốc gia nào, giáo dục và đào tạo luôn đóng vai trò hết sức quan trọng Theo C.Mác: “Giáo dục

và đào tạo tạo ra cho nền kinh tế của một dân tộc những nhà khoa học, chuyên gia, kỹ

sư trên các lĩnh vực kinh tế và nhờ đó những tri thức ấy mới có thể sáng tạo ra những

kỹ thuật tiên tiến, những công nghệ mới Nếu chúng ta không có đội ngũ ấy thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ là lời nói huênh hoang, rỗng tuếch” [15]

Với xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, thông tin truyền thông

và kinh tế tri thức, giáo dục luôn giữ một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Tất cả các quốc gia đều phải nỗ lực tìm ra chính sách phù hợp và hiệu quả nhằm xây dựng nền giáo dục của mình để đáp ứng yêu cầu của thời đại cũng như bắt kịp với sự tiến bộ của các quốc gia khác trên thế giới Bởi vì giáo dục và đào tạo là nơi cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao, nó tạo nên sự phát triển liên tục, bền vững của xã hội và của mỗi con người giúp cho các nước đang phát triển có thể đi tắt, đón đầu, xây dựng xã hội ấm no, hạnh phúc Nhà bác học Gottfried Wilhelm Leibniz

(Đức) đã nói“Ai làm chủ giáo dục có thể thay đổi thế giới” hay N.Mandela - vị anh hùng giải phóng dân tộc của Nam Phi đã khẳng định: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất

mà con người có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới”, Garry Becker, người Mỹ đạt

giải Nobel kinh tế năm 1992 thì khẳng định: “Không có đầu tư nào mạng lại nguồn lợi

lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục” Riêng đối với

Việt Nam, giáo dục có sứ mệnh “Trồng người”, mà “Trồng người” thì sẽ có lợi ích

“Trăm năm” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, Người còn chỉ rõ: “Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế”

Xuyên suốt qua các kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta đã xác định: Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ phải được xem là quốc sách hàng đầu Mục tiêu giáo dục và đào tạo là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và

có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần” [21] Cuối năm 1996, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai

Trang 14

Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển; là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”

Trong xu thế tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, Ngày 04/11/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [4] Kế thừa và phát triển tư tưởng các kỳ Đại hội trước, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học

và công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động; chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn

Để giáo dục và đào tạo thực hiện tốt sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam thì ngoài việc đầu tư các chính sách cho giáo dục cần phải quan tâm ưu tiên thực hiện công tác “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” – một trong tám giải pháp và được xem là giải pháp then chốt trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, bởi vì vai trò của đội ngũ giáo viên đối với việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là vô cùng quan trọng Tác giả Raja Roy Singh đã nói

về tầm quan trọng của giáo viên trong bối cảnh hiện đại: “Giáo viên giữ vai trò quyết

định trong quá trình nhận biết – học – dạy và đặc biệt trong việc định hướng lại giáo

dục Người ta luôn luôn nhận thấy rằng thành công của các cuộc cải cách giáo dục phụ

thuộc dứt khoát vào ý chí muốn thay đổi cũng như chất lượng giáo viên Không một hệ

thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó” [40]

Như vậy, vấn đề phát triển đội ngũ nhà giáo được xem là mục tiêu vô cùng quan

trọng để phát triển giáo dục, bởi vì Nhà giáo có vai trò quyết định trong việc bảo đảm

chất lượng giáo dục, là nguồn lực duy nhất thực hiện sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực có

chất lượng cho tương lai, việc đặt ra những yêu cầu đổi mới về vai trò của đội ngũ nhà giáo ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt khi mục tiêu giáo dục là hình thành nhân cách và phát triển các năng lực cá nhân cho người học Vì thế, phát triển và nâng cao chất lượng nhà giáo phải được xem là khâu then chốt, trọng tâm của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW khóa XI của Đảng Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục phổ thông được xem là bậc học nền tảng trong việc hình thành phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm

mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo cho

Trang 15

học sinh Giáo dục phổ thông bao gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông, trong đó giáo dục tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5 - là bậc học tiền đề quyết định đến việc phát triển toàn diện con người Việt Nam Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những

cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm

mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh học tiếp cấp trung học cơ sở Vì thế, bậc học giáo dục tiểu học cần phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục tiểu học mà nhân tố đáp ứng các yêu cầu này không ai khác ngoài đội ngũ giáo viên tiểu học Do đó đòi hỏi phải có một đội ngũ giáo viên tiểu học có năng lực, phẩm chất và tâm huyết với nghề Vai trò của giáo viên tiểu học càng được khẳng định thêm trong thời kỳ khoa học công nghệ phát triển mạnh, bởi cho dù ở bất kỳ thời đại nào thì vai trò của người thầy – người dẫn dắt vẫn không có gì thay thế được; máy móc, công nghệ có thể làm thay người thầy ở việc cung cấp kiến thức nhưng không thể thay thế

người thầy trong quá trình hình thành “nhân cách” cho học sinh Theo quan điểm về

sứ mệnh người thầy của Raja Roy Singh: “Trong quá trình nhận dạy học, phải lấy

người học làm trung tâm, giáo viên không chỉ là người truyền thụ những phần tri thức rời rạc Giáo viên còn giúp người học thường xuyên gắn với cơ cấu tri thức lớn hơn Giáo viên cũng đồng thời là người hướng dẫn, người mẫu mực, người cố vấn của người học Giáo viên là người cán bộ tri thức, người có quyết tâm học tập suốt đời trong việc hoàn thiện quá trình dạy học, người dạy và người học là những người bạn cùng làm việc, cùng tìm hiểu và cùng khám phá”

Với vai trò to lớn ấy, đứng trước những khó khăn, thách thức của thời đại, của

sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đòi hỏi giáo viên tiểu học phải không ngừng tự học hỏi nâng cao năng lực, trau dồi phẩm chất, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp để xứng đáng là người thầy mẫu mực của các thế hệ học sinh tiểu học Đây cũng là những thách thức to lớn đặt ra cho các nhà quản lý nhằm giải quyết bài toán nâng cao chất lượng giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay Việc phát triển giáo dục tiểu học nói chung và phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học nói riêng là một trong những vấn đề quan trọng và cần thiết quyết định đến công tác phát triển giáo dục và đào tạo góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bắc Trà My là một trong 6 huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, điều kiện kinh tế - xã hội của huyện trong những năm gần đây có bước phát triển rõ rệt Tuy nhiên đời sống của nhân dân vẫn còn rất nhiều khó khăn do điều kiện địa lý tự nhiên, đặc thù vùng miền, nhiều dân tộc anh em cùng chung sống với các phong tục tập quán đan xen Toàn huyện có trên 20 thành phần dân tộc khác nhau, dân tộc thiểu số chiếm trên 50%, đa số người dân sống chủ yếu nhờ nương rẫy, rất ít hộ dân buôn bán, kinh doanh; không có khu công nghiệp để tạo việc làm cho lao động nông thôn, Ngành giáo dục huyện Bắc Trà My có 39 trường học trực thuộc, cấp tiểu học có 54 điểm

Trang 16

trường thuộc 13 xã, thị trấn; nhiều trường thôn có khoảng cách cách trung tâm hành chính xã trên 25 km và phải đi bộ, qua nhiều sông suối, thời gian đi bộ từ 5 - 8 giờ đồng hồ mới đến nơi, nên rất khó khăn cho công tác huy động, duy trì sĩ số học sinh vào mùa mưa lũ và ổn định đời sống để nhà giáo an tâm công tác

Với sự quan tâm lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương, trong nhiều năm qua đã tăng cường đầu tư mọi nguồn lực cho công tác giáo dục và đào tạo huyện nhà theo quan điểm lãnh đạo xuyên suốt, nhất quán: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển” Xác định những nhiệm vụ trọng tâm và then chốt để phát triển giáo dục phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, trong giai đoạn 2015-2020 và giai đoạn 2020-2025 Đảng bộ, chính quyền huyện Bắc Trà My đã xây dựng Nghị quyết, Chương trình để lãnh đạo giáo dục phát triển theo từng giai đoạn phù hợp với quá trình phát triển của địa phương và sự phát triển chung của tỉnh Đặc biệt, trong năm 2020, đứng trước tình hình dịch bệnh, thiên tai giáo dục huyện nhà đã có nhiều giải pháp triển khai thực hiện đảm bảo khung chương trình năm học theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo trong tình hình mới đạt nhiều kết quả tích cực, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội của huyện

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục huyện Bắc Trà My vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập và hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu chung của xã hội cũng như sự phát triển, đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay: Công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng giáo viên tiểu học ở cấp ngành và trường học chưa đồng bộ, khoa học và hiệu quả, đặc biệt là việc cơ cấu đội ngũ chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng đội ngũ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Đội ngũ giáo viên tiểu học hiện nay chưa đủ số lượng theo quy định, giáo viên tiểu học dạy các môn chuyên (tiếng Anh, Tin học) còn thiếu Trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên tiểu học vẫn chưa đảm bảo theo Luật Giáo dục 2019 (24,9% chưa đạt chuẩn) Công tác đánh giá, xếp loại giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp ở một vài trường học vẫn chưa chặt chẽ, đảm bảo đúng quy định để góp phần thúc đẩy và phát triển nhà giáo, vẫn còn sự nhầm lẫn giữa đánh giá, xếp loại viên chức giáo viên hàng năm với đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học nên kết quả đánh giá khá chênh lệch giữa đơn vị trường này với trường khác; năng lực giảng dạy của một bộ phận giáo viên tiểu học có mặt còn hạn chế, đặc biệt chậm thích nghi, ngại đổi mới khi thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018) Chế độ đãi ngộ, chính sách cho nhà giáo nói chung, giáo viên tiểu học nói riêng chưa đáp ứng và tương xứng với nhà giáo Một số giáo viên tiểu học mới vào ngành có mức lương rất thấp nên không ổn định tư tưởng, thiếu tâm huyết với nghề

Từ những bất cập, tồn tại nêu trên đã ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục cấp Tiểu học nói riêng và trên hết là ảnh hưởng đến quá

Trang 17

trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Bắc Trà My trong những năm gần đây Nguyên nhân dẫn đến các vấn đề nói trên phần lớn là từ công tác quy hoạch, tuyển dụng, quản lý và bố trí sử dụng, kiểm tra đánh giá, đào tạo bồi dưỡng và xây dựng môi trường làm việc đối với giáo viên tiểu học vẫn còn có mặt tồn tại, hạn chế Do đó, việc phát triển ĐNGVTH bảo đảm đáp ứng các yêu cầu để thực hiện đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay cần được nghiên cứu có hệ thống

và toàn diện hơn Tuy nhiên, trên địa bàn huyện Bắc Trà My từ trước đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học Để có những giải pháp hiệu quả, phù hợp nhằm giải quyết những vấn đề bất cập, khó khăn về đội

ngũ giáo viên tiểu học là vô cùng cấp thiết Từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Phát

triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam” làm đề tài

nghiên cứu của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà

My, tỉnh Quảng Nam

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài khảo sát thực tiễn đội ngũ giáo viên tiểu học tại 11 trường Tiểu học (bao gồm trường Tiểu học và PTDTBT Tiểu học) và 03 trường PTDTBT Tiểu học và Trung học cơ sở huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam

3.4 Chủ thể quản lý

Biện pháp quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bắc Trà My

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay việc quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, bố trí, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên tiểu học của huyện Bắc Trà My đã đạt được những kết quả tốt, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ những bất cập, tồn tại Đề xuất các biện pháp phát triển hợp lý và khả thi trong công tác phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học sẽ đáp ứng được các yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

5.3 Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà

My, tỉnh Quảng Nam

Trang 18

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp tài liệu, phân loại và hệ thống hóa tài liệu nhằm xây dựng cơ

sở lý luận của đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Sử dụng các phương pháp điều tra (bằng bảng hỏi); phương pháp tổng kết kinh nghiệm; phương pháp phỏng vấn, phương pháp chuyên gia

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả điều tra, khảo sát

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Phần nội dung gồm 03 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học

Chương 2 Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

Chương 3 Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Bắc Trà

My, tỉnh Quảng Nam

Phần Kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

1.1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực

1.1.1.1 Trên thế giới

Các nghiên cứu về nhân lực (NL), nguồn nhân lực (NNL) và quản lý nguồn nhân lực (QLNNL) là các nghiên cứu khoa học về con người Quan niệm về con người đã xuất hiện rất sớm ở phương Đông và phương Tây Vấn đề về con người và phát triển con người được nhiều trường phái quản lý, quản trị nhân lực nghiên cứu và coi như là một bộ môn khoa học Theo Charles (1792-1871), F.W.Taylor (1856-1915), H.Fayol (1841-1925): quản lý con người được hiểu như người quản lý phải lựa chọn người công nhân một cách khoa học, bồi dưỡng nghề nghiệp và cho họ học hành để họ phát triển đầy đủ nhất khả năng của mình M.P.Follet (1868-1933), E.Mayo (1880-1949) thì cho rằng: con người lao động cần được xem xét trong toàn bộ hoàn cảnh xã hội của họ, trong môi trường hoạt động của họ Các yếu tố tình cảm cũng chi phối mạnh mẽ hành

vi và kết quả hoạt động của con người Cần quan tâm đến yếu tố cá nhân trong nhóm sản xuất, không nên tách công nhân khỏi các nhóm sản xuất của họ C.I Barnard (1886-1961), Mc.Gregor với quan niệm: đối tượng của quản lý là các cá nhân con người tham gia vào một tổ chức, các nhà quản lý phải tìm ra tính hai mặt của các cá nhân dưới quyền, tạo điều kiện cho họ phát triển toàn diện [Dẫn theo Trần Hữu Cát - Đoàn Minh Duệ, 36, 13]

Đến cuối thế kỉ XX, những quan niệm về NL, NNL và QLNNL hoàn thiện hơn: Leonard Nadle - nhà xã hội học người Mỹ đã nghiên cứu và đưa ra mô hình quản trị nguồn nhân lực Theo đó, quản trị nguồn nhân lực có ba nhiệm vụ chính là: phát triển nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực và môi trường nguồn nhân lực Trong đó nội dung phát triển nguồn nhân lực gồm: quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng, đánh giá, bồi dưỡng, đào tạo lại và xây dựng môi trường làm việc [Dẫn theo Tạ Ngọc Tấn, 44] Nội dung bài viết: “Một số mô hình quản lý chiến lược nguồn nhân lực”, cho thấy xu thế tiếp cận mới trong quản lý, quản trị nguồn nhân lực là quản lý chiến lược nguồn nhân lực Cơ sở KT-XH của cách tiếp cận này là nhu cầu nâng cao hiệu quả cơ

sở sản xuất, đáp ứng yêu cầu của chiến lược sản xuất kinh doanh Theo bài viết thì nhân lực luôn được xem là một yếu tố tạo nên sự thành công của một tổ chức (cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, ), con người tạo ra sự khác biệt giữa các tổ chức Tuy vậy, nếu chỉ chú trọng tới phát triển nhân lực mà không gắn kết nó với những nguyên tắc và mục tiêu chung của tổ chức hay doanh nghiệp thì mọi sự cố gắng nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của người lao động sẽ trở nên lãng phí vô ích

Theo UNESCO [47], với 4 trụ cột của giáo dục Thế kỉ XXI: “Học để biết, học để

Trang 20

làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống” Đồng thời UNESCO đã khuyến cáo PTNNL không chỉ bắt đầu từ tuổi trưởng thành mà phải được bắt đầu từ giáo dục phổ thông Với quan điểm của UNESCO, khái niệm PTNNL được mở rộng đối tượng từ phổ thông đến trưởng thành tham gia lao động xã hội

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Cuốn sách: “Khoa học Giáo dục Việt Nam từ đổi mới đến nay” [33], Phan Văn Kha

- Nguyễn Lộc đồng chủ biên, cùng với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, với nhiều nội dung thuộc các lĩnh vực khác nhau của giáo dục được nghiên cứu Về PTNNL, công trình

đã khái quát những thành tựu nghiên cứu trong và ngoài nước về PTNNL Xây dựng những khái niệm công cụ để nghiên cứu PTNNL như: Lực lượng đang lao động, lực lượng lao động, nhân lực, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Xây dựng phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu PTNNL Kết quả nghiên cứu về PTNNL là căn cứ khoa học quan trọng để các nhà khoa học nghiên cứu sâu hơn về các thành tố của PTNNL; các chủ thể quản lý, vận dụng trong quản lý, quản trị nhân lực và PTNNL

Bài viết: “Quản lý nguồn nhân lực chiến lược dựa vào năng lực” [30], tác giả Nguyễn Tiến Hùng đã trình bày và phân tích cụ thể cách tiếp cận vận dụng khung năng lực vào các hoạt động quản lý NNL chiến lược của cơ sở giáo dục Theo tác giả,

để nâng cao năng lực - hiệu lực - hiệu quả quản lý chuyên môn trong quá trình quản lý

cơ sở giáo dục của chủ thể quản lý, thì “khung năng lực” là công cụ quản lý hiệu quả giúp nhân viên và nhà quản lý không chỉ hiểu thấu đáo mà còn thống nhất về những gì cần làm Khung năng lực cho phép dịch chuyển các chiến lược, mục tiêu và giá trị của

cơ sở giáo dục thành các hành vi cụ thể Hầu hết các cơ sở giáo dục ngày nay đều nhận thức rõ rằng nếu khung năng lực được thiết kế chính xác và thực hiện tốt thì sẽ dẫn tới nâng cao kết quả thực hiện của nhân viên và cơ sở giáo dục, vì vậy sẽ giúp nâng cao các thực tiễn quản lý NNL chiến lược Cuốn sách: “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” [46], tác giả Võ Xuân Tiến đã cho rằng: PTNNL là quá trình gia tăng, biến đổi đáng kể về chất lượng của nguồn nhân lực và sự biến đổi này biểu hiện

ở việc nâng cao năng lực và động cơ của người lao động Năng lực của người lao động

là sự tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kĩ năng và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người

Tóm lại, những khái niệm NL, NNL, QLNNL, PTNNL được phát triển và hoàn thiện dần theo tiến trình phát triển của xã hội Từ việc xem xét quá trình phát triển con người trong cơ cấu lao động trong một xí nghiệp, tiến tới xem xét phát triển con người trong xã hội, theo nhu cầu của xã hội và con người phải vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển

1.1.2 Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên

1.1.2.1 Trên thế giới

Đội ngũ giáo viên có vai trò là lực lượng “Đảm bảo giáo dục có chất lượng một cách công bằng và hiệu quả, đồng thời nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi

Trang 21

người.” [49] và “Giáo viên có vai trò chủ yếu trong việc phục hồi thế giới khỏi các xung đột và thảm họa tự nhiên” [53] Cuốn sách: “Phát triển giáo viên và thay đổi giáo dục” [54], tác giả M.Fullan và A.Hargreaves đã nghiên cứu và chỉ ra các phương diện

để nâng cao năng lực cá nhân cho giáo viên, đó là: (i) Phát triển tâm lý, gồm 4 cấp độ:

tự bảo vệ, tiền đạo đức, phụ thuộc một chiều; bảo thủ, phủ định đạo đức, tự lập; lương tâm, đạo đức, phụ thuộc có điều kiện; tự lập, tự chủ, nguyên tắc, tích hợp; (ii) Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ; gồm 6 cấp độ: phát triển các kĩ năng tồn tại; thành thạo các kĩ năng dạy học cơ bản; mở rộng sự linh hoạt chuyên môn; trở thành chuyên gia; góp phần phát triển chuyên môn của đồng nghiệp; tham gia đưa ra quyết sách giáo dục

ở mọi cấp độ; (iii) Phát triển chu kì nghề nghiệp, gồm 5 cấp độ: khởi động nghề nghiệp; ổn định, gắn bó nghề nghiệp; các thách thức; mối quan tâm mới và trở nên chuyên nghiệp

Tác giả Bernd Meier khi nghiên cứu những năng lực cơ bản mà mỗi giáo viên đều phải có được gọi là năng lực hạt nhân nòng cốt, như: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực chẩn đoán; năng lực đánh giá; năng lực tư vấn; năng lực tiếp tục phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học Đào tạo để nâng cao năng lực giáo viên là công việc mà mọi quốc gia đều phải thực hiện Tác giả Mishra & Koehler cho rằng: Trong thời đại ngày nay công nghệ thông tin được xem như một nguyên nhân và một bánh xe thúc đẩy kết quả quá trình đổi mới giáo dục Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tích hợp công nghệ thông tin trong giáo dục là việc phát triển chuyên môn cho giáo viên hiện tại và tương lai, việc phát triển này được xác định là

ưu tiên hàng đầu trong chính sách về đổi mới giáo dục Khung kiến thức cần đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên gồm: Nội dung, phương pháp và công nghệ Đây là khung phát triển chuyên môn về công nghệ thông tin trong giáo dục Mô hình này hiện đang được quốc tế công nhận và được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Diễn đàn Giáo dục Thế giới do UNESCO tổ chức tại Dakar, Senegal (2000) coi chất lượng giáo viên là một trong 10 yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, tức là giáo viên có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng lực chuyên môn cao Năng lực chuyên môn cần phải có để đảm bảo chất lượng giáo dục bao gồm: Hiểu biết sâu sắc

về nội dung môn học, có tri thức sư phạm, có tri thức về sự phát triển, có sự hiểu biết

về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, có tri thức về việc học tập, làm chủ được các chiến lược dạy học, hiểu biết về việc đánh giá học sinh, hiểu biết về các nguồn của chương trình và công nghệ, am hiểu và đánh giá cao về sự cộng tác, có khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học Nghiên cứu chung của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu) cũng chỉ ra chất lượng giáo viên gồm 5 khía cạnh: (i) Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mà giáo viên dạy; (ii) Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp dạy học, về năng lực sử dụng các phương pháp đó; (iii) Có tư duy phản ánh trước mỗi

Trang 22

vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; (iv) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học

Như vậy, ngày nay khi bàn về việc phát triển giáo viên, nhiều chuyên gia nhận định: đào tạo và phát triển giáo viên tạo nên sự khác biệt, ảnh hưởng tích cực và trực tiếp tới chất lượng hiệu suất và do đó ảnh hưởng tới thành tích học tập của học sinh [Husen, Saha và Noonan, 1978; Avalos và Haddad, 1981] Các yếu tố đặc biệt như thâm niên giảng dạy, phong cách giảng dạy, kiến thức môn học, tài liệu sách vở và cách thức sử dụng chúng, những kỳ vọng của giáo viên về hiệu quả học tập của học sinh, thời gian chuẩn bị bài giảng trên lớp, sự quản lý hoạt động của học sinh được coi

là có ảnh hưởng tới thành tích học tập [Farrell và Oliveira, 1993; Fuller và Clarke, 1994] Ngoài ra, yếu tố tiền lương giáo viên cũng ảnh hưởng tới chất lượng giáo viên,

từ đó tác động tới hiệu quả học tập của học sinh Tiền lương cần phải đảm bảo hỗ trợ cho các điều kiện sống cơ bản của giáo viên để thu hút và duy trì chất lượng, giảm thiểu việc dạy thêm ngoài giờ hay thiếu sự cam kết trách nhiệm Coombe (1997) ghi nhận tỷ lệ bỏ việc, vắng mặt, bỏ bê nhiệm vụ và thiếu kỷ luật trong đội ngũ giáo viên ở Châu Phi, điều này góp phần vào việc gia tăng tỷ lệ học sinh thiếu kỷ luật, nghỉ học Với lý luận về dạy học, Michel Develay (1994) bàn về các vấn đề đào tạo giáo viên, như: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của giáo viên Ông quan niệm: Đào tạo giáo viên mà không làm cho họ có trình độ cao

về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, lý thuyết, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được Còn Anderson (2008) nhấn mạnh việc phát triển đội ngũ giáo viên là một phần rất quan trọng trong hệ thống giáo dục vì nó ảnh hưởng đến chất lượng quá trình giảng dạy và học tập của học sinh Phát triển đội ngũ giáo viên được tác giả xác định là

“Những hoạt động chính quy và phi chính quy được tổ chức bởi cá nhân hoặc tập thể

để thúc đẩy sự phát triển và làm mới đội ngũ Nó bao gồm một quá trình phức hợp để phát triển các kỹ năng về thực hiện cũng như kỹ năng đánh giá Phát triển đội ngũ giáo viên không phải là hoạt động đơn lẻ mà là quá trình liên tục lâu dài và các chương trình đào tạo cần có hệ thống để trở nên có ý nghĩa với các giai đoạn khác nhau” Chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục theo chiến lược bao gồm 21 điểm, UNESCO đã đề cập tầm quan trọng về giáo viên: (i) Đạo đức của giáo dục phải nhằm làm cho mỗi người trở thành người dạy và người kiến tạo nên sự tiến bộ văn hóa của bản thân mình; (ii) Các chương trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị

và phương pháp giảng dạy mới nhất; (iii) Phải hủy bỏ sự chênh lệch về ngôi thứ giữa giáo viên các bậc tiểu học, kỹ thuật, trung học và đại học; (iv) Giáo viên phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức; (v) Việc giảng dạy phải thích nghi với người học, chứ không phải buộc người học tuân theo các quy định được đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền

Trang 23

1.1.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam vấn đề phát triển ĐNGV đã được đề cập từ lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đương thời rất quan tâm đến chất lượng GD, đặc biệt là đội ngũ thầy, cô giáo Người đã chỉ rõ: “Vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải phát triển được đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo” Người luôn đánh giá cao vai trò của cô giáo, thầy giáo trong xã hội mới, coi họ là lớp người vẻ vang của đất nước Vì nếu không có những người thầy giáo hết lòng dạy dỗ thế hệ trẻ ngày hôm nay thì không thể xây dựng được một xã hội tốt đẹp trong tương lai như mọi người mong muốn Trong toàn bộ di sản tư tưởng giáo dục của Chủ tịch

Hồ Chí Minh, vấn đề cơ bản nhất, nổi bật nhất là vấn đề phát triển và hoàn thiện con

người, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về người thầy trong chế độ mới: “Thời trước giáo

dục là gõ đầu trẻ để kiếm cơm ăn, có cơm chùa thì đánh chuông, hết cơm chùa thì không đánh chuông Bây giờ nhiệm vụ khác trước Các cô chú có nhiệm vụ hết sức quan trọng: bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này Làm tốt thì thế hệ sau này ảnh hưởng tốt Làm không tốt sẽ có ảnh hưởng không tốt đến thế hệ sau Mục đích giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới”

(1956) Trước lúc đi xa, Người cũng rất mong mỏi, kỳ vọng đội ngũ nhà giáo phải biết

tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn để thi đua dạy tốt, học tốt Trong bức thư

gửi toàn ngành giáo dục, Người nhắn nhủ: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục

thi đua dạy tốt, học tốt Trên nền tảng chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề

do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật” (1968)

Thực hiện tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nhiều thập niên qua Đảng

và Nhà nước ta đã có những quan điểm chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước Nhiều đề tài, công trình, hội thảo nghiên cứu khoa học về phát triển ĐNGV dưới

sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo được tập trung nghiên cứu, thảo luận Tiêu biểu trong các nghiên cứu đó là những công trình nghiên cứu về mô hình nhân cách của ĐNGV các cấp học, bậc học và mô hình nhân cách của người quản lý nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân Có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả: Đặng Quốc Bảo; Nguyễn Thanh Bình; Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, … Trong cuốn: “Kỷ yếu hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam” [6], tham luận về “Phát triển đội ngũ giáo viên trong thế kỷ XXI” tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng ở thế kỷ XXI đội ngũ giáo viên phải đạt các tiêu chuẩn sau: (i) phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người giáo viên; (ii) năng lực tìm hiểu đối tượng và

Trang 24

môi trường giáo dục; (iii) năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục; (iv) năng lực thực hiện kế hoạch dạy học; (v) năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục; (vi) năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện đạo đức; (vii) năng lực hoạt động chính trị xã hội; (viii) năng lực phát triển nghề nghiệp

Trong cuốn sách: “Quản lí giáo dục” [28] của các tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo đã đề cập đến các khía cạnh của quản lý Nhà nước về giáo dục Cuốn sách có 01 chương nghiên cứu về “Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục” với 4 vấn đề: (i) tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; (ii) Những yêu cầu chung về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; (iii) quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trong một nhà trường; (iv) xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Tiếp cận theo chức năng quản lý, tài liệu khẳng định trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên cần tuân thủ các khâu: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và phát triển đội ngũ giáo viên:

đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu

Cuốn sách: “Quản lý nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn” [34] của Đặng

Bá Lãm Tác giả nhấn mạnh 3 vấn đề trong quản lý Nhà nước về phát triển đội ngũ giáo viên, đó là: (i) phát triển đội ngũ giáo viên là sự tăng trưởng về mặt số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên Đây chính là quá trình chuẩn bị lực lượng để giáo viên có thể theo kịp được sự thay đổi và chuyển biến của giáo dục; (ii) phát triển đội ngũ giáo viên bao gồm cả tuyển chọn, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp Phát triển đội ngũ GV tăng cả về số lượng lẫn chất lượng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ GV; và (iii) phát triển đội ngũ giáo viên còn chính là việc xây dựng đội ngũ GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, có chất lượng để thực hiện tốt mục tiêu, nội dung và kế hoạch đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục Đồng thời, xây dựng một tập thể sư phạm, trong đó mỗi cá nhân có tinh thần trách nhiệm, gắn bó với nhà trường, tham gia tích cực, sáng tạo vào trong quá trình giảng dạy và học tập Nội dung công tác phát triển giáo viên liên quan đến quy mô, cơ cấu, chất lượng đội ngũ giáo viên Chuyên khảo: “Đổi mới quản lý giáo dục Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [33], Phan Văn Kha chủ biên Chuyên khảo là sản phẩm của Chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ: “Đổi mới quản lý giáo dục trong quá trình hội nhập quốc tế” Chương trình cung cấp các luận cứ khoa học và đề xuất giải pháp đổi mới quản lý giáo dục ở Việt Nam Chương trình nghiên cứu đã dành 01 chương nghiên cứu về

“Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý” với 5 vấn đề lớn: (i) giáo viên và CBQL giáo dục thể kỉ XXI; (ii) vấn đề quy hoạch, tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong bối cảnh mới; (iii) vấn đề đào tạo, bồi dưỡng theo tiếp cận năng lực lấy thực tiễn làm trung tâm; (iv) vấn đề đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ và đánh giá theo khung năng lực; (v) vấn đề về chính sách và tạo động lực đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục, quản lý Nhà nước về GD&ĐT theo tinh thần đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển

Trang 25

Luận án: “Phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay” [16], tác giả Lê Trung Chinh quan niệm: Phát triển đội ngũ giáo viên thực chất là phát triển nguồn nhân lực sư phạm trong giáo dục, là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đội ngũ giáo viên nhằm phát triển từng cá nhân và cả đội ngũ giáo viên đáp ứng mục tiêu giáo dục, các yêu cầu của việc nâng cao chất lượng giáo dục trên tất cả các mặt: qui mô, chất lượng, hiệu quả Việc quản lý tốt đội ngũ giáo viên sẽ tạo ra môi trường liên nhân cách để phát triển hoàn thiện mọi nhân cách, đó là nhân cách học sinh, nhân cách giáo viên và nhân cách cán bộ quản lý; đây

là môi trường giáo dục mà các hoạt động trong đó đem lại cho mọi người khả năng tự giáo dục, …

Tóm lại, những công trình nghiên cứu khoa học về giáo viên và phát triển đội

ngũ giáo viên ở trong nước, ngoài nước là những cơ sở lý luận để luận văn kế thừa và vận dụng nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học Các công trình nghiên cứu này nghiên cứu chuyên sâu về các nội hàm phát triển đội ngũ giáo viên ở nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học

để đáp ứng thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới trên địa bàn huyện Bắc Trà My hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào được thực hiện

1.2 Các khái niệm chính của đề tài

1.2.1 Quản lý

Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ: quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả con người với bản thân xuất hiện theo Điều này làm xuất hiện nhu cầu về quản lý Quản lý

là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũng hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất từ cộng sản nguyên thủy đến nền văn minh hiện đại, trong đó quản lý luôn là một thuộc tính tất yếu lịch sử khách quan gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó Thuộc tính đó bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội đó là hoạt động lao động tập thể - lao động xã hội của con người Trong quá trình lao động con người buộc phải liên kết lại với nhau, kết hợp lại thành tập thể Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, phải có sự quản lý

Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” Theo ông thì người quản lý phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc Xét ở góc độ hoạt động thì quản lý là điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi con người để đạt đến mục đích, phù hợp với quy luật

Trang 26

khách quan Dưới góc độ khoa học, quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung

Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý: Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: “Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo” Còn theo Harold Koontz và đồng nghiệp [29]: “…Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người

có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn

ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản

lý là một khoa học” Theo Các-Mác: “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động

xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp” Ông viết: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì

tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [15]

Theo Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình có định hướng, có mục tiêu; quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mỗi hệ thống và người quản lý mong muốn”

Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm:

“Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa:

“Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác

“quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý” Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình

“lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển” Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của

hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau

Trang 27

Tóm lại, từ các định nghĩa được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm và có thể rút ra điểm chung:

“Quản lý là một quá trình tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích, sứ mạng của tổ chức – mục tiêu của nhà quản lý”; hay, quản lý là quá trình đạt đến mục

tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng quy luật các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, gọi tắt là Kế - Tổ - Đạo – Kiểm

1.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục (QLGD) là một bộ phận của quản lý xã hội Hiện nay, khái

niệm QLGD còn nhiều quan điểm khác nhau

- Theo Trần Kiểm:

+ Đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cao nhất đến cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện

có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt

ra cho ngành giáo dục”

+ Đối với cấp vi mô: “QLGD thực chất là những tác động của chủ thể quản lý

vào quá trình giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo nhà trường”

- Theo Nguyễn Ngọc Quang thì QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực luợng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội

- Theo Đặng Quốc Bảo thì QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, điều hành các cơ sở giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội

Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thuờng xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở những thế hệ trẻ mà giáo dục cho tất cả mọi nguời, mọi lứa tuổi Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ Cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành của hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân

Có thể hiểu một cách chung nhất: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống tổ chức giáo dục của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất

1.2.3 Phát triển

Khái niệm “phát triển” xuất hiện khá sớm ở phương Tây và được sử dụng đi đôi với “không phát triển”, “chậm phát triển” Có thời kì khái niệm phát triển còn được gắn với khái niệm văn minh Với khái niệm văn minh, chủ nghĩa thực dân phương Tây

Trang 28

đã tự cho mình có nhiệm vụ lịch sử đem ánh sáng văn minh đến khai hóa cho các dân tộc lạc hậu, chậm phát triển

Theo nguyên lý về sự phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật Như vậy, phát triển liên quan đến 2 khía cạnh: (i) Sự gia tăng về số lượng và chủng loại; (ii) Sự thay đổi về chất lượng Mặt khác, nguyên lý về sự phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ ra rằng: Khi xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển phải phân chia thành những giai đoạn, phải nắm bắt được những cái đang tồn tại, đồng thời thấy được khuynh hướng phát triển trong tương lai, thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất tụt lùi Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi, vạch ra những khuynh hướng biến đổi chính của sự vật từ đó có tác động phù hợp thúc đẩy sự phát triển

Bài viết: “Về khái niệm phát triển”, tác giả Bùi Đình Thanh, trên cơ sở nghiên cứu lịch sử của khái niệm phát triển và phân tích nội dung của các chỉ báo phát triển bền vững, đã đưa ra khái niệm: “Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược

và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực

tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ”

Từ những phân tích nêu trên, có thể định nghĩa: Phát triển là sự gia tăng về số lượng

và chủng loại, điều chỉnh về cơ cấu và nâng cao chất lượng

1.2.4 Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học

1.2.4.1 Khái niệm về giáo viên:

Theo Luật Giáo dục [39]: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác”, “Nhà giáo ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên” Như vậy, giáo viên là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề Theo đó, GV thực hiện nhiệm vụ lao động nghề nghiệp tại các trường tiểu học được gọi là giáo viên tiểu học

1.2.4.2 Giáo viên tiểu học:

Giáo viên tiểu học là những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh trong trường tiểu học và cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học

1.2.4.3 Đội ngũ giáo viên tiểu học

* Khái niệm về đội ngũ:

Từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm “Đội ngũ là tập hợp số đông người cùng

Trang 29

chức năng và nghề nghiệp”

Bên cạnh đó “Đội ngũ được sử dụng khá rộng rãi và dùng để chỉ các tổ chức trong xã hội như: Đội ngũ trí thức, đội ngũ giáo viên, đội ngũ thanh niên, đội ngũ tình nguyện viên,… Đó là sự gắn kết những cá thể với nhau, hoạt động theo sự phân công, hợp tác lao động, là những người có chung mục đích, lợi ích và ràng buộc với nhau bằng trách nhiệm pháp lý

* Khái niệm đội ngũ giáo viên tiểu học:

Theo Luật Giáo dục: “Đội ngũ giáo viên tiểu học là tập hợp những nhà giáo, những chuyên gia, các nhà sư phạm có đầy đủ tiêu chuẩn nhà giáo đã và đang giảng dạy trong cơ sở giáo dục tiểu học, có khả năng cống hiến tài năng, sức lực của họ cho

sự nghiệp giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục”

Trong trường tiểu học, tập thể sư phạm là tổ chức của tập thể những người hoạt động lao động sư phạm Tập thể sư phạm liên kết các giáo viên, cán bộ, nhân viên thành một cộng đồng giáo dục có tổ chức, có phương pháp giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường

Tập thể giáo viên tiểu học là những người trực tiếp làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục, là lực lượng chủ yếu, quan trọng nhất quyết định đến chất lượng giáo dục và mục tiêu, sứ mạng trong nhà trường

1.2.4.4 Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học

Phát triển ĐNGVTH có thể được coi là khái niệm được thu hẹp từ khái niệm phát triển nguồn nhân lực Cụ thể là: Ngoại diên của khái niệm thu hẹp lại, chủ yếu giới hạn trong phạm vi đội ngũ lao động sư phạm đang làm việc tại các trường tiểu học với một chuyên môn xác định, với một giới hạn nhất định về số lượng

Phát triển ĐNGVTH là tạo ra một ĐNGVTH đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng (có trình độ, được đào tạo đúng quy định, có phẩm chất đạo đức, có năng lực trong các hoạt động dạy học và giáo dục học sinh), trên cơ sở đó, đội ngũ này đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu của nhà trường cũng như các yêu cầu của giáo dục tiểu học Phát triển ĐNGVTH là quá trình tiến hành các giải pháp quản lý nhằm xây dựng ĐNGVTH đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, vững mạnh về trình độ, có thái độ nghề nghiệp tốt, tận tụy với nghề đáp ứng chuẩn nghề nghiệp để thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy học và mục tiêu quản lý của nhà trường Đây cũng là quá trình làm cho ĐNGVTH học biết đoàn kết và đủ điều kiện để sáng tạo trong việc thực hiện tốt nhất mục tiêu của nhà trường, tìm thấy lợi ích cá nhân trong mục tiêu của nhà trường; giúp

họ thấy được sự phát triển của cá nhân gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của nhà trường Nói một cách khác, phát triển ĐNGVTH phải tạo ra sự gắn bó giữa xây dựng chuẩn nghề nghiệp, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng với việc sử dụng hợp lý; tạo môi trường thuận lợi cho ĐNGVTH phát triển và đánh giá ĐNGVTH một cách chính xác, khách quan

Phát triển ĐNGVTH học thực chất là phát triển nguồn nhân lực sư phạm trong

Trang 30

giáo dục Đó chính là sự vận động phát triển cả về số lượng và chất lượng trên cơ sở

ổn định, bao gồm sự phát triển toàn diện người giáo viên với tư cách con người, là thành viên trong cộng đồng nhà trường, là nhà chuyên môn trong hoạt động sư phạm

và giáo dục Kết quả công tác phát triển ĐNGVTH phải bao gồm không chỉ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn là sự thỏa mãn của cá nhân, sự tận tụy của người giáo viên đối với nhà trường, có sự thăng tiến của cá nhân người giáo viên trong sự phát triển của nhà trường

Phát triển ĐNGVTH có thể xem như một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện hay thay đổi thực trạng hiện tại của đội ngũ, làm cho ĐNGVTH không ngừng phát triển về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu dạy học trong trường tiểu học trong xu hướng hội nhập, tiếp cận chuẩn nghề nghiệp giáo viên của các nước tiên tiến Phát triển ĐNGVTH được xem như một quá trình tích cực mang tính hợp tác cao, trong đó người giáo viên tự phát triển sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự trưởng thành về mặt nghề nghiệp cũng như nhân cách của bản thân người giáo viên trong sự hòa hợp cùng phát triển với nhà trường

1.3 Yêu cầu đối với giáo viên Tiểu học trong giai đoạn hiện nay

1.3.1 Vị trí của giáo dục Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.1.1 Hệ thống giáo dục quốc dân

Theo Luật Giáo dục 2019: “Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên” Cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: (i) Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo; (ii) Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông; (iii) Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác; (iiii) Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình

độ tiến sĩ

Với quan điểm giáo dục đặt ở trung tâm của sự phát triển giữa con người, cá nhân và cộng đồng Giáo dục phổ thông được xác định là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của dân tộc Giáo dục phổ thông giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc góp phần xây dựng nền văn hóa mới, cải tạo nòi giống, tạo mặt bằng dân trí, đào tạo lao động kĩ thuật và bồi dưỡng nhân tài đáp ứng những yêu cầu phát triển KT - XH của một quốc gia

Mục tiêu của giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong đó, giáo dục tiểu học nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ,

Trang 31

thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học

cơ sở

1.3.1.2 Vị trí của giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Giáo dục tiểu học là cấp học đầu tiên của giáo dục phổ thông, được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là

06 tuổi và được tính theo năm (Tr 10, Luật Giáo dục) Giáo dục tiểu học được xác định

là bậc học nền tảng và vô cùng quan trọng quyết định đến quá trình phát triển toàn diện của người học

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những chỉ dẫn cụ thể về đặc điểm của các bậc học:

“Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công Cách dạy phải nhẹ nhàng, vui vẻ chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe của các cháu”

1.3.2 Vai trò, đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên Tiểu học

1.3.2.1 Vai trò, nhiệm vụ của giáo viên tiểu học

Giáo viên tiểu học là những người trực tiếp truyền đạt các kiến thức cơ bản nhất cho các học sinh Là người có vai trò quan trọng trong việc quyết định đến nền tảng kiến thức văn hoá và đạo đức cơ bản để học sinh phát triển toàn diện

Theo Điều 27, Điều lệ trường Tiểu học quy định [11]: GV có những nhiệm vụ sau: a) Thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và kế hoạch giáo dục của nhà trường Chủ động thực hiện và chịu trách nhiệm về kế hoạch giáo dục; tự chủ,

tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn (nội dung, phương pháp giáo dục, kiểm tra đánh giá học sinh) và chất lượng, hiệu quả giáo dục từng học sinh của lớp mình phụ trách, bảo đảm quy định của chương trình giáo dục, phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể của nhà trường

b) Tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn và nhà trường; thường xuyên cập nhật những chỉ đạo của ngành; chuẩn bị, tổ chức dạy học và đánh giá học sinh theo quy định; thực hiện các hoạt động chuyên môn khác

c) Xây dựng mối quan hệ thân thiện, dân chủ giữa giáo viên với học sinh, với cha

mẹ học sinh và cộng đồng; giúp học sinh chủ động, sáng tạo, tự tin, tự chủ trong học tập và rèn luyện

d) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; ứng xử văn hóa, đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; gương mẫu trước học sinh; thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng học sinh; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của học sinh

đ) Thực hiện tự đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên; tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp; thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng thường xuyên giáo viên theo quy định; trao đổi chia sẻ chuyên môn cùng đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường thông qua các đợt sinh hoạt chuyên môn, tập huấn

e) Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, học tập và sinh hoạt chuyên môn; sáng tạo, linh hoạt trong việc tự làm đồ dùng dạy học

Trang 32

g) Tham gia lựa chọn sách giáo khoa theo quy định; đề nghị nhà trường trang bị các xuất bản phẩm tham khảo, thiết bị dạy học theo quy định, phù hợp để sử dụng trong quá trình dạy học

h) Tham gia kiểm định chất lượng giáo dục

i) Tham gia thực hiện giáo dục bắt buộc, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ ở địa phương k) Phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, gia đình học sinh, cộng đồng và các tổ chức xã hội liên quan để thực hiện nhiệm vụ giáo dục

l) Quản lý, tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục tại điểm trường khi được hiệu trưởng phân công

m) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo sự phân công của hiệu trưởng

* Giáo viên làm công tác chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 của Điều này, còn có các nhiệm vụ sau đây:

a) Chủ động nắm bắt thông tin từng học sinh của lớp được phân công làm công tác chủ nhiệm; xây dựng các hoạt động giáo dục của lớp thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đảm bảo tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, với hoàn cảnh và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng học sinh

b) Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng và được hiệu trưởng phê duyệt

c) Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ, giáo viên, tổng phụ trách Đội, các tổ chức xã hội có liên quan để tổ chức các hoạt động giáo dục và hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện của học sinh lớp mình chủ nhiệm; tổng hợp nhận xét, đánh giá học sinh cuối kỳ I và cuối năm học; hướng dẫn học sinh bình bầu và đề nghị khen thưởng; lập danh sách học sinh đề nghị ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi học bạ cho học sinh

d) Báo cáo thường kì hoặc đột xuất về tình hình của lớp với hiệu trưởng

* Giáo viên làm Tổng phụ trách Đội chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh

1.3.2.2 Đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên tiểu học

Đặc điểm lao động sư phạm của nhà giáo là “Dạy học” Đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên tiểu học là dạy tiểu học Đối tượng lao động sư phạm của giáo viên tiểu học là học sinh tiểu học Sản phẩm của lao động sư phạm tiểu học kết quả giáo dục của học sinh Mục đích lao động của giáo viên là tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội Giáo viên tiểu học giữ vị trí quan trọng là xây dựng những cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người lao động làm chủ tương lai

Như vậy, trong lao động sư phạm, đối tượng lao động là con người, công cụ chủ

yếu là con người, sản phẩm cũng là con người Và dạy học là một nghề luôn tồn tại

Trang 33

mãi với quá trình phát triển của loài người Ngày nay, nghề dạy học được xem là một

“Nghề cao quý nhất” trong những nghề cao quý Vì sản phẩm lao động của nhà giáo là loại sản phẩm cao cấp bậc nhất, gắn với sự tồn vong, hưng thịnh của một quốc gia, dân tộc Trong một xã hội đang phát triển nhanh thì sản phẩm của giáo dục phải thường xuyên được phát triển về chất lượng mới đáp ứng được yêu cầu của xã hội Muốn được như vậy, đội ngũ giáo viên phải không ngừng được bồi dưỡng, đào tạo lại để nâng cao năng lực chuyên môn đáp ứng những yêu cầu về đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

1.3.3 Những yêu cầu cơ bản đối với phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục hiện nay

Đội ngũ giáo viên đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo Để phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục hiện nay, nhất là trong giai đoạn triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cần đảm bảo các yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên tiểu học:

1.3.3.1 Về số lượng:

Yêu cầu phải đảm bảo đủ giáo viên tiểu học để thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Điều lệ trường Tiểu học Theo quy định của Thông tư 16/TT/2017/TT-BGDĐT Hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập [5] quy định trường tiểu học dạy 02 buổi/ngày và trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học được bố trí 1,5 giáo viên/lớp Ngoài định mức trên, mỗi trường tiểu học còn được bố trí 01 giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, để đảm bảo điều kiện triển khai thực hiện CTGDPT 2018 theo Thông tư

số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 về Ban hành Chương trình giáo dục phổ thông [6] thì cần bổ sung giáo viên dạy môn Ngoại ngữ, Tin học và Công nghệ ở những trường chưa có hoặc chưa đủ giáo viên (vì theo CTGDPT 2018 thì các môn Ngoại ngữ, Tin học và Công nghệ là môn học bắt buộc từ lớp 3) Ngoài ra, cần tính toán bổ sung số lượng GV để giải quyết tình trạng thừa, thiếu giờ cho GV khi dạy học

2 buổi/ngày, giáo viên chủ nhiệm có thể sẽ thừa giờ; với các trường có ít lớp, giáo viên dạy môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học và Công nghệ có thể bị thiếu giờ; xu thế giảm sĩ

số học sinh/lớp nhằm nâng cao chất lượng dạy học/giáo dục có thể làm số lớp tăng, từ

đó số lượng giáo viên tăng

1.3.3.2 Về cơ cấu:

Việc cơ cấu giáo viên theo bộ môn, độ tuổi, thâm niên công tác, giới tính, thành phần dân tộc là nhằm bảo đảm yêu cầu phát triển ĐNGVTH trong giai đoạn hiện nay

- Cơ cấu theo vị trí việc làm (theo bộ môn): Cơ cấu giáo viên giảng dạy theo

môn là tổng thể tỷ lệ giáo viên của các môn học Chỉ khi tỷ lệ được đảm bảo theo định

Trang 34

mức quy định thì nhà trường mới có cơ cấu chuyên môn hợp lý Việc cơ cấu GVTH theo vị trí việc làm đối với các trường Tiểu học phải được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT Theo đó các trường học dạy học 2 buổi trên ngày được bố trí tỷ lệ GV là 1,5 GV/lớp, trường dạy học 1 buổi/ngày được bố trí 1,2 GV/lớp Ngoài ra, tuỳ theo số lớp của từng trường làm căn cứ để bố trí GV dạy môn Tin, Ngoại ngữ, Mĩ thuật, Âm nhạc, Thể dục theo số tiết quy định Số lượng các môn học, chương trình giáo dục được thực hiện theo Quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT đối với Lớp 2,3,4,5 và thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT đối với Lớp 1 Do vậy, cơ cấu giáo viên tiểu học phải dựa trên cơ cấu các môn học theo Chương trình quy định

Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành Ban hành theo Quyết định BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo gồm có các môn học: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Lịch sử & Địa Lý, Âm nhạc, Mỹ thuật, Thủ công, Kỹ thuật, Thể dục, Tự chọn, Giáo dục ngoài giờ lên lớp

16/2006/QĐ-Chương trình giáo dục phổ thông theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 chia thành hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (lớp 10 đến lớp 12) Giai đoạn giáo dục cơ bản (Cấp tiểu học) gồm có các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc: Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Ngoại ngữ 1 (lớp 3, lớp 4, lớp 5); Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2, lớp 3); Lịch sử và Địa lí (lớp 4, lớp 5); Khoa học (lớp 4, lớp 5); Tin học và Công nghệ (lớp

3, lớp 4, lớp 5); Giáo dục thể chất; Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật); Hoạt động trải nghiệm Các môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 1 (lớp 1, lớp 2) Như vậy, yêu cầu cơ cấu giáo viên tiểu học hiện nay được thực hiện theo Thông

tư số 16/TT/2017/TT-BGDĐT và Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: đối với trường tiểu học dạy 2 buổi/ngày phải đảm bảo tỷ lệ GV 1,5; trường Tiểu học dạy 01 buổi/ngày tỷ lệ GV tối đa là 1,2; phải đủ GV để dạy các môn học như Ngoại ngữ, Tin học & Công nghệ (Lớp 3 đến Lớp 5) Mĩ thuật, Thể dục đối với các khối lớp

- Cơ cấu hợp lý về độ tuổi: Việc phân tích giáo viên theo độ tuổi nhằm xác định

cơ cấu đội ngũ theo từng nhóm tuổi đảm bảo tính liên tục và kế thừa, là cơ sở để phân tích thực trạng, chiều hướng phát triển của nhà trường để làm cơ sở cho việc tuyển dụng, đào tạo và bổ sung, thay thế Đối với những trường tiểu học có độ tuổi trung bình của giáo viên cao cần bổ sung giáo viên trẻ, nhiệt tình để hài hòa và xây dựng lực lượng dự nguồn thay thế cho tương lai và ngược lại đối với những trường tiểu học có

độ tuổi trung bình của giáo viên thấp thì cần bố trí thay thế những GV lâu năm có kinh nghiệm, bề dày công tác để GV trao đổi, học hỏi nâng cao chất lượng giảng dạy lẫn nhau Quan tâm đến cơ cấu độ tuổi giúp nhà trường chuẩn bị đội ngũ kế cận, tránh rơi vào tình trạng thiếu hụt nhân sự chất lượng cao do các GV, NV, CBQL có kinh nghiệm, chuyên môn tốt đồng loạt đến tuổi nghỉ hưu

Trang 35

- Cơ cấu theo thâm niên công tác: Việc căn cứ vào số năm công tác của

ĐNGVTH để bố trí, sắp xếp cũng là yêu cầu cần thiết, bởi đội ngũ này là lực lượng có kinh nghiệm trong giảng dạy, kỹ năng nghề nghiệp cao làm người dẫn dắt cho đội ngũ

GV trẻ học tập Đặc biệt đối với những vùng khó khăn, đòi hỏi GV phải là người nắm bắt địa bàn, tập tục của người dân và tâm sinh lý của HS vùng DTTS để có biện pháp giáo dục phù hợp thì ĐNGVTH có thâm niên công tác là rất cần cho các nhà trường để giúp đỡ lực lượng trẻ, mới

- Cơ cấu theo giới tính: Cơ cấu ĐNGVTH theo giới tính nhằm hài hòa giữa các

trường tiểu học để giúp nhà trường phát triển Đối với trường tiểu học ở các vùng đặc biệt khó khăn, điểm trường xa cần phải bố trí tỷ lệ GV nam nhiều hơn nữ để có thể thực hiện được nhiệm vụ Việc phát triển đội ngũ GVTH theo chuẩn nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu CTGDPT 2018 cần đặc biệt chú ý đến cơ cấu đội ngũ Sự cân đối về mặt

cơ cấu đội ngũ sẽ đem đến những thuận lợi trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của nhà trường

- Cơ cấu theo thành phần dân tộc: Đối với các huyện miền núi cao có nhiều thành

phần dân tộc cùng sinh sống thì việc cơ cấu ĐNGVTH theo thành phần dân tộc là rất quan trọng ĐNGVTH thuộc hệ cử tuyển đa số là GV người dân tộc, lợi thế của lực lượng này

là nói song ngữ, có thể dùng hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ để giảng dạy VÌ vậy việc tính toán hợp lý GVTH người đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) về các địa phương họ sinh sống sẽ tạo động lực cho GV làm việc và nâng cao chất lượng giảng dạy Ngoài ra sẽ góp phần thực hiện tốt chính sách dân tộc theo quy định của Đảng và Nhà nước, tạo nguồn lực cho địa phương

1.3.3.3 Về chất lượng:

Chất lượng đội ngũ giáo viên được thể hiện ở các mặt: Trình độ đào tạo; phẩm chất và năng lực công tác; Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; Chất lượng GVTH còn được thể hiện qua kết quả đánh giá chuẩn nghề nghiệp GV theo quy định

- Về trình độ đào tạo: Trình độ đào tạo của nhà giáo được quy định tại điểm b,

khoản 1, Điều 72 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc hội Theo

đó, trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên tiểu học là có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên (ĐH)

Do Luật Giáo dục mới được ban hành năm 2019 nên việc tuyển dụng GVTH hiện nay phải được triển khai áp dụng đối với GV mới tuyển; Riêng những GVTH được tuyển dụng trước khi Luật Giáo dục 2019 có hiệu lực thi hành nếu chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo thì thực hiện theo lộ trình Nghị định số 71/2020/NĐ-CP ngày 30/6/2020 của Chính phủ “Quy định lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở” Theo khoản 2, Điều 2 Nghị định 71 “Đối tượng thực hiện nâng chuẩn trình độ được đào tạo”: giáo viên tiểu học chưa có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên tiểu học hoặc chưa có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm trở lên,

Trang 36

tính từ ngày 01/7/2020 còn đủ 8 năm công tác (96 tháng) đối với giáo viên có trình độ trung cấp, còn đủ 7 năm (84 tháng) đối với giáo viên có trình độ cao đẳng đến tuổi được nghỉ hưu theo quy định

- Về năng lực công tác: Yếu tố quyết định cho mục tiêu phát triển toàn diện

phẩm chất, năng lực của học sinh chính là phẩm chất và năng lực của đội ngũ GVTH ở các trường tiểu học Việc thực hiện CTGDPT 2018 đặt ra những yêu cầu mới về năng lực sư phạm và nghiệp vụ đối với ĐNGV Do vậy, để nâng cao chất lượng đội ngũ đội ngũ GVTH, ngoài việc bồi dưỡng thường xuyên về phẩm chất, năng lực để đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên và các qui định hiện hành, đội ngũ GVTH cần được bồi dưỡng những năng lực cần thiết để thực hiện chương trình GDPT 2018 cấp tiểu học, những năng lực cần được bồi dưỡng bao gồm:

+ Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh tiểu học

+ Năng lực sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh tiểu học

+ Năng lực kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực

+ Năng lực tư vấn và hỗ trợ học sinh tiểu học trong hoạt động giáo dục và dạy học

+ Năng lực xây dựng văn hóa nhà trường tiểu học

+ Năng lực thực hiện và xây dựng trường học an toàn, phòng chống bạo lực học đường ở trường tiểu học

+ Năng lực phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thực hiện giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học

+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học và giáo dục học sinh tiểu học

- Về phẩm chất đạo đức nhà giáo: theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 Ban hành quy định về đạo đức nhà giáo, thì nhà giáo phải đảm bảo có các phẩm chất sau:

+ Phẩm chất chính trị: (i) Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận chính trị để vận dụng vào hoạt động giảng dạy, giáo dục và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao (ii)

Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ chức; có

ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung (iii) Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội

+ Đạo đức nghề nghiệp: (i) Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh

dự, lương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hoà nhã với người học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính

Trang 37

đáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng (ii) Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị, nhà trường, của ngành (iii) Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của người học; thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí (iiii) Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục

+ Lối sống, tác phong: (i) Sống có lý tưởng, có mục đích, có ý chí vượt khó vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (ii)

Có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp với bản sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ của xã hội; biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ và phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ (iii) Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, khoa học; có thái độ văn minh, lịch sự trong quan hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học; giải quyết công việc khách quan, tận tình, chu đáo (iiii) Trang phục, trang sức khi thực hiện nhiệm vụ phải giản dị, gọn gàng, lịch sự, phù hợp với nghề dạy học, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người học (iiiii) Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ; đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp Quan hệ, ứng xử đúng mực, gần gũi với nhân dân, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp

và người học; kiên quyết đấu tranh với các hành vi trái pháp luật (iiiiii) Xây dựng gia đình văn hoá, thương yêu, quý trọng lẫn nhau; biết quan tâm đến những người xung quanh; thực hiện nếp sống văn hoá nơi công cộng

+ Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo: (i) Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế, quy định; không gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân (ii) Không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục (iii) Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến người học; không tiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp (iv) Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người học, đồng nghiệp, người khác Không làm ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt của đồng nghiệp và người khác (v) Không tổ chức dạy thêm, học thêm trái với quy định (vi) Không hút thuốc lá, uống rượu, bia trong công sở, trong trường học

và nơi không được phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường (vii) Không sử dụng điện thoại di động và làm việc riêng trong các cuộc họp, trong khi lên lớp, học tập, coi thi, chấm thi (viii) Không gây

bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể và trong sinh hoạt tại cộng đồng (ix) Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biến những nội dung trái với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước (x) Không trốn tránh trách

Trang 38

nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc; không đi muộn về sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dồn ép chương trình, vi phạm quy chế chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỷ cương, nề nếp của nhà trường (xi) Không tổ chức, tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội như: cờ bạc, mại dâm, ma tuý, mê tín, dị đoan; không sử dụng, lưu giữ, truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy, độc hại

- Về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của GV: Kết quả thực

hiện nhiệm vụ được giao của GVTH được đánh giá công bằng, dân chủ, khách quan tại các kỳ xếp loại cuối năm theo Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức

- Kết quả đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp: Đánh giá GV theo

chuẩn nghề nghiệp GVTH được thực hiện theo Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT ngày

22/8/2018 của Bộ GD&ĐT về Ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở

giáo dục phổ thông Đánh giá giáo viên theo chuẩn là việc xác định mức độ đạt được

về phẩm chất, năng lực của giáo viên theo quy định của chuẩn nghề nghiệp giáo viên Đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên nhằm:

+ Xác định chính xác, khách quan mức độ năng lực nghề nghiệp của giáo viên

ở thời điểm đánh giá theo các tiêu chí trong Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trên cơ sở

đó đưa ra những khuyến nghị cho giáo viên và các cấp quản lý giáo dục trong việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng (xây dựng chương trình, lập kế hoạch, quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, v.v ) nâng cao năng lực cho giáo viên;

+ Trên cơ sở xác định mức độ năng lực nghề nghiệp giáo viên, tiến hành xếp loại giáo viên;

+ Cung cấp thông tin cho việc xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục

Đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên là một quá trình thu thập các minh chứng thích hợp và đầy đủ nhằm xác định mức độ năng lực nghề nghiệp của giáo viên Ở trường tiểu học, quy trình đánh giá, tính điểm và xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên được tiến hành theo các bước cụ thể như sau:

+ Bước 1: Giáo viên tự đánh giá;

+ Bước 2: Nhà trường tổ chức lấy ý kiến đồng nghiệp trong khối chuyên môn đối với giáo viên được đánh giá;

+ Bước 3: Hiệu trưởng thực hiện đánh giá và thông báo kết quả đánh giá

Giáo viên tự đánh giá theo chu kỳ một năm một lần vào cuối năm Hiệu trưởng trường TH tổ chức đánh giá giáo viên theo chu kỳ hai năm một lần vào cuối năm học Nội dung đánh giá chuẩn nghề nghiệp GV có 5 tiêu chuẩn và 15 tiêu chí với các mức xếp loại là Tốt, Khá, Đạt và Chưa đạt để GVTH tự đánh giá, gồm:

+ Tiêu chuẩn 1 Phẩm chất nhà giáo

+ Tiêu chuẩn 2 Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ

+ Tiêu chuẩn 3 Xây dựng môi trường giáo dục

Trang 39

+ Tiêu chuẩn 4 Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

+ Tiêu chuẩn 5 Sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc, ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục

1.3.4 Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học theo hướng tiếp cận phát triển nguồn nhân lực

1.3.4.1 Các quan điểm phát triển nguồn nhân lực

Quan điểm xem “con người là nguồn vốn - vốn nhân lực” cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo

sự phát triển của mỗi cá nhân (Bùi Thị Thanh, 2005)

Quan điểm của các nhà nghiên cứu của UNDP cho rằng: Phát triển NNL chịu sự tác động của năm nhân tố: giáo dục - đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người Trong quá trình tác động đến sự phát triển NNL, những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó, giáo dục và đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là những nhân tố thiết yếu, nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững NNL Nền sản xuất càng phát triển, thì phần đóng góp của trí tuệ thông qua giáo dục và đào tạo ngày càng chiếm tỷ trọng lớn

so với đóng góp của các yếu tố khác trong cơ cấu giá trị sản phẩm của lao động (Bùi Thị Thanh, 2005)

Quan điểm sử dụng năng lực con người của ILO cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”

Quan điểm của Nguyễn Minh Đường: Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn, để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, làm giàu cho đất nước, góp phần cải tạo xã hội, cũng như phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân loại Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển (Trần Khánh Đức, 2002)

Ở góc độ vi mô, có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là quá trình thực hiện tổng thể các chính sách và biện pháp thu hút, duy trì và đào tạo nguồn nhân lực nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên cả

ba phương diện thể lực, trí lực, tâm lực; điều chỉnh hợp lý quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực một cách bền vững và hiệu quả (Nguyễn Thế Phong, 2010)

Ngày nay, phát triển NNL được hiểu với nội hàm rộng hơn bao gồm cả 3 mặt: phát triển sinh thể; phát triển nhân cách và việc tạo lập môi trường thuận lợi cho NNL phát triển Hiểu một cách tổng quát, phát triển NNL về cơ bản là làm gia tăng giá trị

Trang 40

cho con người trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm lý, thể lực, làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực, phẩm chất mới và cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển của tổ chức, của sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và nhân loại

1.3.4.2 Mô hình lí thuyết phát triển nguồn nhân lực

Phát triển NNL được các nhà khoa học chỉ ra từ rất sớm, một trong những người

đi đầu tiếp cận là Welshman, Robert Owen (1771) - Ông cho rằng: nếu đầu tư vào NNL, kết quả lâu dài sẽ nhiều hơn là đầu tư vào máy móc Những nghiên cứu tiên tiến gần đây được đa số các nhà khoa học công nhận có thể kể đến là mô hình lý thuyết phát triển NNL của Richard Noonan và Mô hình lý thuyết quản trị NNL của Leonard Nadle

* Mô hình lí thuyết phát triển nguồn nhân lực của Richard Noonan:

Trong các công trình “Phát triển nguồn nhân lực: phạm trù, chính sách và thực tiễn” và “Quản lý giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động”, Richard Noonan đưa ra lý thuyết phát triển nguồn nhân lực Theo ông, phát triển NNL là: Phát triển thể lực; phát triển trí lực và phát triển ý chí Trong đó, phát triển thể lực bao gồm: sức khỏe, dinh dưỡng, dân số, nước và vệ sinh môi trường, an toàn xã hội; phát triển trí lực bao gồm: giáo dục và đào tạo; và phát triển ý chí bao gồm: quyền con người, giới tính, phát triển cộng đồng, quyền tự do

Tóm lại, theo quan điểm của Richard Noonan nội hàm của lý thuyết phát triển

nguồn nhân lực gồm 3 thành tố: (i) Phát triển thể lực; (ii) Phát triển trí lực; (iii) Phát triển ý chí và được mô hình hóa ở Hình 1.1 dưới đây:

Hình 1.1 Mô hình lý thuyết PTNNL của Richard Noonan

Mô hình lý thuyết phát triển nguồn nhân lực của Richard Noonan đã đưa ra 3 thành tố cơ bản để PTNNL mà chưa đề cập đến phát triển đội ngũ nhân lực như quy

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

PHÁT TRIỂN THẾ LỰC

Giáo dục và đào tạo

PHÁT TRIỂN

Ý CHÍ

quyền con người, giới tính, phát triển cộng đồng, quyền tự do

Ngày đăng: 22/06/2022, 22:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. [1] Đặng Quốc Bảo (2001), Một số khái niệm về quản lý giáo dục - Trường QLCB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
Tác giả: [1] Đặng Quốc Bảo
Năm: 2001
18. phương 5 năm và hàng năm theo phương pháp mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương 5 năm và hàng năm theo phương pháp mới
24. Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm 25. non, cơ sở giáo dục phổ thông và giáo viên giáo dục thường xuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm "25
26. [11] Bộ GD&ĐT (2020), Thông tư số 28/2020/TT-BGDĐT về ban hành Điều lệ 27. trường Tiểu học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 28/2020/TT-BGDĐT về ban hành Điều lệ "27
Tác giả: [11] Bộ GD&ĐT
Năm: 2020
33. [13] Trần Hữu Cát - Đoàn Minh Duệ (2008), Đại cương khoa học quản lí, Nxb Nghệ34. An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lí
Tác giả: [13] Trần Hữu Cát - Đoàn Minh Duệ
Nhà XB: Nxb Nghệ 34. An
Năm: 2008
45. [20] Chính phủ, (2020), Nghị định số 71/2020/NĐ-CP về thực hiện lộ trình nâng 46. trình độ chuẩn được đào tạo cho giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 71/2020/NĐ-CP về thực hiện lộ trình nâng "46
Tác giả: [20] Chính phủ
Năm: 2020
48. Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia"
50. Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
52. Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
56. tỉnh vùng Tây Bắc, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: tỉnh vùng Tây Bắc
58. kiện mới, chương trình khoa học cấp nhà nước, Đề tài KX-07-14, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kiện mới
60. trường phổ thông hướng tới phát triển năng lực học sinh, NXB Thông tin và Truyền 61. thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: trường phổ thông hướng tới phát triển năng lực học sinh
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền 61. thông
62. [28] Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo (2011), Quản lí giáo dục, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí giáo dục
Tác giả: [28] Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2011
63. [29] Harrold Koontz (1998), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học và Kỹ64. thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: [29] Harrold Koontz
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ 64. thuật
Năm: 1998
66. lực”, số 110, Tạp chí Khoa học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: lực”
71. Quảng Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo tỉnh Quảng Nam đến 72. năm 2020 và định hướng đến năm 2025 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo tỉnh Quảng Nam đến "72
75. [34] Đặng Bá Lãm (2005), Quản lý nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn, NXB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn
Tác giả: [34] Đặng Bá Lãm
Năm: 2005
78. [36] Bùi Việt Phú - Lê Quang Sơn (2019), Xu thế phát triển giáo dục, NXB Giáo dục79. Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế phát triển giáo dục
Tác giả: [36] Bùi Việt Phú - Lê Quang Sơn
Nhà XB: NXB Giáo dục 79. Việt Nam
Năm: 2019
80. [37] Bùi Việt Phú (2017), Tư tưởng giáo dục qua các thời kỳ lịch sử, NXB Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng giáo dục qua các thời kỳ lịch sử
Tác giả: [37] Bùi Việt Phú
Nhà XB: NXB Thông tin
Năm: 2017
86. nhìn tiếp cận giá trị, số 298, kì 2 - 11/2012, Tạp chí khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: nhìn tiếp cận giá trị

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

bảng Tên bảng Trang - Trang 1
b ảng Tên bảng Trang (Trang 10)
DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu - Trang 1
hi ệu (Trang 10)
bảng Tên bảng Trang - Trang 1
b ảng Tên bảng Trang (Trang 11)
1.1. Mô hình lý thuyết PTNNL của Richard Noonan 28 - Trang 1
1.1. Mô hình lý thuyết PTNNL của Richard Noonan 28 (Trang 12)
1.3.4.2. Mô hình lí thuyết phát triển nguồn nhân lực - Trang 1
1.3.4.2. Mô hình lí thuyết phát triển nguồn nhân lực (Trang 40)
* Mô hình lí thuyết quản trị nguồn nhân lực của Leonard Nadle: - Trang 1
h ình lí thuyết quản trị nguồn nhân lực của Leonard Nadle: (Trang 41)
khung lý luận phát triển ĐNGVTH là rất cần thiết. Đề tài vận dụng mô hình lý thuyết quản trị nguồn nhân lực của Leonard Nadle để xây dựng lý luận phát triển ĐNGVTH - Trang 1
khung lý luận phát triển ĐNGVTH là rất cần thiết. Đề tài vận dụng mô hình lý thuyết quản trị nguồn nhân lực của Leonard Nadle để xây dựng lý luận phát triển ĐNGVTH (Trang 42)
Bảng 2.1. Số lượng Cán bộ quản lý và GVTH được khảo sát  (Thời điểm tháng 01/2021): - Trang 1
Bảng 2.1. Số lượng Cán bộ quản lý và GVTH được khảo sát (Thời điểm tháng 01/2021): (Trang 51)
Bảng 2.3. Thống kê trường, lớp, học sinh các trường học thuộc Phòng GD&ĐT huyện Bắc Trà My từ năm học 2016-2017 đến năm học 2020-2021 - Trang 1
Bảng 2.3. Thống kê trường, lớp, học sinh các trường học thuộc Phòng GD&ĐT huyện Bắc Trà My từ năm học 2016-2017 đến năm học 2020-2021 (Trang 55)
Bảng 2.4. Thống kê trình độ đào tạo đội ngũ CBQL, giáo viên (Thời điểm tháng 01/2021) - Trang 1
Bảng 2.4. Thống kê trình độ đào tạo đội ngũ CBQL, giáo viên (Thời điểm tháng 01/2021) (Trang 55)
Bảng 2.5. Hệ thống trường, lớp, học sinh tiểu học (Thời điểm tháng 01/2021) - Trang 1
Bảng 2.5. Hệ thống trường, lớp, học sinh tiểu học (Thời điểm tháng 01/2021) (Trang 57)
Bảng 2.7. Bảng phân tích vị trí việc làm (bộ môn) của ĐNGVTH năm học 2020-2021 (Thời điểm tháng 01/2021) - Trang 1
Bảng 2.7. Bảng phân tích vị trí việc làm (bộ môn) của ĐNGVTH năm học 2020-2021 (Thời điểm tháng 01/2021) (Trang 59)
Bảng 2.10. Phân tích theo giới tính ĐNGVTH (Thời điểm tháng 01/2021) - Trang 1
Bảng 2.10. Phân tích theo giới tính ĐNGVTH (Thời điểm tháng 01/2021) (Trang 62)
Bảng 2.11. Phân tích thành phần dân tộc ĐNGVTH (Thời điểm tháng 01/2021) - Trang 1
Bảng 2.11. Phân tích thành phần dân tộc ĐNGVTH (Thời điểm tháng 01/2021) (Trang 63)
Từ bảng 2.11, khi phân tích ĐNGVTH theo thành phần dân tộc cho thấy tỷ lệ GVTH người DTTS toàn ngành chiếm 15,38% nên việc cơ cấu theo thành phần dân  tộc gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc bố trí lực lượng tại chỗ để tăng hiệu quả giáo  dục và xây dựng - Trang 1
b ảng 2.11, khi phân tích ĐNGVTH theo thành phần dân tộc cho thấy tỷ lệ GVTH người DTTS toàn ngành chiếm 15,38% nên việc cơ cấu theo thành phần dân tộc gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc bố trí lực lượng tại chỗ để tăng hiệu quả giáo dục và xây dựng (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w