ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ HỌC PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN (Học kỳ I, Năm học 2021 2022) ĐỀ TÀI Trình bày những hiểu biết của anh chị về vấn đề suy thoái đa dạng sinh học toàn cầu (khái niệm, nguyên nhân và hậu quả của suy thoái đa dạng sinh học) Anhchị hãy phân tích những tác động môi trường từ các hoạt động du lịch Anh chị hãy cho ví dụ minh họa cụ thể cho mỗi tác động Theo anh chị, cần có những giải pháp gì để hạn chế c.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
(Học kỳ I, Năm học 2021-2022)
ĐỀ TÀI:
- Trình bày những hiểu biết của anh/ chị về vấn đề suy thoái đa dạng sinh học toàn
cầu (khái niệm, nguyên nhân và hậu quả của suy thoái đa dạng sinh học).
- Anh/chị hãy phân tích những tác động môi trường từ các hoạt động du lịch Anh chị hãy cho ví dụ minh họa cụ thể cho mỗi tác động Theo anh chị, cần có những giải pháp gì để hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch.
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Phương Dung
Lớp HP: 2110DAI00609 - Mã HP: DAI006
Sinh viên thực hiện: Lê Mỹ Huyền
Khoa: Đông Phương học - MSSV: 2056110007 - SĐT: 0363500501
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 01 năm 2022
- -MỤC LỤC Phần I: 1 Khái niệm: ……… 2
2 Nguyên nhân: ……… 2
2.1 Nguyên nhân trực tiếp:……… 2
2.2 Nguyên nhân sâu xa:………5
3 Hậu quả:……… 6
3.1 Đối với con người:……… 6
3.2 Đối với động thực vật:……… … 7
3.3 Đối với toàn cầu:……… 7
Phần II: 1 Các tác động môi trường từ các hoạt động du lịch……… 7
1.1 Tác động tích cực:……… .8
1.2 Tác động tiêu cực:……… 7
2 Các biện pháp hạn chế tác động tiêu cực:……… 8
2.1 Biện pháp từ phía Nhà nước:……….… 9
2.2 Biện pháp từ phía ngành du lịch:……….10
Trang 3
NỘI DUNG CHÍNH
Phần I:
1 Khái niệm:
Suy thoái đa dạng sinh học là sự suy giảm về số lượng cả chất lượng của các loài sinh vật, gây mất cân bằng hệ sinh thái, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người và thiên nhiên
2 Nguyên nhân:
Có hai nguyên nhân cơ bản gây ra sự suy thoái đa dạng sinh học: Nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa
2.1 Nguyên nhân trực tiếp:
Chiến tranh:
Chiến tranh không những là nguyên nhân trực tiếp mà còn là nguyên nhân sâu xa
gây suy thoái đa dạng sinh học Trong giai đoạn 1945 đến 1990 nước ta đã trải qua hai cuộc chiến tranh và 2 cuộc xung đột biên giới hết sức khốc liệt Chỉ trong giai đoạn từ
1961 đến 1975, 13 triệu tấn bom và 72 triệu lít chất độc hóa học do Mỹ rải xuống chủ yếu ở miền Nam Việt Nam đã hủy diệt hàng triệu ha rừng (WB, 1995).Chiến tranh đã gây biến động lớn về phân bố dân cư giữa các vùng, đồng thời một diện tích lớn đất rừng đã bị khai phá để trồng cây lương thực bảo đảm hậu cần tại chỗ cho quân và dân Không những thế các loài động vật hoang dã còn bị đe doạ bởi các loại vũ khí do chiến tranh để lại sau đó
Trang 4
( Hình ảnh thảm họa chất độc hóa học tàn phá cây rừng, sinh vật,…)
Mở rộng đất làm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
Hiện tượng lấn chiếm đất để sản xuất và nuôi trồng thuỷ hải sản thường xảy ra đối với người nghèo và các hộ di cư tự do Các khu rừng ngập mặn tại các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang và nhiều tỉnh ven biển khác cũng là đối tượng khai phá làm đầm nuôi tôm của người dân địa phương, tuy nhiên, có không ít khu vực đầm nuôi đã bị hoang hóa
do phương thức nuôi trồng không bền vững
Khai thác trái phép tài nguyên rạn san hô:
Rạn san hô ở Việt Nam nói chung đang ở trong tình trạng xấu và có nhiều bằng chứng cho thấy đây là những khu vực bị đe doạ cực kỳ nghiêm trọng Một số rạn san
hô bị phá hủy, chủ yếu là do sử dụng các phương pháp đánh bắt cá mang tính hủy diệt
Khai thác gỗ
Trong giai đoạn từ năm 1986 - 1991, bình quân khai thác 3,5 triệu m3 gỗ/năm; giai đoạn 1992 - 1996 khoảng 1,5 triệu m3 gỗ/năm; Từ năm 1997 tới nay khoảng 0,35 triệu m3 gỗ/năm được khai thác theo kế hoạch từ rừng tự nhiên ở Việt Nam Nạn khai thác
gỗ trộm xảy ra ở nhiều nơi, kể cả trong các khu rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn càng làm cho tài nguyên rừng bị cạn kiệt nhanh chóng Nguyên nhân chính dẫn tới việc khai thác gỗ trái phép xảy ra nghiêm trọng và khó kiểm soát vì nhu cầu dùng gỗ trong nước và việc xuất khẩu ngày càng tăng trong khi trữ lượng gỗ ngày càng giảm
(Ghi chú: Biểu đồ diện tích rừng
bị chặt phá tại Việt Nam đơn vị ha
từ năm 1995 đến 2009).
Trang 5Khai thác củi làm nhiên liệu:
Khai thác củi làm nhiên liệu có quy mô lớn và khó kiểm soát, đây cũng là mối đe dọa rất lớn đối với đa dạng sinh học Nhu cầu năng lượng từ củi chiếm tới 75% tổng nhu cầu năng lượng của đất nước, ước tính hàng năm có 22 - 23 triệu tấn nhiên liệu được khai thác từ rừng tự nhiên (RWEDP - Nghiên cứu tổng quan về nhiên liệu gỗ củi) Bên cạnh đó còn có nạn đốt than Khai thác củi và đốt than để bán còn là nghề kiếm sống khó thay thế của nhiều người ở vùng núi
Khai thác, buôn bán lâm sản (kể cả động vật):
Rừng Việt Nam có khoảng 2.300 loài thực vật thuộc nhóm lâm sản ngoài gỗ như song, mây, lá nón, tre, nứa, và cây thuốc (khoảng 1000 loài) nhiều loài khác được khai thác để làm vật liệu xây dựng, hàng thủ công mỹ nghệ, làm thuốc và xuất khẩu Đặc biệt khu hệ động vật hoang dã có khoảng 70 loài thuộc các lớp chim, thú, bò sát bị khai thác thường xuyên để sử dụng cho các mục đích khác nhau Các hoạt động này đã gây ra nguy cơ tuyệt chủng nhiều loài như Bò xám, Hổ, Tê giác, Voọc mũi hếch, Voọc đầu trắng, Sâm ngọc linh, Lan hài đỏ, Hài Việt nam,…
Xây dựng cơ sở hạ tầng
Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng nói trên thiếu qui hoạch và thiếu cơ sở khoa học
có ảnh hưởng mạnh đối với đa dạng sinh học Chẳng hạn như việc xây dựng các tuyến đường giao thông xuyên qua các vùng rừng rộng lớn, các tuyến đường bộ đi , ít nhiều
đã làm mất đi tính liên tục của vùng phân bố các loài, gây nhiễu loạn và làm suy thoái môi trường tự nhiên, chỉ tính riêng các hồ chứa nước được xây dựng hàng năm đã làm mất đi khoảng hàng ngàn ha rừng
Đánh bắt cá
Tại nhiều nơi vẫn còn tình trạng đánh bắt cá mang tính hủy diệt như dùng mìn, chất
nổ, điện, thậm chí cả chất độc (Xyanua) Trai ngọc đã biến mất khỏi nhiều vùng biển phía Bắc Việc khai thác các loài trên vẫn tiếp tục, mặc dù loài cá trích 5 đốm, bốn loài tôm hùm và hai loài bào ngư đã được liệt kê trong nhóm (hạng) dễ tổn thương
Trang 6Các giống loài động vật, thực vật nhập nội
Trong cơ cấu cây trồng, ở nhiều nơi số giống mới đã chiếm tới 70-80% và cho năng suất cao Tuy nhiên, việc nhập nội nhiều giống mới một cách tràn lan, thiếu kiểm soát
là nguy cơ tiềm tàng làm cho các giống bản địa bị mai một, như nhiều giống lúa cổ truyền của Việt Nam đã biến mất như ốc bươu vàng, trinh nữ đầm lầy, đã phát triển thành dịch, gây hại nghiêm trọng Những loài nhập nội như Bạch đàn có thể có một số thuận lợi như dễ trồng, tăng trưởng nhanh, cho trữ lượng gỗ thu hoạch khá Nhưng chúng hầu như không hỗ trợ gì cho đa dạng sinh học và các loài hoang dã
Cháy rừng
Cháy rừng là mối đe dọa nghiêm trọng đối với đa dạng sinh học ở nước ta có khoảng 6 triệu ha (chiếm 56%) diện tích rừng dễ bị cháy.Trung bình hàng năm (từ năm
1992 đến năm 2002) có khoảng 6.000 ha rừng bị cháy trong phạm vi toàn quốc Các vùng rừng bị cháy nhiều nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, và Tây Bắc
Ô nhiễm môi trường:
Các hoạt động của con người như phát triển công nghiệp và đô thị, phát triển nông thôn ,làng nghề, phát thải từ các phương tiện giao thông và việc sử dụng các loại hóa chất trong nông nghiệp,v.v đã gây ra ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất và trở thành nguyên nhân trực tiếp gây suy thoái đa dạng sinh học
Tập quán du canh:
Du canh là tập quán sản xuất nông nghiệp lạc hậu Trong số 54 dân tộc ở nước ta có tới 50 dân tộc thiểu số với khoảng 9 triệu dân có tập quán du canh
Trang 72.1 Nguyên nhân sâu xa
Gia tăng dân số và di cư
Những thách thức về dân số của nước ta rất nghiêm trọng đối với các vấn đề về tài nguyên, môi trường và đa dạng sinh học Trung bình trong 10 năm qua (1989 - 1999)
tỷ lệ tăng trưởng dân số là 1,7% năm Tăng dân số vẫn ở mức cao trong khi tài nguyên đất, tài nguyên nước và các dạng tài nguyên khác đang có xu thế suy giảm
Bên cạnh các đợt di dân theo kế hoạch, đã có nhiều đợt di dân tự do từ các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ vào các tỉnh phía Nam, nhất là vào các tỉnh cực nam Trung Bộ
và Tây Nguyên đã gây ảnh hưởng rõ rệt đến đến đa dạng sinh học ở các vùng này, kể
cả các khu bảo tồn tại đó
Sự nghèo đói
Việt Nam được xếp loại là một trong những nước nghèo trên thế giới với gần 80% dân số sống ở nông thôn Mối quan hệ giữa xóa đói giảm nghèo với bảo vệ môi trường
và phát triển kinh tế xã hội là mối quan hệ nhân quả Vì vậy xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu của phát triển, là điều kiện để bảo vệ môi trường
Chính sách kinh tế
Chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô có ảnh hưởng sâu sắc ở quy mô lớn đến ĐDSH, đến diễn biến tài nguyên và chất lượng môi trường Cùng với những chính sách phát triển kinh tế trong cơ chế thị trường, thì những tác động của nó gây nên suy thoái đa dạng sinh học là không thể tránh khỏi Hiệu lực thi hành pháp luật về môi trường về phương diện quản lý Nhà nước, lực lượng kiểm lâm chưa đủ mạnh, chính sách đãi ngộ còn hạn chế, trang bị kỹ thuật yếu
3 Hậu quả:
3.1 Đối với con người:
Do suy giảm đa dạng sinh học, sự tồn vong của con người đang bị đe dọa bởi sự suy giảm hoặc biến mất của nhiều loài động, thực vật Điều này gây nguy hiểm cho sức
Trang 8khỏe, hạnh phúc của chúng ta, vì nhiều dược chất có nguồn gốc tự nhiên, cả động vật
và thực vật Với sự mất đa dạng sinh học, các loài thực vật không rõ nguồn gốc bị loại
bỏ, ngăn ngừa các phương pháp chữa trị các bệnh khác nhau mà ngày nay chúng ta không thể chữa khỏi
3.2 Đối với động, thực vật:
Các loài khác nhau tạo thành các mắt xích nhất định trong chuỗi thức ăn hoạt động cân bằng Nếu sự cân bằng đó bị phá vỡ vì thiếu các loài, các loài còn lại cũng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực
Mặt khác, cũng có sự mất cân bằng trong các chuỗi dinh dưỡng gây ra sự xuất hiện của các loài gây hại khác nhau Điều này xảy ra khi động vật ăn thịt của một loài nào
đó giảm hoặc biến mất và loài săn mồi có thể phát triển mà không có bất kỳ sự kiểm soát nào Những loài gây hại này có thể gây ra sự phá hủy các diện tích cây trồng lớn
và hậu quả của những loài gây hại này có thể rất nghiêm trọng
3.3 Đối với toàn cầu:
Đất cũng như nước và không khí cũng phụ thuộc vào sự đa dạng sinh học của hành tinh Thảm thực vật đóng một vai trò cơ bản trong các yếu tố này của khí hậu Nhờ đó, CO2 có thể được hấp thụ và một phần nhiệt lượng do khí nhà kính giữ lại có thể được loại bỏ Nếu thiếu đa dạng sinh học sẽ gây nóng lên toàn cầu; lũ lụt, thiên tai do thiếu rừng che chắn;…
Phần II:
Du lịch là một phần không thể thiếu với các quốc gia dù mang lại những lợi ích về kinh tế, văn hóa, chính trị… và được mệnh danh là “ ngành công nghiệp không khói”, tuy nhiên với sự phát triển quá “nóng”,du lịch đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường là một thực tế và thách thức không nhỏ đối với các khu du lịch lớn ở các nước trong những năm qua
1 Các tác động môi trường từ các hoạt động du lịch
1.1 Tác động tích cực:
Trang 9Du lịch có nhiều lợi ích đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia, nó góp phần tăng GDP cho nền kinh tế quốc dân Ở nhiều nước trên thế giới, du lịch từ lâu đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm từ 40% đến 60% tỷ trọng nền kinh tế quốc dân, đồng thời giải quyết các nhu cầu việc làm, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ
(Biểu đồ tốc độ tăng trưởng khách du lịch nội địa, giai đoạn 1990-2019( nghìn lượt))
Đối với môi trường, du lịch giúp bảo tồn thiên nhiên: du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các khu bảo tồn, vườn quốc gia, các điểm văn hóa…; Tăng cường chất lượng môi trường,
du lịch có thể cung cấp những sáng kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, rác …; Du lịch còn đề cao môi trường: việc phát triển các cơ sở du lịch được thiết kế tốt có thể đề cao các giá trị cảnh quan
Ngoài ra, du lịch còn giúp cải thiện hạ tầng cơ sở: các cơ sở hạ tầng của địa phương như sân bay, đường sá, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc có thể được cải thiện thông qua hoạt động du lịch; và tăng cường hiểu biết các giá trị văn hóa, truyền thống ,di sản về môi trường của cộng đồng địa phương,…
1.2 Tác động tiêu cực:
Ảnh hưởng đến nhu cầu và chất lượng nước: du lịch là ngành công nghiệp tiêu thụ nước nhiều (một khách du lịch tiêu thụ đến 200 lít nước/ngày)
Trang 10Ảnh hưởng đến văn hóa xã hội của cộng đồng: các hoạt động du lịch sẽ làm xáo trộn cuộc sống cộng đồng địa phương, có thể có những tác động chống lại các hoạt động truyền thống trong việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học
Làm giảm tính đa dạng sinh học và ảnh hưởng đến tài nguyên: Do hoạt động du lịch làm xáo trộn nơi ở các loài động vật, cùng với các hoạt động giải trí như săn bắn, buôn bán động vật làm suy thoái Ngoài ra các hoạt động bơi lội, ô nhiễm nước làm các rạn san hô chết dần; các năng lượng sử dụng nhiều cũng ảnh hưởng đến khí quyển Gây ô nhiễm không khí, tiếng ồn, năng lượng, cảnh quan: Tuy được coi là ngành
"công nghiệp không khói", nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy và tàu thuyền;…Ngoài ra các khu du lịch đã sử dụng quá đà các nguồn năng lượng, các tiếng ồn từ giao thông và du khách, rác thải, nước thải không được xử lý kĩ càng thải ra môi trường gây ảnh hưởng, và các công trình khách sạn, khu
du lịch xây dựng tràn lan, thô kệch gây mất mỹ quan
(Rác thải trực tiếp ra biển ) ( Xây dựng các khu nghỉ dưỡng tràn lan)
2 Các biện pháp hạn chế tác động tiêu cực:
2.1 Biện pháp từ phía Nhà nước:
Cần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường du lịch và nâng cao nhận thức về môi trường cho đội ngũ cán bộ hoạt động trong ngành du lịch, du khách; xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trên cơ sở có sự gắn kết giữa các trung tâm
du lịch lớn trong nước, trong khu vực và thế giới Xây dựng các tuyến giao thông theo quy hoạch tổng thể, xây dựng kết cấu hạ tầng đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ở các khu sân bay, bến cảng,…và những khu du lịch trọng điểm sao cho gắn kết phát triển du lịch với bảo vệ môi trường; Ưu tiên đầu tư cho các dự án du lịch đã có các giải pháp cụ thể để giải quyết ô nhiễm môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế, đầu tư cho công tác
Trang 11nghiên cứu khoa học công nghệ mới về bảo vệ môi trường Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh du lịch làm tốt công tác bảo vệ môi trường Nâng cao hiệu lực quản lý về môi trường du lịch, kiên quyết yêu cầu các cơ sở du lịch, dịch
vụ nhà hàng, khách sạn phải tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường và xây dựng hệ thống thu gom xử lý nước thải, rác thải Áp dụng những hình phạt từ nhẹ đến nặng đối với những cơ sở du lịch và những cá nhân có hành vi gây ô nhiễm trực tiếp và gián tiếp, chống đối các hoạt động bảo vệ môi trường, tài nguyên Giữ vững an ninh và trật tự xã hội ở những khu du lịch
2.2 Biện pháp từ phía ngành du lịch:
Cần xây dựng chiến lược về bảo vệ môi trường ở các khu du lịch có kế hoạch cụ thể cho việc trồng và bảo vệ cây xanh ở những khu du lịch; quản lý tốt cơ sở hạ tầng
và môi trường ở những khu du lịch; khuyến khích, hướng dẫn người dân và các cơ sở dịch vụ du lịch thực hiện thu gom rác một cách khoa học, hợp lý; nâng cao trình độ văn hóa của những người làm trong ngành du lịch, gắn giáo dục môi trường với các chương trình đào tạo cho mọi đối tượng tham gia vào hoạt động du lịch; có kế hoạch bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa trong vùng gắn với bảo tồn và khai thác vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên, tăng cường hợp tác liên ngành và quốc tế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch Áp dụng các công nghệ tiên tiến của khoa học kĩ thuật vào việc thu dọn rác, phân loại rác thải, xử lý chất thải,… để đạt hiệu quả cao và nhanh chóng
( Tuyên truyền, dọn rác quanh các khu du lịch & và Hệ thống xử lý nước thải tại khu du lịch )
Tất cả các hoạt động của con người đều có sự tác động đến môi trường dù cố ý hay
vô ý Con người và môi trường là sợi dây gắn kết không thể đứt rời Bất kì hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, sinh hoạt hằng ngày của con người đều gắn với môi