Khái niệm phát triển bền vững - Phát triển bền vững là sự phát triển dựa trên sự liên kết chặt chẽ và hài hòa giữa việc tăng trưởng và phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGỮ VĂN ANH
-🙞🙞🙞🙞🙞 -BÀI TIỂU LUẬN MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
Môn học: Môi tường và Phát triển Giảng viên hướng dẫn: Lê Thanh Hòa Lớp: 2111DAI00602-19701CLC - nhóm 2
Họ và tên: Nguyễn Minh Triết
MSSV: 1957011202
Thành phố Hồ Chí Minh, 1/2021
Trang 2I PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM
1 Khái niệm phát triển bền vững
- Phát triển bền vững là sự phát triển dựa trên sự liên kết chặt chẽ và hài hòa giữa việc tăng trưởng và phát triển kinh
tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường, không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai, phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại Có bốn lĩnh vực chính của phát triển bền vững bao gồm việc tăng trưởng kinh tế; bảo đảm công bằng xã hội; bảo vệ môi trường cũng như là tôn trọng nhân quyền Từ nguyên tắc ổn định sự bình đẳng giữa các thế hệ lẫn nhau, khái niệm phát triển bền vững được xây dựng
- Phát triển bền vững là một quan điểm nhân văn và hiện đại hơn nhiều so với “phát triển bằng mọi giá” Vì phát triển với bất cứ giá nào được coi là việc tối đa hóa quy trình khai thác triệt để tài nguyên thiên nhiên với mục đích phục vụ cho các hoạt động phát triển mà không để ý đến hậu quả nó đem lại đến quá trình phát triển chung của thế giới
- Khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên xuất hiện trong “Chiến lược bảo tồn thế giới” của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) vào năm 1980, nhưng chủ yếu đề cập đến các vấn đề bền vững sinh thái Tương tự như định nghĩa của "Báo cáo Brandland" của Ủy ban Phát triển Môi trường của Liên hợp quốc (WCED) năm 1987, định nghĩa này ngày nay được chấp nhận rộng rãi rằng ““Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ.”
- Ủy ban Brandland đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển bền vững như sau:
Đầu tiên, WCED vạch ra trách nhiệm của thế hệ ngày nay trong việc bảo đảm sự lựa chọn cũng như cơ hội để phát triển của các thế hệ sau bằng việc tích cực bảo vệ môi trường và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên
Thứ hai, WCED muốn hướng tới công cuộc xóa đói, giảm nghèo tại các nước đang phát triển như một cột mốc quan trọng mà các quốc gia phải chú trọng
Cuối cùng, WCED thừa nhận sự thiết yếu khi phải điều chỉnh lại các mô hình thương mại quốc tế và dòng vốn Ngoài ra, WCED còn cho rằng sự phát triển của các nước đang phát triển có tác động mạnh mẽ đến các mối quan
hệ kinh tế này
- Suy ra, phát triển bền vững là phát triển tích hợp đa ngành, liên ngành trong các chương trình hành vi cùng với các tiêu chuẩn ngày càng cụ thể và rõ ràng Đó là công cuộc theo đuổi đồng thời ba khía cạnh: tăng trưởng kinh tế bền vững; xây dựng xã hội thịnh vượng, công bằng và ổn định; gầy dựng nền văn hóa đa dạng và môi trường trong lành, tài nguyên thiên nhiên bền vững
2 Tình hình phát triển bền vững nông thôn hiện nay tại Việt Nam
Sớm nhận thức được tầm quan trọng của phát triển bền vững đối với đất nước, Đảng và Nhà nước đã bổ sung quan điểm phát triển bền vững vào những nghị quyết cũng chứ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội bao gồm cả việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, ví dụ như Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011 – 2020 đã được Nhà nước ban hành với mục tiêu hiện thực hóa xã hội tiến bộ và công bằng, tăng trưởng bền vũng và hiệu quả, bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
2.1 Thành tựu phát triển bền vững tại Việt Nam
- Việt Nam hiện tại có hơn 60,6 triệu người dân (theo cuộc điều tra dân số của năm 2009) vẫn sinh sống ở nông thôn, chiếm tới 70,4% tổng dân số nước ta So sánh với tổng diện tích 331.051 km² của cả nước, diện tích đất dành cho nông nghiệp là 251.273 km² (tương đương 75,9% tổng diện tích đất của cả nước); trong khi đó diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệp vào khoảng 95.988 km²; diện tích đất rừng khoảng chừng 147.578 km²; diện tích dành cho nuôi trồng thuỷ sản là 7.384 km²; và khu dân cư ở khu vực nông thôn là 5,151 km² (nằm vào khoảng 81% tổng diện tích đất sử dụng để sinh sống)
- Từ năm 2005 đến năm 2010, khoảng 25 triệu tấn gạo đã được xuất khẩu trên toàn quốc, với doanh thu trên 10 tỷ
đô la Mỹ, vượt mục tiêu hàng đầu trong 5 năm với trung bình 1 triệu người, hay 1,1 tỷ đô la/năm Giá trị gia tăng trung bình của ngành nông nghiệp rơi vào khoảng 3,74% /năm, cao hơn 3,2% so với kế hoạch 5 năm của Chính phủ An ninh lương thực của đất nước được đảm bảo, kinh tế nông thôn sẽ phát triển theo hướng gia tăng các ngành, nghề, dịch vụ, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn Tại Việt Nam, hiện
có chừng 3.000 làng nghề với hơn 1,4 triệu hộ gia đinh, thu hút hơn 11 triệu lao động mỗi năm Ngoài ra còn có hơn 120.000 trang trại trồng trọt tích cực chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tạo công ăn việc làm, giúp nâng cao thu nhập cho người lao động
Trang 3- Quy mô thương mại của mô hình nông lâm kết hợp và thủy sản ngày càng mở rộng, cả về thị trường và sản phẩm tiêu dùng Nhiều sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao, chất lượng cao, mẫu mã bao bì đẹp được tiêu thụ trực tiếp tại thị trường trong nước Các sản phẩm nông nghiệp như cà phê, chè chất lượng cao, gạo chất lượng cao, thủy sản chế biến, và cá cầu góp phần quan trọng trong việc cân đối cung cầu, nhất là ổn định thị trường trong nước đối với mặt hàng thiết yếu Nó ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người
Bảng Kết quả của việc nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập
2006 2007 2008 2009 2010
Độ mở kinh tế ngành nông-lâm-thủy-sản % 79,3 84,3 80,0 80,0 80,0 Chỉ số giá người sản xuất (PPI) ngành nông nghiệp % 127,2 145,1 202,6 203,0 203,0 Chỉ số giá xuất khẩu hàng lương thực, thực phẩm % 106,6 110,8 126,0 126,0 126,0 Chỉ số giá nhập khẩu nguyên nhiên, vật liệu % 105,3 106,0 127,1 127,0 127,0 Kim ngạch xuất khẩu Triệu USD 10.613 13.235 16.475 14.000 15.200 Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-thủy
sản
GDP nông-lâm-thủy sản (Giá thực tế) bình quân
lao động nông nghiệp
% 8,28 9,77 13,81 12,8 14,3
- Ngoài ra, việc nhận thức về việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái của người dân tại các vùng nông thôn đã được nâng cao đáng kể Phong trào toàn dân đoàn kết, xây dựng môi trường văn hóa, xanh, sạch, đẹp ngày càng lan rộng ở các vùng nông thôn Việc phòng trừ và cải tạo đất và nước đã được chú ý hơn Nhiều nơi tái hiện phong trào ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất Đồng thời, các văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ tài nguyên và môi trường đang từng bước được hoàn thiện và triển khai
- Từ 2006 - 2009, Nhà nước đã huy động và đầu tư được 1468,7 tỷ đồng vào Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Trong số này thì ngân sách trung ương chiếm tới 1,753 nghìn tỷ đồng và ngân sách lồng ghép là 1,716 nghìn tỷ đồng, viện trợ quốc tế được 2.232 tỷ đồng, vốn vay ưu đãi là 6.139 tỷ đồng còn trong nước là 2.847 tỷ đồng Do đó, nước hợp vệ sinh đã được cung cấp cho hơn 1,6 triệu người hàng năm và lượng nước hợp vệ sinh của dân số nông thôn đã tăng từ 62% (2005) lên 75% (2008)
- Nước ta đã trải qua một quá trình phát triển tương đối quy mô và đã góp phần vào việc nâng cao mức sống của người dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tạo điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cần thiết để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có ý nghĩa quan trọng trong việc khắc phục tình trạng suy thoái gần đây của nước ta và chống khủng hoảng kinh tế Nguyên nhân chính có được những thành tựu đó đều nhờ Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương cũng như các chính sách phù hợp cho sự phát triển của nền kinh tế nông thôn, qua đó toàn dân chính là động lực thúc đẩy, là tầng lớp tích cực tham gia vào sự nghiệp phát triển của đất nước 2.2 Hạn chế và nguyên nhân
- Bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế nông thôn ở nước ta nhìn chung vẫn còn phát triển chậm và thiếu bền vững Cụ thể hơn, tại các vùng nông thôn, lực lượng lao động đã qua đào tạo ở dưới mức 10%, dân số các vùng này và nguồn nhân lực nhỏ, chỉ bằng 1/10 so với các vùng khác Hơn hết, trên 80% hộ nghèo của cả nước tập trung nhiều ở các khu vực này Theo các số liệu, vốn đầu tư vào nông nghiệp năm 2009 chỉ chiếm 6,26% tổng
so với vốn đầu tư toàn xã hội, trong khi GDP khu vực nông nghiệp ở ngưỡng 20,91% Trước đó, vào năm 2008,
tỷ trọng đầu tư vào ngành nông nghiệp là khoảng 6,45% Trong khi đó, năm 2005, nó chiếm khoảng 7,5% và năm 2000 chiếm 13,85% vốn đầu tư Do đó, ta có thể thấy vốn đầu tư từ ngân sách quốc gia vào ngành nông nghiệp ngày càng giảm Và nông nghiệp cũng không phải là lĩnh vực hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, dẫn đến việc vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp nước ta chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ
và có xu hướng ngày càng giảm
- Từ số liệu điều tra của Cục Thống kê vào năm 2007, ta thấy trong tổng số lao động nông nghiệp, chỉ có 1,35% công nhân kỹ thuật có trình độ sơ cấp, trong khi 0,89% công nhân có trình độ trung cấp, 0,13% trình độ cao đẳng
và 0,11% còn lại có trình độ đại học và trên đại học Đồng thời, đội ngũ cán bộ làm trong nhánh nông nghiệp, nông thôn cũng chỉ có 9% là có bằng đại học, cao đẳng; 39,4% có bằng trung cấp và 9,8% còn lại có trinh độ sơ cấp Do đó, việc đào tạo nghề cho lực lượng lao động nông thôn, bao gồm cả người trực tiếp sản xuất và các cán
bộ làm công tác khuyến nông; cán bộ lãnh đạo nông nghiệp, nông thôn là vấn đề cấp thiết và cần có hệ thống giải
Trang 4quyết một cách đồng bộ Vào năm 2010, tỷ lệ lao động khu vực dành cho các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% (2009) xuống 48,2% Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động là 2,88%, trong đó tại khu vực thành thị, tỷ lệ này là 4,43% và tại khu vực nông thôn là 2,27% Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động vào năm 2010 là 4,50%, trong đó khu vực thành thị tỷ lệ này là 2,04% và khu vực nông thôn là 5,47%
- Nhìn chung, cả đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng nông thôn còn nhiều khó khăn; sự chênh lệch giữa mức sống và thu nhập của người dân tại thành thị thì càng ngày càng lớn Ở các vùng nông thôn, xu hướng tái nghèo của các hộ gia đình đang trở thành một mối đe dọa hiện hữu Dù chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa vùng nông thôn và thành thị cũng như giữa các vùng miền ngày càng thu hẹp nhưng nhìn chung vẫn còn lớn Ngay cả ở khu vực nông thôn, khoảng cách giữa 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất đang ngày càng gia tăng, gấp 6 lần vào năm 2002; 6,4 lần vào năm 2004 và 6,5 lần vào năm 2006 Việc xây dựng lại và nâng cao mức sống của người dân, nhất là ở các vùng miền núi (đặc biệt là các lĩnh vực giao thông, thủy lợi, viễn thông) vẫn còn khó khăn Tình trạng trên là do vị trí xuất phát của kinh tế nông thôn còn thấp và vì nguồn kinh phí của nhà nước và cư dân còn rất hạn chế, nông dân nước ta còn nghèo, dân trí còn thấp nên gặp nhiều khó khăn; các trang
bị máy móc còn ít, khó ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới Quy mô sản xuất nông nghiệp phần lớn còn nhỏ, nhưng vẫn rất tự cung tự cấp Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng không phải do công nghệ nông nghiệp thâm canh mà chủ yếu do mở rộng diện tích canh tác, tăng vụ Việc lãng phí tài nguyên rừng do quy hoạch, bảo vệ và sử dụng còn nhiều sai sót Ngoài ra, việc phát triển các ngành công nghiệp mới, làng nghề và các loại hình dịch vụ ở nông thôn vẫn còn gặp nhiều thách thức Đặc biệt, công nghiệp chế biến nông sản và dịch
vụ khoa học công nghệ Nhiều chủ trương, đường lối trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã không còn phù hợp với thực tiễn hiện tại, hệ thống lý luận về phát triển kinh tế nông thôn chưa hình thành Các cơ chế và hướng dẫn phát triển kinh tế nông thôn không đồng bộ và không có nhiều đột phá Nhiều chủ trương, đường lối còn bất cập, thiếu khả thi, có nhiều hướng dẫn được đưa ra không phản ánh chính xác tình hình thực tế diễn biến như thế nào
2.3 Giải pháp
Thấy được sự cần thiết trong việc đề ra các giải pháp hỗ trợ việc phát triển nông thôn bền vững ở nước ta thời điểm hiện tại, Đảng và nhà nước đã ban hành chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011 – 2020 như sau:
2.3.1 Về mặt kinh tế
- Chúng ta cần duy trì tăng trưởng kinh tế một cách bền vững, từng bước thực hiện việc tăng trưởng xanh và phát triển năng lượng sạch và năng lượng tái tạo Thực hiện công cuộc sản xuất và ổn định tiêu dùng, đồng thời đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Ngoài ra phải chú trọng vào việc phát triển bền vững tại các vùng và địa phương
- Ngoài ra ta cần nâng cao chất lượng tăng trưởng và đảm bảo sự ổn định của kinh tế vĩ mô, nhất là chính sách tiền
tệ và tài chính Đẩy mạnh năng suất lao động bằng cách chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ hướng tập chung vào chiều rộng sang kết hợp hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; trên cơ sở tận dụng, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và các thành tựu của khoa học công nghệ tiên tiến, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ
- Phát huy thế mạnh của từng vùng, xây dựng lại nông thôn theo hướng công nghiệp hóa Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm chất lượng cao và có hiệu quả, liên kết sản xuất với thị trường trong nước và quốc tế để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên (đất, nước, rừng, lao động và vốn)
2.3.2 Về xã hội
- Nhà nước đẩy mạnh các công tác xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm bền vững Đặc biệt, Nhà nước ưu tiên các nguồn lực giảm nghèo và cải thiện điều kiện sống của người dân ở những vùng khó khăn cũng như hỗ trợ, tạo điều kiện để các hộ nghèo có nhà ở, vật tư, tư liệu sản xuất Phát triển kinh tế thông qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao ngoài ra còn phát triển sản xuất nguyên liệu, dạy chữ và dạy nghề
- Cần ổn định quy mô dân số và cải thiện, nâng cao chất lượng người dân Phát triển bền vững văn hóa đi đôi với việc phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển các hộ gia đình tại Việt Nam Xây dựng các cảnh quan mới, phân
Trang 5bố dân cư và lao động hợp lý theo khu vực Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, trình
độ chuyên môn của con người sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển của cả nước và các địa phương
2.3.3 Về tài nguyên và môi trường
- Đảng và Nhà nước đẩy mạnh các biện pháp chống suy thoái và sử dụng tài nguyên đất một cách hiệu quả và bền vững Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước Phát triển hợp lý và sử dụng kinh tế, bền vững tài nguyên khoáng sản
- Bảo vệ môi trường và phát triển tài nguyên biển đối với các đại dương, bờ biển và hải đảo Bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm không khí và ô nhiễm tiếng ồn ở các đô thị và các khu công nghiệp
II SUY THOÁI ĐA DẠNG SINH HỌC TOÀN CẦU VÀ TẠI VIỆT NAM
1 Khái niệm chung
1.1 Khái niệm đa dạng sinh học
- “Đa dạng sinh học” là một từ dùng để khái quát hóa các giống loài khác nhau tồn tại và sinh sống trong tự nhiên bao gồm động, thực vật, vi sinh vật, các hệ sinh thái và cả các quá trình sinh thái mà tất cả các loài trên góp mặt trong đó Theo Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên”
- Hiện này, trên thế giới có khoảng 30 triệu loài sinh vật sống phụ thuộc lẫn nhau trong môi trường tự nhiên Trong bài báo cáo “Tiếp cận các nguồn gen và chia sẻ lợi ích”, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới – IUCN có ghi rằng, hiện tại Việt Nam có:
Thực vật gồm hơn 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch phân bổ hơn 2.256 chi, 305 họ (chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ thực vật trên khắp thế giới); 12.000 loài thực vật hạt kín
và 69 loài thực vật hạt trần; 2.200 loài nấm và 2.176 loài tảo; 481 loài rêu; 691 loài dương sỉ, 368 loài vi khuẩn lam cũng như 100 loài khác
Trong khi đó, các loài động vật được phân chia gồm 300 loài thú; 830 loài chim; 260 loài bò sát; 547 loài
cá nước ngọt và 2.038 loài cá biển; 158 loài ếch nhái; 9.300 loài động vật không xương sống và hơn 5.300 loài côn trùng
- Đa dạng sinh học được phân loại dựa trên 3 đặc điểm sinh thái:
Đa dạng sinh học về gen là đa dạng sinh học mà bao gồm tất cả các gen trong từng cá thể của mọi loài sinh vật sống trên một vùng đất nhất định hoặc là trong phạm vi toàn cầu Đa dạng gen còn là cơ sở phát triển của ngành khoa học công nghệ gen – ngành công nghệ sử dụng các giải pháp di truyền nhằm tăng năng suất vật nuôi và cây trồng
Đa dạng sinh học về giống loài là sự đa dạng về các phần tử loài trong một quần xã sinh vật Đa dạng loài còn được xem là cơ sở để phát triển môi trường tự nhiên một cách bền vững
Đa dạng sinh học về hệ sinh thái là hình thức đa dạng đề cập đến sự khác biệt trong loại hình sống, sinh cảnh của các quần xã sinh vật và cũng như là quá trình quan hệ sinh học giữa các hệ sinh thái Đa dạng sinh thái còn tạo cơ sở cho đa dạng gen và đa dạng sinh học về giống loài được thể hiện và bộc lộ ra bên ngoài
1.2 Biểu hiện của sự suy thoái đa dạng sinh học
- Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), trong số 47.677 loài trên thế giới, 7.291 loài đang bị đe dọa, bao gồm 21% động vật có vú, 30% động vật lưỡng cư, 35% động vật không xương sống và 70% thực vật Thế giới đang đứng trước nguy cơ đối mặt với tình hình tuyệt chủng và suy tàn của nhiều loài sinh vật Ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, loài linh miêu Iberia (Lynx pardinus) đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng khi số cá thể loài
đã giảm đáng kể xuống chỉ còn 84 – 143 cá thể Mèo bắt cá Nam Á (Prionailurus viverrinus) từng được liệt kê là
"có nguy cơ tuyệt chủng" trong Sách đỏ của IUCN, hiện đã được liệt vào danh sách loài "có nguy cơ tuyệt chủng" do các mối đe dọa về môi trường sống như ô nhiễm, nông nghiệp, nạn săn bắn và phá rừng Chưa dừng ở
Trang 6đó, các chuyên gia của Liên Hợp Quốc cảnh báo rằng vào năm 2050, nhân loại sẽ không có cơ hội nhìn thấy cá trong đại dương nữa
- Các nghiên cứu cho thấy năm 1995 đã có đến 39.671 các loại súng được sử dụng để săn các loài chim và thú và trung bình mỗi làng có 12 khẩu được sử dụng ( Đỗ Tước, 1997) Chưa kể đến có nhiều người đi săn đã sử dụng các loại bẫy thông thường như bẫy treo, bẫy kẹp, bẫy giăng, bẫy chông, bẫy lồng, lưới có giá khá cao Từ năm
1991 đến 1995, đã có 8.964 cá thể bị săn bắt, trung bình hàng năm có khoảng 1.743 loài động vật quý hiếm bị săn bắt, trong đó có 18 loài động vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (Đồ Tước, 1997)
2 Nguyên nhân và hậu quả của suy thoái đa dạng sinh học toàn cầu
2.1 Nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái đa dạng sinh học toàn cầu
- Tài nguyên sinh vật bị suy thoái hầu hết là kết quả của các hoạt động như chặt phá rừng với quy mô lớn; đánh bắt quá mức động, thực vật trong các hệ sinh thái; khai thác và tiêu thụ tài nguyên sinh vật và đánh bắt cá mang tính hủy diệt ngày càng gia tăng Ô nhiễm không khí ngày càng nghiêm trọng và việc chuyển đất trống thành các thành phố và đất nông nghiệp ngày càng nhiều
- Khi xác định vấn đề mất đa dạng sinh học do các nguyên nhân trực tiếp, thường cần phải có các biện pháp ngăn chặn và răn đe, chẳng hạn như pháp luật để ngăn chặn sự phát triển của tài nguyên thiên nhiên, bổ sung thêm các khu bảo tồn sinh vật Những hành động này là cần thiết khi tình trạng lạm dụng tài nguyên ngày càng nhiều và trở nên tràn lan Tuy nhiên, các biện pháp này hầu như là không đủ để thay đổi các nguyên nhân về kinh tế và xã hội đang đe dọa đến sự đa dạng sinh học
- Việc gia tăng tình trạng khai thác quá mức bắt nguồn từ nhu cầu đối với các mặt hàng như gỗ, động vật hoang dã, hàng dệt và các sản phẩm nông nghiệp Gia tăng dân số làm tăng nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên và các sản phẩm quá trình của hệ sinh thái, ngay cả khi không có tăng trưởng và phát triển kinh tế Các khoản nợ đã buộc chính phủ phải khuyến khích, đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng có tiềm năng giao dịch ở nước ngoài Tại nhiều quốc gia, các chính sách bảo tồn năng lượng tạo ra nhiều việc làm kém hiệu quả, cùng với ảnh hưởng của ô nhiễm không khí và nguy cơ biến đổi khí hậu toàn cầu Việc phân chia quyền sở hữu đất đai không hợp lý ngăn cản người nông dân tập trung vào việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên sinh vật có giá trị cũng góp phần vào việc làm suy thoái sự đa dạng sinh học toàn cầu
2.2 Hậu quả của suy thoái đa dạng sinh học toàn cầu
- Sự tuyệt chủng của các loài là một trong những tác nhân hình thành nên các ảnh hưởng tác động đến hệ sinh thái Điều này phần lớn là do sự phá vỡ cân bằng sinh thái, các loài khác nhau hình thành các liên kết cụ thể trong một chuỗi thức ăn cân bằng và nếu sự cân bằng này bị mất đi do thiếu hụt các loài sinh vật thì các loài còn lại cũng sẽ theo đó mà chịu ảnh hưởng một cách tiêu cực
- Mặt khác, sự mất cân bằng trong các chuỗi dinh dưỡng dẫn đến sự xuất hiện của các loài gây hại khác nhau Điều này xảy ra khi một loài động vật ăn thịt cụ thể suy giảm hoặc biến mất và thông thường động vật ăn thịt sẽ tiến hóa mà không cần kiểm soát Những loài gây hại này có thể gây ra sự phá hủy ở nhiều quy mô đối với các khu đất nông nghiệp và hậu quả của những loài gây hại này đem lại là rất nghiêm trọng
- Không có giải pháp khả thi cho sự tuyệt chủng của các loài Vì lý do này, sự biến mất của những loài này đang dần đe dọa đến vấn đề sinh sống của con người Nó ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta,
vì nhiều dược liệu có nguồn gốc tự nhiên, cả nguồn gốc động vật và thực vật đang dần biến mất hoặc trở nên khan hiếm Việc suy thoái đa dạng sinh học đã loại bỏ các loài thực vật không rõ nguồn gốc, cản trở việc điều trị các bệnh nan y hiện nay Đất, nước và cả không khí đều phụ thuộc vào sự đa dạng sinh học của Trái đất, thảm thực vật đóng một vai trò cơ bản trong các yếu tố khí hậu trên Trái Đất Nhờ có thảm thực vật, CO2 được hấp thụ
và một phần nhiệt lượng được khí nhà kính giữ lại được loại bỏ
3 Tình hình suy thoái đa dạng sinh học tại Việt Nam
3.1 Nguyên nhân dẫn đến suy giảm về đa dạng sinh học tại Việt Nam
Nhìn chung, sự suy giảm đa dạng sinh học tại Việt Nam có thể được phân vào bốn nhóm nguyên nhân cơ bản:
- Việc mất đi hay hủy hoại môi trường sống có thể do các hoạt động sinh hoạt của con người như khai thác gỗ (kể
cả rừng ngập mặn); đốt rừng làm nương rẫy; chuyển đổi mục đích sử dụng đất và đánh bắt cá mang tính hủy diệt , ngoài ra còn có các các yếu tố tự nhiên như động đất, cháy rừng, bão, lốc xoáy, dịch bệnh và sâu bệnh
Trang 7- Khai thác quá mức:
Do sự gia tăng dân số, đói nghèo đang dẫn đến việc đánh bắt quá mức các nguồn tài nguyên sinh vật và suy giảm
đa dạng sinh học Điều quan trọng là nguồn cá ven biển đang cạn kiệt nhanh chóng Mặt khác, đặc biệt là ở các vùng ven biển, một số phương pháp bẫy trên quy mô lớn như cho nổ mìn và hóa chất đang được sử dụng
- Ô nhiễm môi trường:
Một số hệ sinh thái đất ngập nước bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, chất thải khai thác mỏ, phân bón nông nghiệp, và thậm chí cả chất thải đô thị Điều đáng chú ý là ô nhiễm dầu đang xảy ra ở các cửa sông do các tàu lớn khai thác
- Ô nhiễm sinh học:
Sự du nhập không kiểm soát của các loài ngoại lai có thể gây ra những tác động gián tiếp thông qua cạnh tranh,
ăn thịt, hoặc ký sinh, làm xói mòn nguồn gen bản địa, thay đổi môi trường sống trên đất bản địa
3.1.1 Nguyên nhân trực tiếp
Khai thác, sử dụng không bền vững tài nguyên sinh vật
- Khai thác gỗ:
Từ 1986 - 1991, các lâm trường khai thác trung bình 3,5 triệu mét khối gỗ hàng năm Ngoài ra, hơn 12 triệu m 3
gỗ đã bị khai thác ngoài kế hoạch Nếu qui ra diện tích thì số gỗ này tương đương với khoảng 80.000 ha rừng Ngoài ra, tình trạng khai thác gỗ trái phép diễn ra phổ biến ở khắp mọi nơi, kể cả những khu rừng được bảo vệ dẫn đến việc các khu rừng có chất lượng đang bị tàn phá nhanh chóng
- Khai thác củi:
Thống kê cho thấy khoảng 21 triệu tấn củi từ rừng được các hộ gia đình khai thác và sử dụng trên toàn quốc hàng năm Lượng củi này gấp sáu lần lượng xuất khẩu hàng năm (Phạm Bình Quyền và cộng sự, 1999)
- Việc sử dụng gỗ và củi không có kế hoạch trồng mới để làm cân đối cả số lượng và chất lượng rừng không chỉ làm giảm diện tích rừng mà cả chất lượng rừng Đây là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, đặc biệt là ở các quần xã động vật có xương sống hoang dã trong sinh cảnh rừng
- Khai thác động vật hoang dã:
Cùng với nạn phá rừng lấy gỗ, nạn săn bắn cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm đa dạng sinh học Theo báo cáo điều tra vào năm 1995, tại Việt Nam có hơn 39.600 khẩu súng được sử dụng để săn bắn các loại chim, động vật và bình quân mỗi thôn bản có 12 khẩu súng các loại (Đỗ Tước, 1997) Trái với việc trước những năm 1970, rừng còn đa dạng các giống loài sinh vật như voi, tê giác, hổ, báo, các loài bò rừng, trâu rừng, trăn, rắn… thì ngày nay việc bắt gặp các loài trên là rất khó, thậm chí ở nhiều khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia Một số loài động vật lớn hầu như đã bị diệt vong phải kể đến như là Tê giác Hai sừng
(Dicerorhynus sumatrensis), Heo vòi (Tapia indicus), Trâu rừng (Bubalus bubalis), Vượn tay trắng (Hylobates lar), Cầy nước (Cynogale bennetti) Ngoài ra còn có các loài khác với cá thể mỗi loài chỉ còn lại số lượng vô cùng ít như hổ, Tê giác Một sừng (Rhinoceros sondaicas), Bò tót, Hươu vàng, Hạc Cổ trắng,…
- Khai thác sinh vật biển:
Việc khai thác hệ sinh thái ven bờ đang trở nên khó kiểm soát, khiến cho nhiều loài sinh vật có giá trị khoa học
và kinh tế trở nên thưa thớt dần do mất đi nơi sinh sống Rừng ngập mặn vùng cửa sông, vùng nước ven bờ cũng như các đảo và các rạn san hô hiện đang là tâm điểm khai thác với cường độ cao mà thậm chí là có can thiệp của mìn, điện, hóa chất cyanua ) Điển hình, tại đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang, tình trang khai thác Bào ngư, Hải Sâm, Trai ngọc đã đạt ngưỡng báo động dẫn đến việc ngư dân khai thác các quý phẩm này phải chuyển sang khai thác tại các bãi khác thuộc Campuchia Ngoài ra, ngư trường đánh bắt Cá cơm và các loại hải sản xung quanh vùng biển Phú Quốc cũng sụt giảm làm cho các tàu bè đánh cá phải di chuyển sang các vùng khác để khai thác
- Khai thác các sản phẩm khác:
Trong số khoảng 3.300 loài thực vật, các sản phẩm ngoài gỗ như mây, tre, cây thuốc và tinh dầu đã được sử dụng và bán trên thị trường nội và ngoại địa Trầm hương, một loại cây thuốc đặc biệt quý hiếm, được săn lùng
để làm hương thơm chất lượng cao và xuất khẩu, có hơn 300 tấn trầm hương đã được bán ra nước ngoài trong vài năm Hiện tại, Trầm hương đã và đang là đối tượng săn lùng khai thác quyết liệt vì lợi nhuận Trầm hương đem lại là rất lớn
Trang 8Cháy rừng
- Điều kiện khí hậu của Việt Nam làm cho khả năng xảy ra nạn cháy rừng vào mùa khô hàng năm là rất cao Việt Nam, đặc biệt là Tây Nguyên, trung bình mỗi năm diễn ra chasy từ 25.000 đến 100.000 ha rừng Theo thống kê, các vụ cháy rừng đã giảm mạnh kể từ năm 1995, nhưng nghiêm trọng hơn hẳn là các vụ cháy rừng tràm U Minh năm 2002 và 2003 Cháy rừng tại Vườn quốc gia U Minh Thượng vào tháng 3 và tháng 4 năm 2002 là một thảm họa đối với tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học Vườn quốc gia U Minh Thượng là khu rừng tự nhiên ở vùng đất ngập nước có đất than bùn Rừng U Minh Thượng đã bị cháy khoảng 4.000 ha, rừng U Minh Hạ bị cháy khoảng 300 ha đất rừng Tại U Minh Thượng, trước khi bị cháy đã thống kê được có 32 loài động vật sinh sống Sau khi bị cháy, ít nhất có 25 loài thú (78,2%) bị ảnh hưởng với các mức độ khác nhau Một số loài có nguy cơ không được nhìn thấy lại ở hệ sinh thái độc đáo này như loài Dơi ngựa lớn Pteropus vampirus; Sóc lửa
Callosciurus finlaysoni; Rái cá lông mũi Lutra sumatrana; Rái cá vuốt bé Aonyx cirerea; Mèo cá Prrionailurus viverinus; Tê tê Manis javanica; Cầy giông đốm lớn Viverra megaspila; Cầy vòi hương Paradoxurus
hermaphroctulus; Dơi ngựa Thái lan Pteropus lylei; Mèo rừng Prionailurus bengalensis
- Vì có khả năng di chuyển nhanh nên ảnh hưởng ngay lập tức lên các loài chim là không lớn Tuy nhiên, về lâu dài, việc mất môi trường sống và nguồn thức ăn từ hoa quả, hạt giống và các sinh vật sống dưới nước sẽ làm thay đổi thành phần các loài chim Trước khi xảy ra vụ cháy, Vườn quốc gia U Minh Thượng có 94 loài chim thuộc
15 họ sinh sống Kết quả kiểm kê sơ bộ sau vụ cháy chỉ còn lại 76 loài chim thuộc 11 họ Một số loài, chẳng hạn như: Pelicunus philippinensis chân xám; cốc đen Faracrocolux niger; rắn cổ Anhingas melunogaster; nấm đen Pelagclisfalcinellus; nho đen Threskiornismelanocephalus; Cò sơn Mycteraleucocephala; Diều hâu xám
Accipiterbadius; Đại bàng đen Anguilla cranga; Cháy rừng cũng ảnh hưởng đến các loài bò sát như Kỳ nhông sọc vằn Varanus alvador; Trăn gấm molurus; Rùa thường Ptyaskorrus; Niêm mạc Rắn trâu Ptyas; Bọ cánh cứng; Rắn hổ mang OK; Blackbuck Box Rắn Quora Amboymensis
- Bên cạnh những yếu tố bất lợi của thời tiết, khí hậu không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, việc khai thác, tận dụng tài nguyên rừng của người dân địa phương vào đời sống sinh hoạt như đốt rừng, đốt than, làm thuốc lá, lấy mật, chặt cây bụi… cũng góp phần trở thành nguyên nhân của các vụ cháy
Ô nhiễm môi trường
- Chất lượng môi trường tại nhiều nơi đang ngấp ngưỡng ở mức đáng báo động Đã có nhiều thành phần môi trường bị suy thoái và ô nhiễm từ các nguồn chất thải khác nhau (nước thải, khói thải, chất thải rắn) gây ra mối đe dọa đối với sự đa dạng sinh học Nó trực tiếp làm giảm số lượng các cá thể và gián tiếp phá hủy nơi ở và sinh cảnh của các loài động vật hoang dã
- Việc hấp thụ nước thải chứa một lượng lớn dinh dưỡng đã dẫn đến hiện tượng phú dưỡng tại nhiều hồ nước ở Hà Nội cũng như các khu dân cư và đô thị khác Hiện tượng phú dưỡng làm bùng phát tảo, và còn là nguyên nhân chính làm bùng phát thực vật phù du trong các hồ nội địa - một nhóm vi khuẩn lam (Microcystis spp) gây nguy hiểm cho môi trường sống của nhiều loài động vật thủy sinh Thủy triều đỏ và xanh là các hiện tượng thường gặp
ở các vùng nước ven biển do sự gia tăng chất thải giàu dinh dưỡng của các hoạt động kinh tế ven biển
- Các nghiên cứu gần đây tại vùng biển ven bờ Hạ Long cho thấy các hoạt động phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ làm gia tăng các chất độc hại như dầu, trầm tích, nước thải; dẫn đến việc thu hẹp hoặc suy thoái diện tích sinh sống của san hô và các loài rong biển Ngoài ra, ô nhiễm môi trường còn làm giảm chất lượng của các sinh vật có giá trị kinh tế bởi chúng tích lũy chất độc (kim loại nặng ) trong cơ thể
Sự suy giảm hoặc mất sinh cảnh sống
- Cùng với thiên tai, việc đánh bắt quá mức tài nguyên sinh vật và các hoạt động vì nhiều lợi ích khác đang làm giảm hoặc triệt tiêu môi trường sống tự nhiên của vô số loài động vật hoang dã
- Rừng là hệ sinh thái rộng lớn, đặc biệt là rừng nhiệt đới nhiều tầng, là nơi sinh sống của hầu hết các loài động vật hoang dã trong các hệ sinh thái trên cạn, đặc biệt là lớp động vật có xương sống (thú, chim, bò sát) Ngoài ra, rừng còn là điều kiện tiên quyết trong việc bảo vệ các vùng đất ngập nước, chẳng hạn như suối và sông ở thượng nguồn là nơi cư trú của các loài thủy sinh rất đặc trưng và đa dạng Nhiều loài thủy sinh mới đã được phát hiện trong các môi trường sống dưới nước này Việc các khu vực rừng bị chặt phá đang làm mất hoặc giảm nơi cư trú hoặc nơi cư trú của các loài Trong lịch sử, việc mất các diện tích rừng chất lượng cao là nguyên nhân chính dẫn
Trang 9đến sự suy giảm đa dạng sinh học tại Việt Nam; việc khai thác khoáng sản không theo quy hoạch cũng ảnh hưởng đến đa dạng sinh học ở nhiều vùng
- Bên cạnh việc mất diện tích rừng thì công cuộc xây dựng các hồ chứa lớn phục vụ tưới tiêu, phát điện là một trong những tác nhân gây suy giảm vùng sinh sản của nhiều loài cá có sức sống mãnh liệt Hoạt động điều tiết ở các hồ chứa lớn cũng đã làm thay đổi nhiều đặc điểm tự nhiên của các vùng hạ lưu, đặc biệt là chế độ mặn tại vùng cửa sông Các hệ sinh thái ven biển đặc hữu của vùng biển nhiệt đới, như rạn san hô và rong biển, được xác định là môi trường sống quan trọng của rất nhiều loài động vật biển có giá trị kinh tế và khoa học, cũng đã và đang bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
3.1.2 Nguyên nhân sâu xa về kinh tế, xã hội và chính sách
Tăng trưởng dân số
- Dân số Việt Nam nằm ở ngưỡng 76,3 triệu người (1999) và tỷ lệ tăng dân số là 1,8% / năm Ở Việt Nam, tình hình tăng nhanh dân số là một trong những nguyên nhân gây nên suy thoái đa dạng sinh học Sự gia tăng dân số đòi hỏi sự gia tăng các nhu cầu thiết yếu hàng ngày như nguồn lương thực, thực phẩm, dinh dưỡng và các nhu cầu cơ bản khác, nhưng số lượng tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp là có hạn Hậu quả tất yếu là mở rộng đất rừng, thu hẹp môi trường sống của động vật hoang dã và suy giảm đa dạng sinh học
- Dân số Việt Nam phân bố không đồng đều, có khoảng 77% dân số sinh sống ở nông thôn và miền núi Thông thường gia tăng dân số ở vùng núi (vùng có đa dạng sinh học) cao hơn vùng đồng bằng Dân số tăng nhanh ở miền núi và ven biển chắc chắn gây áp lực đánh bắt quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả tài nguyên rừng và thủy sản, ảnh hưởng xấu đến môi trường và các hệ sinh thái
Sự di dân
- Ở miền Bắc, từ năm 1960, Chính phủ đã huy động 1 triệu người từ miền xuôi lên miền núi để canh tác và sinh sống Động thái này đã làm thay đổi cán cân dân số của vùng núi phía Bắc
- Từ năm 1975, các chính sách về việc bố trí lại dân cư vào khai hoang đã được một bộ phận nhỏ người dân vùng cao miền đông nam bộ và miền trung thực hiện Đặc biệt từ những năm 1990, đã có nhiều làn sóng di cư tự do từ vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, bao gồm cả đồng bằng Bắc Bộ, các làng dân tộc miền núi phía Bắc, đến các bang miền Nam tập trung nhiều hơn ở miền Tây Do kết quả của quá trình di cư có kế hoạch và di cư tự do, dân số của Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đã tăng lên đáng kể, và tất nhiên đã tác động mạnh đến tài nguyên rừng và đa dạng sinh học, cũng như sự phát triển của các hệ sinh thái tự nhiên
Sự nghèo đói
- Việt Nam là một nước nghèo và sinh kế vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên Nghèo đói nhất là ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, nơi đa dạng sinh học cao nhất
- Trong các khu bảo tồn được khảo sát, 90% dân số địa phương sống dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp Hầu hết
họ đều thiếu đất canh tác, mức sống của các gia đình thấp, hơn 50% số gia đình thuộc diện hộ nghèo Theo quy luật, người nghèo thường không có đất hoặc sống ở vùng đất nghèo Người nghèo không có vốn để đầu tư, sản xuất và bảo vệ tài nguyên Họ buộc phải sử dụng các nguồn động vật hoang dã để sinh sống và kết quả là các nguồn tài nguyên đó bị khai thác nhanh hơn
Chính sách kinh tế vĩ mô
Lịch sử phát triển kinh tế vĩ mô của Việt Nam có thể chia thành hai thời kỳ lớn là thời kỳ trước Đổi mới và thời kỳ Đổi mới
- Giai đoạn trước đổi mới:
Cho đến năm 1975, kinh tế của Việt Nam thực chất là nền kinh tế thời chiến Nhu cầu cấp bách của chiến tranh, bao gồm cả việc phát triển đầy đủ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả rừng, đều được đáp ứng Ngay
cả sau khi hòa bình lập lại, đất nước thống nhất vào năm 1975, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, suy thoái nghiêm trọng bùng phát vào đầu những năm 1980 Trong thời gian này, gỗ được sử dụng rộng rãi để sử dụng và xuất khẩu
- Giai đoạn đổi mới:
Việc đổi mới đã mang lại cho nền kinh tế Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới Tuy nhiên, các nghiên cứu môi trường gần đây đã chỉ ra rằng các hệ sinh thái đất và rừng đang bị suy thoái Chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu
Trang 10các sản phẩm nông lâm kết hợp chất lượng cao là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học Các lợi ích kinh tế đã kích thích khu vực kinh tế tự do thay đổi tập quán nông nghiệp, đất đai và đất ngập nước cho nhiều mục đích khác nhau Do đó, diện tích rừng tự nhiên ngày càng thu hẹp
- Chính sách khai thác và xuất khẩu gỗ tròn được thúc đẩy từ thời kỳ Đổi mới Đến năm 1990, xuất khẩu gỗ tròn
đã đem lại lợi nhuận khoảng 126,5 triệu đô la Mỹ Đây cũng là thời điểm độ che phủ của rừng thấp nhất Kể từ năm 1990, khi biên giới phía Bắc được mở cửa trở lại, nạn săn bắn trái phép và xuất khẩu động vật hoang dã đã gia tăng
3.1.3 Giải pháp ngăn chặn suy thoái đa dạng sinh học tại Việt Nam
- Chiều 30/5/2017, Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo tại Hà Nội với chủ đề “Đa dạng sinh học
và phát triển du lịch bền vững của Việt Nam” Tiến sĩ Phạm Anh Cường, Bộ môn Bảo tồn Đa dạng Sinh học, Khoa Môi trường, cho biết: Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia đa dạng sinh học nhất thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái tự nhiên, các loài sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc hữu Đa dạng sinh học của Việt Nam mang lại lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp đáng kể vào nền kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Ngoài ra, đa dạng sinh học còn là nguồn cảm hứng văn hóa nghệ thuật gắn liền với đời sống tinh thần của người Việt Nam từ hàng nghìn năm nay Các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được ưu tiên bảo vệ hiện đang bị đe dọa do tình trạng khai thác, buôn bán và tiêu thụ trái phép các loài động thực vật hoang dã diễn ra phức tạp Nhiều giải pháp, bao gồm: Tăng cường quản lý bảo vệ và phát triển, phát triển rừng và bảo tồn đa dạng sinh học Tăng cường triển khai các sản phẩm tài chính mới để bảo vệ đa dạng sinh học, xã hội hóa bảo vệ loài
- Theo ông Vương Quốc Chiến, việc tiếp cận việc bảo tồn đa dạng sinh học bằng cách tập trung giải quyết nguyên nhân trực tiếp chưa giải quyết triệt để được vấn đề Vì vậy, nên lồng ghép đa dạng sinh học vào nhiều lĩnh vực khác nhau thuộc sản xuất kinh tế, trong đó, các doanh nghiệp sản xuất sẽ đóng vai trò những nhân tố quan trọng đóng góp tích cực vào tiến trình tạo ra sự thay đổi trong việc bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam
- Theo bà Hoàng Thị Thanh Nhàn, việc lồng ghép bảo vệ đa dạng sinh học trong lĩnh vực kinh tế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học Báo cáo "Đánh giá-Phân tích Đa dạng sinh học của Việt Nam về tác động từ nhiều ngành kinh tế" và nghiên cứu tiếp theo về Sáng kiến BIODEV2030 của Việt Nam sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có được bức tranh toàn cảnh về tác động của ngành kinh tế đối với đa dạng sinh học Đây là một trong những nghiên cứu độc lập cung cấp thông tin hữu ích Do đó, nó góp phần xây dựng các chính sách phù hợp để thúc đẩy và phát triển các mô hình sản xuất Tăng cường các chính sách cho sản xuất bền vững, thân thiện với môi trường, nền kinh tế xanh, phát triển kinh tế vòng tròn và giảm thiểu tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học
Tài liệu thàm khào
3, n (không ngày tháng) Google Được truy lục từ sites.google.com:
https://sites.google.com/site/motsovandevemoitruongnhom3/TNamdeptrai
Cổng thông tin điện tử Vườn quốc gia Hoàng Liên (2017, 3 17) Được truy lục từ laocai.gov.vn:
https://www.laocai.gov.vn/1258/28490/45832/262972/tong-quan/nguyen-nhan-gay-suy-thoai-da-dang-sinh-hoc-viet-nam#:~:text=n%C6%A1i%20sinh%20c%C6%B0.-,S%E1%BB%B1%20suy%20gi%E1%BA%A3m%20v%C3%A0%20s
%E1%BB%B1%20m%E1%BA%A5t%20%C4%91i%20n%C6%A1i%20sinh%20c%C6%B0,