1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) vận dụng linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học một số tác phẩm văn xuôi ngữ văn 12 tại trường THPT đào duy từ

42 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Linh Hoạt Các Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Một Số Tác Phẩm Văn Xuôi Ngữ Văn 12 Tại Trường THPT Đào Duy Từ
Tác giả Nguyễn Thị Vân
Trường học Trường THPT Đào Duy Từ
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sẽ dẫn tới hệ quả ngược, mục tiêu không những không đạt được mà bài học còn bị phánát, học sinh hoàn toàn không có cảm xúc thực sự với tác phẩm.Dạy học tích cực là một trong những phương

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

Trang 2

Nội dung Trang

1 MỞ ĐẦU . 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

1.5 Những điểm mới của SKKN 3

2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở lí luận 4

2.2 Thực trạng việc dạy – học Ngữ văn 5

2.3 Các giải pháp đã sử dụng 6

2.3.1 Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực 6

2.3.2 Một số phương pháp dạy học tích cực đã sử dụng 7

2.3.3 Một số kĩ thuật dạy học tích cực đã sử dụng 11

2.4 Hiệu quả của sáng kiến 16

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………

3.1 Kết luận………

3.2 Kiến nghị

Tài liệu tham khảo.

Phụ lục: Giáo án thực nghiệm bài “ Vợ nhặt” – Kim Lân.

20 20 21

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.

Nền giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây đã và đang thực hiện bướcchuyển đổi từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của ngườihọc Chính vì vậy, yêu cầu của đổi mới giáo dục là phải thực hiện thành công việc chuyểnđổi từ phương pháp dạy học theo lối truyền thụ một chiều sang dạy cách học, cách vậndụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Đồng thời cũngchuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra đánh giánăng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả họctập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để tác động kịp thời nhằm nâng cao chấtlượng của các hoạt động dạy học Đồng thời để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chươngtrình, sách giáo khoa giáo dục phổ thổng sau năm 2018 thì việc đổi mới đồng bộ phươngpháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lựcngười học là vô cùng cần thiết Trong đó, môn Ngữ Văn được coi là môn học công cụ cóvai trò rất quan trọng đối với việc định hướng phát triển năng lực học sinh Bởi dạy Văn

là khám phá cái hay, cái đẹp từ những tác phẩm văn chương nhằm khơi dậy, hình thành

và phát triển nhân cách cho học sinh, bồi dưỡng cho các em tri thức hiểu biết và làmphong phú đời sống tâm hồn, hướng các em tới Chân – Thiện -Mĩ – những giá trị đíchthực của cuộc sống

Đổi mới phương pháp là con đường duy nhất nhưng đổi mới và vận dụng phươngpháp dạy học tích cực môn ngữ văn như thế nào để vừa phù hợp với định hướng, mụctiêu mới của giáo dục, vừa không làm mất đi cái hay cái đẹp vốn có của môn Ngữ Văn,vừa để mang lại hiệu quả là vấn đề rất được quan tâm hiện nay Bởi các tác phẩm văn họcthường chứa đựng giá trị đa nghĩa, trong khi đó người học lại tiếp nhận theo tính chủquan Làm thế nào để giúp học sinh tiếp cận, cảm nhận và hiểu sâu sắc về tác phẩm cũngnhư phát huy được năng lực, sự sáng tạo của mình luôn là một vấn đề băn khoăn của mỗigiáo viên đứng lớp Chúng tôi cũng đã tiến hành nhiều giờ học nghiên cứu đổi mớiphương pháp ở cả tập thẩ và cá nhân, nhưng điều lớn nhất chúng tôi rút ra được chính là:Không có một phương pháp nào tối ưu cho mọi giờ học Vì thế trong quá trình giảng dạy,người giáo viên cần có sự vận dụng linh hoạt và phù hợp các phương pháp và kĩ thuật dạyhọc tùy từng bài học và từng đối tượng học sinh Mọi sự vận dụng máy móc, khiên cưỡng

Trang 4

sẽ dẫn tới hệ quả ngược, mục tiêu không những không đạt được mà bài học còn bị phánát, học sinh hoàn toàn không có cảm xúc thực sự với tác phẩm.

Dạy học tích cực là một trong những phương pháp được áp dụng phổ biến nhấttrong các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Các phương pháp và kĩthuật dạy học tích đã tạo nên hiệu quả rõ rệt trong cách dạy và học Ngữ Văn, vừa kíchthích khả năng tự học, tính chủ động sáng tạo, vừa bớt đi sự nhàm chán đơn điệu, họcsinh không còn cảm thấy chán nản mỗi khi bước vào giờ học, học sinh được chủ độngtham gia vào bài học Vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực không cónghĩa là hoàn toàn thay thế các kĩ thuật dạy học truyền thống mà vẫn cần tận dụng vàphát huy những ưu điểm từ phương pháp dạy học truyền thống, tránh việc vì quá sa đàvào các kĩ thuật mới mà quên đi mục tiêu cốt lõi của một giờ giảng văn, làm mất đi tínhchất của văn chương Bởi suy cho cùng phương pháp hay kĩ thuật nào đi chăng nữa mụcđich cuối cùng là cần tạo ra sự hứng thú thực sự, khiến học sinh cảm nhận được cái haicái đẹp của tác phẩm văn học

Xuất phát từ những lí do mang tính thực tiễn đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “ vận dụng linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học một số tác phẩm văn xuôi Ngữ Văn 12 tại Trường THPT Đào Duy Từ ” nhằm gợi mở một hướng

đi giúp học sinh chủ động tích cực trong việc tiếp cận tác phẩm văn xuôi Ngữ văn 12

1.2 Mục đích nghiên cứu :

Mục đích nghiên cứu đề tài này là nêu lên sự cần thiết trong việc vận dung linhhoạt một số phương pháp và kĩ thuật dạy học vào dạy những tác phẩm văn xuôi trongchương trình Ngữ văn 12, trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng để từ đó góp phần rènluyện tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh trong giờ học Ngữ Văn Đồng thờigiúp các em tiếp cận tri thức một cách hiệu quả nhất

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

+ Khách thể: Học sinh lớp 12C1; 12C4; 12C5 Trường THPT Đào Duy Từ - ThanhHóa

+ Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực nhằm giúp học sinh phát huy tính sáng tạo trong những giờ đọc - hiểu tác phẩm vănxuôi ở chương trình ngữ văn 12

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Trang 5

Để nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Các phương pháp nghiên cứu lí luận

+ Phương pháp so sánh, đối chiếu: Nhằm chỉ rõ cách làm khác, hay có hiệu quả Đồngthời đối sánh giữa lí thuyết khoa học và vận dụng thực hành

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tổng hợp và phân tích làm rõ vấn đề bằng lĩ lẽkhoa học và dẫn chứng thực tiễn

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát theo dõi học sinh hoạt động trong tất cảcác giờ đọc - hiểu tác phẩm văn học

+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm những biện pháp nhằm rènluyện tính chủ động, sáng tạo cho học sinh trong thời gian một học kì và so sánh kết quảthực nghiệm với kết quả thực trạng ban đầu chưa thực nghiệm, để đánh giá kết quả củathực nghiệm có thành công hay không

+ Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Trong quá trình dạy học tôi thường xuyên tròtruyện gần gũi với học sinh, trong giờ học hay ngoài giờ học, nhằm tạo cho học sinh tính

tự tin, mạnh dạn Để thăm dò mức độ biểu hiện của từng học sinh, từ đó lập kế hoạchhướng dẫn rèn luyện cho phù hợp với từng đối tượng học sinh

- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lýcác kết quả nghiên cứu

1 5 Những điểm mới của SKKN.

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực chính là việc thực hiện cácbước để chuyển chương trình học từ việc tiếp cận nội dung thành tiếp cận năng lực củahọc sinh Điều này có nghĩa là, thay vì quan tâm đến việc học sinh học được gì, thì sẽquan tâm đến việc học sinh sẽ vận dụng được những gì thông qua quá trình học tập.Muốn thực hiện được điều này, cần phải thay đổi phương pháp dạy học từ thụ độngthành chủ động Học sinh sẽ có cơ hội rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức được học,hình thành năng lực và hoàn thiện về nhân cách, phẩm chất

Sáng kiến kinh nghiệm này sẽ góp thêm vào việc bồi dưỡng và hình thành nhữngnăng lực trong khi học tập môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và nângcao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông: Năng lực giaotiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mỹ là năng lực mang tínhđặc thù của môn học; ngoài ra năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng

Trang 6

lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác địnhnội dung dạy học của môn học Cụ thể như sau:

- Năng lực giải quyết vấn đề được đặt ra trong bài học về nội dung tư tưởng, nghệthuật, từ đó phát hiện những vấn đề thực tiễn đời sống gợi ra từ tác phẩm

- Năng lực tưởng tượng và sáng tạo, nảy sinh những ý tưởng mới trong học tập, cuộcsống

- Năng lực hợp tác, phối hợp tương tác lẫn nhau để đạt tới mục tiêu chung của bài học

- Năng lực tự quản, tự làm chủ cảm xúc, điều chỉnh thái độ và hành vi

- Năng lực giao tiếp và sử dụng tiếng Việt, sử dụng linh hoạt vào các tình huống phạm

vi khác nhau của đời sống

- Năng lực thẩm mĩ, cảm nhận được cái hay các đẹp của nghệ thuật và đời sống, bồiđắp tâm hồn phong phú và tinh tế

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lý luận:

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã phân tích và nhận định sâusắc thực trạng phương pháp giảng dạy ở nước ta thời gian qua còn chậm đổi mới, chưaphát huy được khả năng sáng tạo của người học và yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phươngpháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành lối tư duysáng tạo ở người học

Luật giáo dục của nước CHXHCNVN trong điều 4 (yêu cầu về nội dung phương

pháp giáo dục) cũng chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo ở người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập

và ý chí vươn lên” (Luật Giáo dục - trang 9 - 1998)

Muốn xác lập hệ thống các phương pháp dạy học ngữ văn trước tiên chúng ta cầnxác định nội dung môn học, xác định các hoạt động cơ bản để đạt được kết quả của mônhọc, rồi từ đó mà xác định các phương pháp cụ thể đặc thù của bộ môn Phương pháp dạyhọc ngữ văn phụ thuộc vào đặc trưng của bộ môn Môn ngữ văn là môn học mới được tổchức từ các bộ môn cũ theo tư tưởng tích hợp Tích hợp đây hiểu theo nghĩa là liên kết trithức để chúng thúc đẩy nhau tạo thành tri thức mới Tích hợp ngôn ngữ với văn tự (chữviết), ngôn ngữ với bài văn (văn bản), ngôn ngữ với văn học, ngôn ngữ với văn hoá, ngônngữ nói với ngôn ngữ viết, ngôn ngữ với lời nói Tích hợp các phương diện ấy mới nâng

Trang 7

cao năng lực ngôn ngữ và văn học cho HS Hai tính chất của ngữ văn: tính công cụ,tínhnhân văn Tính công cụ thể hiện ở yêu cầu dạy cho HS năng lực sử dụng ngữ văn nhưmột công cụ giao tiếp, bao gồm các kỉ năng nghe nói đọc viết Nghe gồm năng lực chú ý,nghe hiểu bài giảng, lời phát biểu, lời thảo luận,,, Nói gồm năng lực phát biểu trên lớp,thảo luận, phỏng vấn, trả lời câu hỏi, kể chuyện thuyết minh vấn đề… Đọc bao gồm đọcvăn học và đọc các loại văn khác Viết bao gồm năng lực viết các văn bản nghị luận xãhội, nghị luận văn học, viết bản tóm tắt, văn bản thuyết minh… Các tính chất khác củamôn ngữ văn: tính tổng hợp, tính thực tiễn, tính tri thức, tính thẩm mĩ, tính xã hội Theođặc trưng bộ môn ngữ văn thì các hoạt động của nó chủ yếu chủ thể học sinh phải thựchiện để có được tri thức và năng lực tương ứng là nghe, nói, đọc, viết, mà chủ yêú là đọc

(nghe) và viết (nói), cụ thể là đọc (nghe) văn và làm văn (viết và nói) Hoạt động giảng của thầy là một phương tiện dạy học, nhưng không phải là phương pháp cơ bản của việc

dạy học văn

Trong giai đoạn hiện nay, toàn ngành giáo dục đang tích cực đổi mới phương phápdạy học, giáo viên là người hướng dẫn còn học sinh là trung tâm của quá trình giáo dụcnhằm góp phần phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh Mỗi giáo viên đều nỗ lực,đồng hành cùng Ngành trong cuộc đổi mới đó nhằm tìm ra phương pháp và kĩ thuật dạyhọc phù hợp với đối tượng học sinh và nội dung trọng tâm của bài học

2.2 Thực trạng việc dạy – học Ngữ văn.

Trang 8

Hiện nay ở trường THPT môn Ngữ văn không chỉ là môn học bắt buộc trong các

kì thi quan trọng của học sinh như: thi tuyển sinh lớp 10, thi tốt nghiệp THPT mà còn

là môn học giúp học sinh có thể hoàn thiện bản thân về đạo đức, nhân cách, về khả năngngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày và về năng lực nhận diện các hiện tượng xã hội.Nhưng trong thực tế, việc dạy và học văn hiện nay ở các trường phổ thông còn khô khan,nhàm chán không hấp dẫn, không thu hút được sự chú ý của học sinh và bản thân học

sinh cũng không quan tâm, đầu tư đúng mức cho môn học này, vì "Bi kịch của thời đại chúng ta là thừa trí tuệ và thiếu tâm hồn" (một nhà văn người Mê-hi-cô đã từng nói vậy).

Hơn thế, môn Ngữ văn là môn học thuộc nhóm công cụ, học tốt Ngữ văn sẽ có tác độngtích cực đến các môn học khác Vì không nhận thức đầy đủ về những lẽ trên nên Ngữvăn trở thành môn học khô, khó và vì thế nó được tìm hiểu, nghiên cứu bằng tinh thầnđối phó, bằng thái độ gượng ép của học sinh, bằng sự hụt hẫng, chán nản của những giáoviên tâm huyết và sự qua loa, chiếu lệ của những giáo viên không mấy gắn bó với nghề

Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì hiệu quả trong việc gây hứng thú cho học sinhtrong giờ dạy ngữ văn nói lên trình độ giáo dục văn học của nhà trường nói chung và củatừng giáo viên Văn học làm say mê người học nếu người dạy tạo được sự hứng thú tựthân nơi người học Người học văn cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong từ ngữ, bố cục,vần điệu khi có được sự hứng thú tìm hiểu và đưa đến cảm xúc Cái khó của người dạy

là làm thế nào truyền được cảm xúc của tác giả đến với người học.Vì vậy người giáoviên dạy văn không chỉ là người nghiên cứu khoa học mà còn phải là người nghệ sĩ, đạodiễn phải truyền cho học sinh mình ngọn lửa nhiệt huyết nghề nghiệp để hướng các emđến sự đồng cảm với thế giới văn học biết yêu, ghét, buồn, vui… hiểu rõ cái hay, cái đẹp

ẩn chứa trong từng câu thơ, câu văn, có cảm xúc thực sự đồng điệu với cảm xúc của tácgiả Từ đó mở mang tri thức, hình thành nhân cách của học sinh, giúp cho các em sự hiểubiết phong phú về mọi mặt của cuộc sống con người, xã hội và đất nước Bồi dưỡng chocác em một cuộc sống tâm hồn tươi đẹp, phong phú, rộng mở Từ đó khơi dậy niềm tựhào về đất nước, dân tộc mình và tình yêu cuộc sống

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.3.1 Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực.

- Phương pháp dạy học tích cực ( PPTC tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, đượcdùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huytính tích cực, chủ động sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động

Trang 9

hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết và phát hut tính tíchcực của người học chứ không phải của người dạy, tuy nhiên để dạy học thep phươngpháp tích cực thì người giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy học theo phương pháp thụđộng.

Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và họcsinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạyhọc Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học Kĩ thuậtdạy học tích cực chính là phương tiện để thực hiện các phương pháp dạy học tích cựcnêu trên

Việc sử dụng phương pháp tích cực có tác dụng lớn trong việc tăng cường sựtương tác, thực hành của học sinh ở trong mỗi tiết học Đặc biệt, giúp học sinh nhớ lâu

và sâu các kiến thức thông qua hoạt động tự tư duy, tìm tòi, khám phá Giáo viên sẽ sửdụng nhiều cách để gợi mở về vấn đề thông qua các hoạt động tương tác, câu hỏi vấnđáp, thảo luận nhóm…

2.3.2 Một số phương pháp dạy học tích cực đã sử dụng vào dạy và học Ngữ văn

Vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giờ học tác phẩm Ngữvăn là áp dụng linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học sao cho phát huy tối đatính chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học trên cơ sở đảm bảo tính chất của monhọc, tôn trọng đặc trưng từng tác phẩm và hướng tới hình thành các năng lực môn họctheo đúng yêu cầu phát triển năng lực của bộ môn Ngữ văn đã nêu ở trên Đồng thời, dùvận dụng phương pháp và kĩ thuật nào, để thực sự thành công trong việc hướng dẫn họcsinh tiếp cận tác phẩm, giáo viên cũng luôn cần lưu ý đến đặc trưng riêng của từng thểloại

a Phương pháp đọc hiểu.

Đây là phương pháp giáo viên giúp học sinh đọc trực tiếp văn bản, tự mình cảm nhận, lígiải, thưởng thức, ghi nhớ văn bản Đọc – hiểu là hoạt động duy nhất để học sinh tiếpxúc trực tiếp với các giá trị văn học, tránh sự áp đặt từ bên ngoài kể cả từ thầy cô, ngănchặn được sự suy giảm năng lực đọc của học sinh trong điều kiện các phương tiện nghenhìn ngày càng phổ biến… Điều này rất phù hợp với qui luật tiếp nhận văn học và quiluật phát triển tư duy cũng như sự hình thành nhân cách

Quy trình cơ bản của đọc hiểu.

Trang 10

- Đọc kĩ: đọc kĩ trước hết phải đọc thật nhiều lần Đây là một kiểu đọc có tần số cao.Đọc để giới hạn quang cảnh và bối cảnh xã hội và những vấn đề của nó và để tìm vấn

đề ( tính có vấn dề) của con người qua việc xác lập đường dây sự kiện, tình huống,trạng thái trong quan hệ với nhân vật văn học

- Đọc sâu: Đọc đẻ biểu hiện, làm bộc lộ mối liên hệ thống nhất nhiều mặt cua đời sống

và nghệ thuật, của trí tuệ và tình cảm ngày càng bao quát trọn vẹn văn bản Đọc chậm,phát hiện những cái mới lạ của từ ngữ, hình ảnh, sự kiện của thế giới suy tư và tâm tìnhnhân vật qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại trong giao tiếp với môi trường sống củanhân vật trong tác phẩm

- Đọc sáng tạo: đọc để bổ sung những nội dung mới, làm giàu có về ý nghĩa xã hội và ý

vị nhân sinh của tác phẩm Đọc biểu hiện sự đánh giá và thường thức giá trị vĩnh hằngcủa tác phẩm đối với đời sống

Với đọc hiểu trong nhà trường, giáo viên và học sinh có thể thực hiện theo cách:

- Chuẩn bị: Học sinh đọc tiểu dẫn về văn bản; đọc kĩ tác phẩm ở nhà; đọc kĩ chúthích; đọc và trả lời hệ thống câu hỏi đọc hiểu; đối chiếu, kiểm tra lại quá trình đọc hiểu,xem kĩ phần ghi nhớ trong SGK

- Giờ học trên lớp: Gv cho HS đọc diễn cảm, sau đó học sinh đưa ra cách hiểukhác nhau đối với văn bản và thảo luận các câu hỏi ở phần hướng dẫn đọc hiểu và câuhỏi có liên quan tới văn bản

b Phương pháp thảo luận nhóm

Trong số các phương pháp dạy học tích cực môn ngữ văn, phương pháp thảo luận

nhóm thường được giáo viên sử dụng, bởi nó tạo ra sự sôi nổi trong tiết học và giúp các

em học sinh có được khả năng tư duy, tính tự giác, trách nhiệm và năng lực giao tiếp.Phương pháp thảo luận nhóm đặc biệt mang lại hiệu quả trong các giờ dạy đọc hiểuNgữ Văn Để thực hiện, giáo viên cần chia lớp thành các nhóm nhỏ, đưa ra vấn đề, quyđịnh thời gian để các nhóm thảo luận và trình bày kết quả của nhóm trước lớp Tuy nhiênthực tế qua việc dự giờ đồng nghiệp , tôi thấy rằng nhiều người có sử dụng phương phápnày chỉ mang tính hình thức, chưa đem lại hiệu quả giáo dục Có tình trạng thảo luậnnhóm nhưng chỉ có một, hai người trong mỗi nhóm là làm việc còn những thành viênkhác ngồi chơi hoặc không tích cựa Khi nhận xét kết quả có tình trạng qua loa, quánhanh khiến học sinh trong lớp không nắm bắt được đâu là nội dung đúng, sai, trọng tâmcần nắm Chính vì vậy để phương pháp này đem lại hiệu quả, góp phần khơi dậy sự hào

Trang 11

hứng trong học tập theo tôi, người giaó viên cần chủ động tổ chức thảo luận nhóm mộtcách linh hoạt Tùy từng đơn vị kiến thức, quỹ thời gian trong bài học mà chọn phươngpháp thảo luận nhóm cho phù hợp.

Qua quá trình giảng dạy, tôi thấy rằng khi dạy các bài đọc hiểu văn bản truyện mà cóphần kiến thức về lịch sử, văn hóa, xã hội có liên quan thì việc sử dụng phương pháp nàytrong hoạt động khởi động rất hiệu quả, tạo được sự hứng thú cho học sinh, tránh nhàmchán, lớp trầm lắng Đặc biệt tránh tình trạng day những bài này theo cách truyền thống

là giáo viên thuyết trình vào bài Để cải thiện tình trạng này và sử dụng phương phápthao luận nhóm hiệu quả, tạo sự hứng thú cho học sinh tôi đã thực hiện như sau:

Cách thực hiện:

Bước 1: Chuẩn bị (Chủ đề; Nội dung; Phương tiện hỗ trợ)

Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ( Chia lớp thành từng nhóm; Bầu nhóm trưởng; Giáo viênquan sát, kiểm tra và hướng dẫn nếu cần thiết; Yêu cầu tất cả các thành viên phải tíchcực tham gia thảo luận – có sản phẩm thảo luận và nguồn minh chứng đánh giá kết quảcủa các thành viên)

Bước 3: Trình bày kết quả ( Cử thành viên trong nhóm trình bày kết quả trước lớp; Cácnhóm còn lại đánh giá, bổ sung ý kiến; Giáo viên tổng kết, đánh giá và đưa ra kết luận

-VD: Khi dạy bài “ Vợ chồng A Phủ” GV chia nhóm và chuyển giao nhiệm vụ học tập cho học sinh bằng trò chơi Lật mảnh ghép với những từ khóa và hình ảnh ghép có liên quan đến các từ khóa: Ném pao; Ném còn; Múa khèn; Chơi quay; Tây Bắc

 Các thành viên trong nhóm sẽ thảo luận và viết lại những thông tin hiểu biết củamình, sau đó sẽ cử một học sinh đại diện trình bày nội dung kiến thức có liên quan đếnmảnh ghép của bức tranh, sau khi tất cả các mảnh ghép được mở thì giáo viên sẽ chốtchủ đề liên quan đến tác phẩm ( Thời gian chuẩn bị 3 phút cho mỗi chủ đề và 3 phút choviệc trình bày) Sau khi đại diện các nhóm trình bày tôi sẽ đưa ra các tiêu chí sửa chocác em: nhận xét, bổ sung, chấm điểm Nhận xét, sửa lỗi về nội dung kiến thức: đúngchủ đề, đầy đủ, sâu sắc Nhận xét, sửa lỗi về nội dung kỹ năng: Phong thái; phươngpháp trình bày Cách dùng từ, diễn đạt rõ ràng lưu loát Qua thực tế bài dạy ở ba lớp12C1; 12C4; 12C5 tôi thấy các em rất hào hứng và tích cực làm công việc của mình.Các em còn thấy vui và hứng khởi vì mình không chỉ tham gia vào quá trình học màcòn tham gia vòa quá trình “dạy”

Trang 12

c. Phương pháp đóng vai

Là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày những suy nghĩ, cảmnhận và ứng xử theo một “vai giả định” Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp họcsinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của ngườitrong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được từ vai của mình

Cách thực hiện:

Bước 1: Giáo viên đưa chủ đề, chia lớp thành từng nhóm và giao tình huống cho các nhóm Đồng thời quy định rõ về thời gian thảo luận, thời gian đóng vai

Bước 2: Các nhóm phân chia vai diễn, thảo luận đóng vai

Bước 3: Các nhóm lần lượt thực hành đóng vai

Bước 4: Các thành viên còn lại trong lớp nhận xét, đánh giá về cảm xúc, cách ứng xử củanhân vật đóng vai

Bước 5: Giáo viên đánh giá, kết luận và định hướng về cách ứng xử phù hợp nhất

Ví dụ: Giáo viên có thể giao cho học sinh biên soạn lời thoại và diễn một đoạn kịch dựatheo chi tiết: Kịch bản chuyển thể từ truyện ngắn Vợ Nhặt, đoạn diễn cảnh 2 lần gặp gỡ của Tràng và thị:

Cảnh 1: Tràng gò lưng kéo xe, mấy chị con gái ngồi vêu ra:

Tràng: (Lẩm bẩm, vẻ nghĩ ngợi)

- Chắc lại ngồi nhặt hạt rơi hạt vãi hay có ai kêu thì đến làm đây mà

(Hò thật vui, khuôn mặt vẫn ra vẻ cực nhọc)

- Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!

Mấy cô gái: (đẩy vai nhau, cười nắc nẻ)

- Kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng mấy giò thì ra đẩy xe bò với anh í!

Thị: (cong cớn)

- Cóa khối cơm trắng mấy giò đấy!

- Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấyyyyyyy?

Tràng: (ngoái cổ lại, vuốt mồ hôi trên mặt, cười)

- Thật đấy! Có đẩy thì ra mau lên!

Thị: (vùng đứng dậy, lon ton chạy đến đẩy xe cho Tràng, liếc mắt, cười tít)

- Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ?

Trang 13

Cảnh 2: Tràng đang ngồi uống nước.

Thị: (chạy sầm sập đến, chống nạnh, sừng sỉa nói)

- Điêu! Người thế mà điêu!

- Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt!

Tràng: (ban đầu ngơ ngác, ra chiều ko hiểu, gương mắt nhìn Sau nhớ ra, toét miệng cười, nỏi)

- Chả hôm ấy thì hôm nay vây.

- Này, hẵng ngồi xuống ăn miếng giầu đã!

Thị: (hếch mặt lên, cong cớn)

- Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu

Tràng: - Đây, muốn ăn gì thì ăn.

(Vỗ vỗ vào túi)

- Rích bố cu, hở!

Thị: (mắt sáng lên, đon đả)

- Ăn thật nhá! Ừ ăn thì ăn sợ gì.

(cắm đầu cắm cổ ăn, xong lấy đũa quệt ngang miệng, thở)

- Hà, ngon! Về chị thấy hụt tiền thì bỏ bố!

ta yêu em bằng mấy đồng bánh vặt.

Ta yêu em qua đông tàn ngày tận.

Yêu em như yêu vùng trời mênh mông Không cần biết đêm dài sâu,

Trang 14

không cần biết bao gầy hao.

Ta ngồi đếm tên thời gian, nghe thương yêu dâng cao như ngọn đồi, như xa xôi nay quay về gần gũi.

Yêu em khi chỉ biết đó là em

ĐK :

Để rồi từ đó , ta yêu em không ngại ngần

Để rồi từ đó trong bước chân nghe gần hơn

2.3.3 Một số kỹ thuật dạy học tích cực đã sử dụng vào dạy và học Ngữ văn.

a Kỹ thuật hỏi và và trả lời

Trong phương pháp dạy học tích cực môn ngữ văn, đây là kỹ thuật dạy học giúp học

sinh củng cố và nhớ sâu các kiến thức đã được học thông qua kỹ năng đặt câu hỏi và trảlời các câu hỏi

Cách tiến hành:

Giáo viên đưa ra chủ đề

Giáo viên/ học sinh sẽ là người đặt câu hỏi có liên quan đến chủ đề đưa ra và yêu cầuhọc sinh nào đó trả lời câu hỏi

Bạn học sinh sau khi trả lời xong sẽ có quyền đặt câu hỏi cho một bạn học sinh khác trảlời Quá trình này cứ tiếp tục cho đến khi giáo viên yêu cầu dừng lại

VD: khi tìm hiểu về nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ Nhặt – Kim Lân

GV Chuyển giao nhiệm vụ học tập:

GV đã giao cho HS thực hiện phiếu KWL ở nhà trước tiết học.

K (thực hiện tại nhà) W (thực hiện tại nhà) L (thực hiện sau khi thảo

luận trong tiết học)

Trang 15

(HS ghi các thông tin đã

biết về nhân vật Tràng sau

khi đọc truyện)

(HS tự đặt các câu hỏi: thôngtin muốn tìm hiểu thêm, điềumuốn lí giải về nhân vậtTràng)…

(HS ghi các câu trả lời,chốt các thông tin vềTràng)

Thực hiện nhiệm vụ học tập:

HS điền thông tin cột K và W ở nhà

GV tổ chức các nhóm thảo luận để học sinh hợp tác tìm thông tin điền vào cột L

Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập:

GV gọi từ 2 HS trình bày thông tin đã điền ở cột K và W GV chốt các thông tin cột K

GV tổ chức HS chia nhóm thảo luận HS hợp tác tìm thông tin điền vào cột L GV quansát quá trình làm việc của các nhóm và giúp đỡ HS

GV bổ sung, hướng dẫn HS chốt các ý như sau:

- Có vẻ ngoài thô kệch, xấu xí, thân phận nghèo hèn, …

- Nhưng có tấm lòng nhân hậu: sẵn lòng cho người đàn bà xa lạ một bữa ăn giữa lúcnạn đói, sau đó đưa về đùm bọc, cưu mang

- Lúc đầu Tràng cũng có chút phân vân, lo lắng: Nhưng rồi, sau một cái “tặc lưỡi”,Tràng quyết định đánh đổi tất cả để có được người vợ, có được hạnh phúc

 Bên ngoài là sự liều lĩnh, nông nổi, nhưng bên trong chính là sự khao khát hạnh phúclứa đôi Quyết định có vẻ giản đơn nhưng chứa đựng tình thương đối với người gặpcảnh khốn cùng

Trang 16

- Trên đường về:

+ Anh rất vui, lòng lâng lâng khó tả:

“hắn tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”

+ Cũng có lúc “lúng ta lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai bên kia người đàn bà”

+ Sự xuất hiện của người vợ như mang đến một luồng sinh khí mới:

“Trong một lúc, Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghe gớm đang đe doạ, quên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên”

+ Lần đầu tiên hưởng được cảm giác êm dịu khi đi cạnh cô vợ mới:

“Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng.”

- Buổi sáng đầu tiên có vợ:

+ Tràng cảm nhận có một cái gì mới mẻ:

“Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”

+ Tràng thay đổi hẳn:

- Tràng biết hướng tới một cuộc sống tương lai tốt đẹp hơn:

“Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”

=> Những con người đói khát gần kề cái chết vẫn khao khát hạnh phúc gia đình, vẫn cưumang đùm bọc lẫn nhau và luôn có niềm tin vào tương lai

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

GV hướng dẫn, yêu cầu HS tự nhận xét, đánh giá kết quả làm việc của nhóm dựa trênphiếu KWL

b Kỹ thuật trình bày 1 phút

Với kỹ thuật này học sinh sẽ có cơ hội để tổng kết lại toàn bộ kiến thức đã được học.Đồng thời đưa ra các câu hỏi về những vấn đề vẫn còn băn khoăn,vẫn còn chưa hiểu

Trang 17

thông qua bài trình bày ngắn gọn ở trên lớp Qua kỹ thuật này, giáo viên có thể nắmđược khả năng hiểu bài của học sinh đến đâu.

Cách thực hiện:

Vào cuối hoặc giữa buổi học, giáo viên sẽ đặt ra các câu hỏi như: Vấn đề nào làquan trọng nhất mà các em đã được học trong bài học ngày hôm nay? Có vấn đề gì quantrọng mà các em chưa hiểu, cần được giải đáp?…

Học sinh suy nghĩ và viết các câu trả lời ra giấy Câu trả lời có thể được thể hiệndưới hình thức khác nhau

Lần lượt các em học sinh trình bày trước lớp về điều được học và điều còn thắcmắc

VD - GV chuyển giao nhiệm vụ học tập:

?Vợ chồng A Phủ là câu chuyện về một đôi trai gái người ông ở miền núi cao Tây bắc

cách đây mấy chục năm Tuy nhiên, nhiều vấn đề đặt ra trong câu chuyện này khôngphải chỉ là chuyện của ngày hôm qua mà còn là chuyện của hôm nay Anh/chị suy nghĩ

gì về điều này?

Suy nghĩ và trao đổi với bạn bè

Gợi ý: Truyện đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa nhân sinh, nhân bản, vẫn còn nguyêngiá trị và tính thời sự cho đến tận hôm nay:

+ Con người cần được sống cho ra sống, không thể sống mà như đã chết được

+ Hạnh phúc phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu đích thực Mọi sự áp đặt, ép buộcđều có nguy cơ dẫn đến bi kịch trong cuộc sống gia đình

+ Cần phải đấu tranh với những hủ tục lạc hậu vẫn còn rơi rớt trong xã hội hiện đại,nhất là ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa

+ Cần phải đấu tranh với nạn bạo hành gia đình

c Tạo không khí sôi nổi qua hình thức trò chơi hoặc giáo dục kĩ năng sống

- Tạo ra tiết học thoải mái, đan xen kể và liên hệ những câu chuyện đời sống để giáodục các em

- Tạo mối quan hệ thân thiện gần gũi với học sinh, sẵn sàng chia sẻ, lắng nghe traođổi về những vướng mắc của học sinh

Trang 18

Trò chơi sẽ đại diện cho một đơn vị kiến thức trong tiết học, giáo viên sử dụng tròchơi để triển khai các bước của một bài giảng Nếu là tiết ôn tập hoặc tiết khái quát, giáoviên có thể cho cả lớp chơi một trò chơi lớn, hoặc có thẻ vận dụng linh hoạt kĩ thuật nàytrong hoạt động kiểm tra bài cũ hoặc củng cố bài học Có rất nhiều trò chơi có thể áp

dụng trong dạy ngữ văn như: trò chơi ô chữ, trò chơi hùng biện, trò chơi ai nhanh tay, nhanh trí’ Lật mảnh ghép….

VD: + GV tổ chức trò chơi mảnh ghép khi học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa:

+Trình chiếu tranh ảnh, cho hs xem tranh ảnh (CNTT) – Câu hỏi và đáp án được trìnhchiếu

+Chuẩn bị bảng lắp ghép

+ Xem video clip về nhà văn, về kháng chiến chống Mĩ ở miền Nam

- HS thực hiện nhiệm vụ, báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:

+ Nhìn hình đoán tác giả Nguyễn Minh Châu

+ Lắp ghép tác phẩm với tác giả

+ Xem một đoạn video clip về cuộc sống của người dân vùng biển

=> Từ đó, giáo viên giới thiệu vào bài học

d Kĩ thuật sơ đồ tư duy:

VD: sơ đồ tư duy để tóm tắt những đặc điểm nội dung và nghệ thuật của truyện Vợ nhặt

thể hiện và ghi vào bảng phụ

Thực hiện nhiệm vụ học tập:

HS vẽ sơ đồ tư duy tổng hợp ý chính về nội dung và nghệ thuật của truyện Vợ nhặt

GV quan sát, nhắc nhở HS về quy tắc trình bày của sơ đồ tư duy (nét đậm để thể hiện ýchính, nét nhạt dần thể hiện các ý phụ, cách dùng từ khóa, biểu tượng, …)

Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập:

GV gọi từ 1 – 2 nhóm HS trình bày kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

GV tổ chức cho các nhóm nhận xét lẫn nhau và tự nhận xét

GV bổ sung, hướng dẫn HS chốt các ý :

* Giá trị nghệ thuật:

Trang 19

Vợ nhặt tạo được một tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí

nhân vật tinh tế, đối thoại sinh động

* Giá trị nội dung:

-Truyện thể hiện được thảm cảnh của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945

- Đặc biệt thể hiện được tấm lòng nhân ái, sức sống kì diệu của con người ngay bên bờvực thẳm của cái chết vẫn hướng về sự sống và khát khao tổ ấm gia đình

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

Căn cứ vào phần trình bày của các nhóm, GV lưu ý HS về cách vẽ sơ đồ tư duy

GV đánh giá kết quả làm việc của nhóm dựa trên rubric

Rubric ánh giá k t qu :đ ết quả: ả:

Nội dung yêu

Trang 20

Phần hình thức Sơ đồ của HS chưa

có sự thể hiện ýlớn, nhỏ, chưa biếtdùng từ

khóa, hình ảnh

Sơ đồ của HS có sựthể hiện ý lớn, nhỏ

Vài từ khóa, hìnhảnh chưa phù hợp

Sơ đồ của HS có

sự thể hiện ý lớn,nhỏ Từ khóa,hình ảnh phù hợp

HS tự nhận xét được những ưu và nhược điểm của sản phẩm nhóm

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

2.4.1 Mục đích thực nghiệm:

Như ta đã biết, dạy học là một hoạt động có tính nghệ thuật cao đòi hỏi người giáoviên phải biết lựa chọn những phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho phù hợp với đốitượng học sinh và với thực tiễn trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, trong quá trìnhgiảng dạy trong nhà trường việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực tuy còn gặpnhững khó khăn Nhưng với trách nhiệm của một người giáo viên, tôi đã mạnh dạn ápdụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực vào trong dạy học với đối tượng làhọc sinh lớp 12 trường THPT Đào Duy Từ Mục đích của việc áp dụng thực nghiệm nàylà: Rèn luyện tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho các em học sinh, đồng thời giúp các

em tiếp cận tri thức một cách nhanh và hiệu quả nhất

2.4.2 Phương pháp và quá trình thực nghiệm:

Qua một số năm giảng dạy bộ môn văn ở trường THPT, tôi thấy rằng để có đượcmột giờ giảng văn trọn vẹn quả thật là khó bởi vì đó là cả một nghệ thuật Giờ giảng vănđòi hỏi học sinh phải liên tưởng, tưởng tượng mới có sự sáng tạo trong phát hiện tìm tòitrong khi đó thời gian rất eo hẹp Đã thế lớp học có ít nhất hơn 40 học sinh, thầy chỉ cómột mà trò thì quá nhiều, sự liên tưởng, tưởng tượng không đồng đều ở học sinh Tất cả

Trang 21

chừng ấy yếu tố cũng đủ để chúng ta hiểu rằng khó có thể cầu toàn đối với một giờ giảngvăn Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn không thể có đượcnhững giờ dạy, bài giảng thành công Với những gì đã làm, đã học tập ở đồng nghiệp vàtiếp xúc với các khoá học sinh, tôi thấy rằng chúng ta cũng có thể giúp cho học sinh cóđiều kiện rèn luyện tư duy sáng tạo khi tiếp xúc với tác phẩm văn chương qua một số vấn

đề, một số thao tác sau đây:

1 Trong giờ giảng văn, trước khi giảng giáo viên có thể dùng lời kể hoặc lời dẫnkết hợp với một số hình ảnh, đoạn phim, bài hát, câu thơ minh hoạ để tạo tâm thế thoảimái, giúp học sinh có điều kiện thâm nhập được vào tác phẩm, vào bài dạy một cáchhứng thú Có thể ứng dụng công nghệ thông tin trong phần giới thiệu về tác giả, tácphẩm, giọng đọc của tác giả, hoặc nghệ sĩ, một vài hình ảnh minh hoạ hoặc các tài liệuquý hiếm giúp học sinh hiểu sâu thêm tác phẩm

Ví dụ:

- Giảng bài “ Ai đã dặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta có thể

dẫn dắt học sinh bằng lời giới thiệu, lời dẫn về con sông Hương của Huế ở vẻ đẹp tự

nhiên, văn hoá, lịch sử; hoặc cho học sinh nghe đoạn nhạc “Dòng sông ai đã đặt tên?” kết

hợp trình chiếu một số hình ảnh về sông Hương, xứ Huế và hỏi cảm nhận của học sinh vềdòng Hương

2 Giáo viên cần xây dựng một hệ thống câu hỏi phù hợp và sử dụng có hiệu quả.Việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờ Đọc văn là hết sức cần thiết Nó sẽ giúp họcsinh tích cực, chủ động tiếp thu, làm chủ kiến thức Thậm chí, bằng hệ thống câu hỏi cóchất lượng, người thầy có thể khơi gợi sự sáng tạo của các em, làm cho giờ dạy trở nênhấp dẫn và có hiệu quả hơn rất nhiều

Ví dụ: Nghệ sĩ Phùng đã chụp bức ảnh con thuyền trên biển sớm mờ sương từ một cự li rất gần Hãy lí giải vì sao Nguyễn Minh Châu lại đặt tên cho tác phẩm của mình là “Chiếc thuyền ngoài xa” ?

3 Trong giờ giảng văn, để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh, giáo viên cònphải cố gắng tập cho học sinh có thói quen rèn luyện và thao tác những thói quen cầnthiết khi chuẩn bị ở nhà và khi học giờ giảng văn ở lớp Theo tôi đó có thể là những thóiquen sau:

Ngày đăng: 20/06/2022, 08:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ của HS có sự thể hiện ý lớn, nhỏ. - (SKKN 2022) vận dụng linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học một số tác phẩm văn xuôi ngữ văn 12 tại trường THPT đào duy từ
Sơ đồ c ủa HS có sự thể hiện ý lớn, nhỏ (Trang 20)
Bảng số liệu. - (SKKN 2022) vận dụng linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học một số tác phẩm văn xuôi ngữ văn 12 tại trường THPT đào duy từ
Bảng s ố liệu (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w