1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối tượng điều chính kinh tế quốc tế

9 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối tượng điều chỉnh kinh tế quốc tế
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 131 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1, Đối tượng điều chỉnh quan hệ ktqt Quan hệ TMQT A,Giác độ luật công Các thiết chế Thương mại công bao gồm 3 cấp độ Thương mại song phương Việt Mỹ; VIệt Nhật; Trung Quốc Mỹ Thương mại cấp độ khu vực, lien minh thoả thuận thương mại khu vực như AFTA giữa các nước ASEAN; MERCOSUR giữa một số nước ở Nam Mỹ; NAFTA giữa Hoa Kỳ, Canada và Mexico; Liên minh Châu Âu giữa 25 quốc gia ở châu Âu Thương mại cấp độ toàn cầu thông qua các hiệp định của Tổ chức Thương mại WTO GATT và WTO Nguyên tắc của GA.

Trang 1

Quan hệ TMQT:

A,Giác độ luật công: Các thiết chế Thương mại công bao gồm 3 cấp độ:

-Thương mại song phương: Việt-Mỹ; VIệt-Nhật; Trung Quốc-Mỹ…

-Thương mại cấp độ khu vực, lien minh: thoả thuận thương mại khu vực như AFTA giữa các nước ASEAN; MERCOSUR giữa một số nước ở Nam Mỹ; NAFTA giữa Hoa Kỳ, Canada và Mexico; Liên minh Châu Âu giữa 25 quốc gia ở châu Âu

-Thương mại cấp độ toàn cầu: thông qua các hiệp định của Tổ chức Thương mại WTO

GATT và WTO

● Nguyên tắc của GATT:Hiệp định GATT-1947 là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các quốc gia trên cơ sở đa phương.Theo Hiệp định,nhiệm vụ trọng tâm GATT:tự do hóa thương mại,cắt giảm thuế quan,bãi bỏ các hạn chế về nhập khẩu và loại trừ các biểu hiện phân biệt đối xử về kinh tế

Nguyên tắc không phân biệt đối xử trên cả bình diện quốc gia và quốc tế và nguyên tắc có đi có lại là hai nguyên tắc tạo nên cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động của mình

● Nguyên tắc WTO: WTO có hiệu lực từ 1/1/1995,là kết quả của vòng đàm phán thương mại đa biên cuối cùng của GATT 1947.Kết thúc vòng đàm phán 1947,các nước thành viên tổ chức GATT đã ký văn kiện cuối cùng thành lập nên WTO nhằm giám sát việc thực thi ba hiệp định thương mại đa biên:Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994,Hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATS,Hiệp định về các khía cạnh sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại Các nguyên tắcWTO chính là những nguyên tắc dduwwocj áp dụng trong GATT năm 1947 với một số thay đổi,bổ sung trong ba định thương mại đa biên nói trên

B.Giác độ luật tư: Quan hệ TMQT được thể hiện dưới dạng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

1.Nguồn luật điều chỉnh HĐ mua bán hh QT:

-Pháp luật quốc tế, nói cách khác là các điều ước quốc tế có lien quan bao gồm: điều ước quốc tế chung và các điều ước

quốc tế cụ thể

+Điều ước QT chung đề ra những nguyên tắc pháp lý chung làm cơ sở cho hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng; không bao gồm điều chỉnh các vấn đề về quyền và nghĩa vụ trách nhiệm cụ thể của các bên liên quan trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ nêu những nguyên tắc pháp lý mang tc chủ đạo: Hiệp ước thương mại hàng hải; Hiệp định thương mại song phương giữa các nước

+Điều ước QT cụ thể là những điều ước trực tiếp điều chỉnh những vấn đề liện quan đến quyền hạn trách nhiệm và nghĩa

vụ của bên bán và bên mua trong việc kí kết thực hiện hợp đồng mua bán hàng quốc tế Loại điều ước này đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hợp đồng Có 2 công ước QT thường đc dẫn chiếu và áp dụng trong các HĐ đó là: Công ước viên 1980 về HĐ mua bán hh QT; Công ước Lahay 1964 về mua bán quốc tế những tài sản hữu hình

-Pháp luật quốc gia: Thường là luật TM của các quốc gia phá triển, có tính thực thi cao trong thực tiễn điều chỉnh quan

hệ TMQT như: Bộ luật TM thống nhất của Mỹ; Luật TM của Pháp; Luật bán hàng của Anh 1979; Luật bán chịu của Anh năm 1965…

+Luật QG đc áp dụng cho hợp đồng múa bán hàng hóa Quốc tế khi các bên có thỏa thuận trong HĐ mua bán HH về việc sdung luật quốc gia đó;

+hoặc áp dụng cho các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng cho HĐ sau khi mua bán hh QT được kí kết Phương pháp này thường được sử dụng khi trong HĐ không có điều khoản này vì một số lý do chủ quan như sơ sài và quá đơn giản, ngắn gọn khi kí kết trước đó nhắm chớp thời cơ kinh doanh…mà dễ gây ra tranh chấp=> các bên có thể đàm phán chọn luật áp dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh

Trang 2

+luật quốc gia các nước thương lựa chọn là luật nước người bán, luật nước người mua, luật của nước thứ 3 hoặc của bất

kì nước nào khác có mối liên quan với hợp đồng mua bán hh quốc tế như luật nơi kí kết hợp đồng, luật nơi thực hiện nghĩa vụ…

-Tập quán quốc tế về TM là những thói quen thương mại được thừa nhận rộng rãi Những thói quen TM được công nhận

và trở thành tập quán quốc tế khi nó thỏa mãn những yêu cầu sau:

+Là thói quen phố biến đc nhiều nước áp dụng và áp dụng thường xuyên

+Về từng vấn đề ở từng địa phương, đó là thói quen độc nhất

+Là một thói quen có nội dung rõ rang mà người ta có thể dựa vào đó mà xác định quyền và nghĩa vụ đối với nhau +thông thường tập quán QT được chia 3 nhóm: Các tập quán có tính nguyên tắc; các tập quán thương mại quốc tế chung; các tập quan thương mại có tính chất khu vực

+Tập quán QT về TM đc áp dụng vào cho HĐ mua bán hhQT trong những trường hợp: Khi chính nội dung hợp đồng mua bán QT quy định; hoặc là khi các điều ước quốc tế liên quan quyy định; hoặc là khi luật trong nước của quốc gia mà các bên đã thỏa thuận lựa chọn không quy định hoặc có quy định nhưng không đầy đủ, còn khiếm khuyết về vấn đề cần được điều chỉnh trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các bên;

+Khi áp dụng incoterm cần nắm vững 4 nguyên tắc:

Thứ nhất: Không có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, chỉ có giá trị bổ sung cho hợp đồng, do đó nó chỉ được áp dụng khi không có quy định cụ thể của hợp đồng về một vấn đề nào đó

Thứ 2: muốn áp dụng incoterm, các bêm phải ghi rõ là dung incoterm năm nào và điều khoán áp dụng để tránh sử dụng nhầm

Thứ 3: Vì incoterm chỉ có giá trị tùy ý cho nên ngay cả khi hợp đồng dẫn chiếu sử dụng incoterm các bên vẫn có thể thỏa thuận với nhau về sự thay đổi một số nội dung cụ thể trong incoterm đó

Thứ 4:Bản thân incoterms chỉ giải quyết 4 vấn đề sau: Chuyển rủi ro vào thơi điểm nào; Ai lo liệu các chứng từ hải quan;

Ai trả chi phí bảo hiểm; Ai chịu trách nhiệm chi phí vận tải Ngoài 4 vấn đề nêu trên, tất cả các vấn đè khác liên quan quyền, ngĩa vụ, trách nhiệm các bên đều phải được các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng mua bán hh QT

2 Xung đột PL trong HĐ mua bán HH QT:

a,Khái niệm: Cả hai công ước quốc tế:

-Công ước QT về mua bán hhQT những động sản hữu hình được kí kết tại Lahay 1964 và Công ước QT về mua bán hh

QT đc kí tại VIên 1980 đều quan niệm rằng:

Xung đột PL là hiện tượng mà trong đó 2 hay nhiều hệ thống PL khac nhau có cùng có thể đc áp dụng để điều chỉnh một mối quan hệ nhất định phát sinh từ hợp đồng mua bán QT hh( chủ yếu là mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ) các hệ thống luật này lại có cách quy định hoặc giải thích rất khác nhau về cùng một vấn đề của hợp đồng

Các yếu tố quốc tế đã làm cho quan hệ hợp đồng nay cùng lúc có thể áp dụng luật của nhiều quốc gia Do đó cac chủ thể

đc phép dẫn chiếu ddeesn nhiều hệ thống pháp luật của quốc gia để chọn lựa quyền lợi tối ưu và tất nhiên không kho nào

có sự giống nhau hay sự chồng khít trong pháp luật các nước

b,Biểu hiện của xung đột:

-Xung đột pháp luật về hình thức của hợp đồng:

-XUng đột pháp luật về nội dung của HĐ: Trong vấn đề này, xugn đột pháp luật thường xảy ra ở các quan niệm về điều khoản chủ yếu của HĐ Nghĩa là PL của các quốc gia thường quy định rất khác nhau về cac điều khoản chủ yếu của HĐ -Xung đột PL về địa vị pháp lý của các bên chủ thể của HĐ

-Xugn đột về thẩm quyền xét xử của các cơ quan tào phán đối với các tranh chấp trong quan hệ hợp đồng mua bán hh QT C,Cách giải quyết trong các trường hợp xung đột pháp luật trong HĐ mua bán hh QT

Trang 3

Để giải quyết các xung đột PL về HĐ mua bán QT, Pl quy định việc dung các quy phạm PL xung đột và coi nó là một biện pháp phá lý quan trọng nhất trong thực tiễn giải quyết hiện tượng này

Quy phạm PL xung đột là một loại quy phạm không trực tiếp chỉ ra các quyền hạn hay nghĩa vụ cụ thể của đương sự tham gia một quan hệ nào đó mà chỉ nêu lên cho đương sự thấy rằng phải dẫn chiếu và áp dụng luật nào , của quốc gia nào để điều chỉnh mối quan hệ pháp lý đó

Cụ thể, PL xung đột QT quy định các thức giải quyết sự khác biệt nhau của pl như sau:

+Thứ nhất khi có xung đột PL về hình thức của HĐ Trong trường hợp này, PL quốc tế quy định phải áp dụng quy phạm xugn đột luật nơi kí HĐ- Nghĩa là HĐ mua bán QT đó đc các chủ thể kí ở đâu thì hình thức của HĐ sẽ đc quốc gia đó quy định

+Thứ hai, khi có xung đột về nội dung của hợp đồng, PL QT quy định có các cách giải quyết như sau:

-Áp dugnj luật nước người bán

-Áp dụng luật lựa chọn

-Áp dụng luật nơi thực hiện nghĩa vụ

+Thứ 3, khi có xung đột Pl về địa vị pháp lý của các bên đương sự thì các quốc gia thường dùng các loại quy phạm sau

để giải quyết:

-Áp dụng luật quốc tịch:

-Áp dụng luật nơi cư trú

-Áp dụng luật nơi kí hợp đồng

+Thứ 4, khi có xung đột pl về thẩm quyền xét xử của tòa án thì pháp luật các nước thường dựa vào các quy phạm xung đột để giải quyết:

-Luật tòa án nơi đương sự mang quốc tịch hoặc

-Luật tòa án nơi bị cáo cư trú hoặc

-Luật tòa án nơi xảy ra tranh chấp hoặc

-Luật tòa án nơi có tài sản đang xảy ra tranh chấp

3 Tiến trình kí kết hợp đồng mua bán hh QT

a,Trường hợp thứ nhất: các bên chủ thể của hợp đồng có điều kiện gặp gỡ trực tiếp để giao kết hợp đồng

-Đối với những hợp đồng mua bán hh QT được kí giữa những người trực tiếp gặp nhau thì việc giao kết hợp đồng thường diễn ra đơn giản hơn, ngắn gọn, trên cơ sở các bên cùng đàm phán trực tiếp với nhau Nếu các bên thống nhất hoàn toàn các vấn đề đã nêu ra trong quá trình đàm phán trực tiếp đó và cùng nhau kí vào dự thảo hợp đồng thì hợp đồng được coi

là đã được kí kết kể từ thời điểm các bên cùng kí và dự thảo HĐ Trong trường hợp này ngày và nơi kí đc xác định thống nhất theo luật là ngày và nơi các bên cùng kí vào dự thảo văn bản hợp đồng đó

b,Trường hợp thứ 2: các bên chủ thể của hợp đồng không có điều kiện gặp gỡ trực tiếp để đàm phán và kí hợp đồng.

Trường hợp này, hợp đồng được kí bằng gửi trao đổi đề nghị kí kết hợp đồng( gửi chào hàng hoặc đặt hàng) và chấp nhận kí kết HĐ( chấp nhận chào hàng hoặc đặt hàng) Việc giao kết hợp đồng mà các bên lại ở xa nhau này thường phải trải qua hai giai đoạn:

-Giai đoạn đề nghị giao kí HĐ: Người bên đề nghị kí kết phải có đơn đè nghị kí HĐ Bên soạn thảo ra đơn đề nghị kí HĐ cần tuân thủ một số quy định của PL như điều kiện hiệu lực, điều kiện tuyên bố hủy bỏ đề nghị kí kết hợp đồng( đã đc gủi đi), và nội dung của lời đề ngị kí kết hợp đồng phải hợp pháp, không vi phạm các điều cấm của PL

-Khi có đơn đề nghị ký kết HĐ gửi đi sẽ phát sinh hai khả năng sau: Người nhận chấp nhận kí HĐ hoặc từ chối kí

+Giai đoạn chấp nhận kí: Giai đoạn này cần lưu ý một số quy định của pháp luật các nước như sau:

Theo quy định của pháp luật đa số các nước, nếu người được đề nghị chấp nhận vô điều kiện lời đề nghị kí kết hợp đồng thì hợp đồng được coi là đã kí kết Ngược lại nếu người này tự ý sửa đổi, bổ xung một số điểm vào lời đề nghị này thì về

Trang 4

mặt pháp lý họ đã từ chối kí kết HĐ Việc từ chói đề nghị này sẽ đem lại hậu quả pháp lý đó là hợp đồng chỉ đc coi là kí kết nếu như người đề nghị kí kết chấp nhận những sửa đổi bổ sung mà người được đề nghị đưa ra

Trong thực tiễn giao kết hợp đồng giữa các bên vắng mặt có nhiều trường hợp Người ta chỉ cần thông qua một thư chào hàng( chào bán, hỏi mua), trong đó có nêu một vài điều kiện chủ yếu ( đối tượng, giá cả…) để rồi nhận được một sự trả lời chấp nhận ( counter offer) vô điều kiện và như vậy, hợp đồng được coi là đã kí Và tất nhiên, sự phát giá của thư chào hàng hay đặt hàng luôn có giá trị pháp lý nếu trong sự phát giá của mình đó, họ đã đưa ra những điều khoản về tên hang số lượng, thời gạn giao hàng mà không thêm một điều kiện gì thì hành vi ấy cũng có nghĩa là họ biểu thị ý chí ký kết hợp đồng, Giá trị pháp lý của sự phát giá là ở chỗ trong phạm vi thời gian quy định phải trả lời ( 30 ngày kể từ ngàu pháy giá) người phát hía bị rang buộc bởi lời phát giá của mình và không đc thau đổi nữa

-Trong trường hợp các bên vắng mặt: Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định rằng mọi mọi điều khoản để đàm phán trong trường hợp này đều phải thể hiện dưới hình thức văn bản (điện báo điện tín cũng đc coi là hình thức viết) Dưới hình thức viết, nội dung của các điều khoản do các bên đưa ra mới đc thể hiện rõ rang, cụ thể và mới là căn cứ pháp lý để

có thể trở thành hợp đồng mua bán quốc tế

-Các hình thức văn bản thường được sử dụng để đàm phán trong trường hợp các bên vắng mặt đó là: chào hàng, chấp nhận vô điều kiện chào hàng hoàn giá chào hàng( chào hàng mới)

Chào hàng: là đề nghị của một bên bán hoặc mua gửi cho bên kia khi biểu thị ý muốn bán howjc muốn mua một mặt hang nhất định Nội dung của chào hàng bao gồm những yếu tố cần thiết cho một hợp đồng mua bán như: tên hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, dưới hình thức thư hoặc điện chào hàng

Có hai loại chào hàng: chào hàng cố định và chào hàng tự do

Thời điểm ký kết hợp đồng trong trường hợp này được xác định là ngày bên được chào hàng gửi chấp nhận vô điều kiện cho người chào hàng ( theo thuyết tống phát mà các nước Anh Mỹ Nhật Bản thường áp dụng); hoặc là ngày ngươi chào hàng nhận được sự chấp nhận vô điều kiện của người được chào hàng ( theo thuyết tiếp thu được đa số các quốc gia

áp dụng)

Chấp nhận chào hàng là sự chấp nhận vô điều kiện của người được chào hàng Để có hiệu lực bắt buộc thì về mặt pháp

lý, chấp nhận phải được đáp ứng các điều kiện sau: -Chấp nhận vô điều kiện pải được gửi trong thời gian có hiệu lực của lời chào hàng( chào hàng cố định) –Chấp nhận vô điều kiện của người được chào hàng phải được người chào hàng chấp nhận ( chào hàng tự do)

Chào hàng mới hay còn gọi là hoàn giá: khi nhận được chào hàng, người đc chào hàng không chấp nhận vô điều kiện mà lại đưa ra một hoặc một số điều kiện mới đối với người chào hàng thì nó được coi là chào hàng mới của người được chào hàng đối với người chào hàng ban đầu

Trong khuôn khổ buôn bán quốc tế, hợp đồng mua bán quốc tế là một văn bản pháp lý rất quan trọng thể hiện một cách đầy đủ quyền và nghĩa vụ các bên với nhau, Thông thường sau khi đã đàm phán và đi đến thỏa thuận các điều khoản, hợp đồng sẽ do một bên thảo ra, Do vậy, để đảm bảo quyền lơi của mình, cần kiểm tra kỹ từng điều khoản, cần phải sửa chữa từng chữ, từng câu sao cho câu rõ rang, đầy đủ, chính xác và không thể bị suy diễn sang một nội dung khác trước khi vào văn bản hợp đồng

Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng

I Tranh chấp HĐ: Là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ HĐ liên quan đến việc thực hiện

(hoặc không thực hiện) các quyền và nghĩa vụ theo HĐ

1 Tranh chấp HĐ là ý kiến không thống nhất của các bên về việc đánh giá hành vi vi phạm hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ vi phạm đó (trong khi vi phạm HĐ là hành vi đơn phương của một bên đã xử sự trái với cam kết trong HĐ)

2 Các đặc điểm của tranh chấp HĐ:

Trang 5

- Phát sinh trực tiếp từ quan hệ HĐ, nên luôn luôn thuộc quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp (tức các bên trong HĐ)

- Mang yếu tố tài sản (vật chất hay tinh thần) và gắn liền lợi ích các bên trong tranh chấp

- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp HĐ là bình đẳng, thỏa thuận

II Giải quyết tranh chấp HĐ:

1 Tranh chấp HĐ đòi hỏi phải được giải quyết thỏa đáng bằng một phương thức chọn lựa phù hợp để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, vừa đảm bảo trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội, giáo dục được ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp phần chủ động ngăn ngừa các vi phạm HĐ

2 Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp HĐ phải đảm bảo nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật

3 Quyết định giải quyết các tranh chấp HĐ phải có tính khả thi cao, thi hành được và quá trình giải quyết phải đảm bảo tính dân chủ và quyền tự định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp

4 Tranh chấp HĐ có thể được giải quyết bằng các phương thức khác nhau: hòa giải, trọng tài hay Tòa án

5 Các bên tranh chấp có thể chọn lựa một phương thức giải quyết tranh chấp HĐ phù hợp hoặc sử dụng phối hợp nhiều phương pháp

6 Các yếu tố tác động chi phối việc các bên chọn lựa phương thức giải quyết các tranh chấp HĐ :

- Các lợi thế mà phương thức đó có thể mang lại cho các bên

- Mức độ phù hợp của phương thức đó đối với nội dung và tính chất của tranh chấp HĐ với cả thiện chí của các bên

- Thái độ hay qui định của nhà nước đối với quyền chọn lựa phương thức giải quyết của các bên

CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HĐ:

I Phương thức thương lượng, hòa giải:

1 Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất trong lịch sử xã hội loài người trên nhiều lãnh vực, chứ không riêng đặc trưng gì với tranh chấp HĐ

2 Hòa giải là các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến thống nhất một phương án giải quyết bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đã thỏa thuận qua hòa giải

3 Ở VN, việc hòa giải tranh chấp HĐ được coi trọng Các bên phải tự thương lượng, hòa giải với nhau khi phát sinh tranh chấp Khi thương lượng, hòa giải bất thành mới đưa ra Tòa án hoặc trọng tài giải quyết Ngay tại Tòa án, các bên vẫn có thể tiếp tục hòa giải với nhau Ở VN, bình quân mỗi năm, số lượng tranh chấp kinh tế được giải quyết bằng phương thức hòa giải chiếm đến trên dưới 50% tổng số vụ việc mà Tòa án đã phải giải quyết

4 Các ưu điểm của giải quyết tranh chấp HĐKT trong thực tế bằng phương thức hòa giải:

- Là phương thức giải quyết tranh chấp đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém

- Các bên hòa giải thành thì không có kẻ thắng người thua nên không gây ra tình trạng đối đầu giữa các bên, vì vậy duy trì được quan hệ hợp tác vẫn có giữa các bên

- Các bên dễ dàng kiểm soát được việc cung cấp chứng từ và sử dụng chứng từ đó giữ được các bí quyết kinh doanh và

uy tín của các bên

- Hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện có điều kiện của các bên, nên khi đạt được phương án hòa giải, các bên thường nghiêm túc thực hiện

5 Những mặt hạn chế của phương thức hòa giải trong tranh chấp HĐ:

- Nếu hoà giải bất thành, thì lợi thế về chi phí thấp trở thành gánh nặng bổ sung cho các bên tranh chấp

- Người thiếu thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục hòa giải để trì hoản việc thực hiện nghĩa vụ của mình và có thể đưa đến hậu quả là bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc trọng tài vì hết thời hạn khởi kiện

6 Các hình thức hòa giải:

- Tự hòa giải: là do các bên tranh chấp tự bàn bạc để đi đến thống nhất phương án giải quyết tranh chấp mà không cần tới

Trang 6

- Hòa giải qua trung gian: là việc các bên tranh chấp tiến hành hòa giải với nhau dưới sự hổ trợ, giúp đỡ của người thứ ba (người trung gian hòa giải) Trung gian hòa giải có thể là cá nhân, tổ chức hay Tòa án do các bên tranh chấp chọn lựa hoặc do pháp luật qui định

- Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng: là việc hòa giải được các bên tiến hành trước khi dưa đơn khởi kiện ra Tòa án hay trọng tài

- Hòa giải trong thủ tục tố tụng: là việc hòa giải được tiến hành tại Tòa án, trong tài khi các cơ quan này tiến hành giải quyết tranh chấp theo đơn kiện của một bên (hòa giải dưới sự trợ giúp của Tòa án hay trọng tài) Tòa án, trong tài sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên và quyết định này có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên

II Phương thức giải quyết bởi Trọng tài: Tức là các bên thỏa thuận đưa ra những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa

họ ra giải quyết tại Trọng tài và Trọng tài sau khi xem xét sự việc tranh chấp, sẽ đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên

- Phương thức giải quyết trọng tài cũng bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện

- Các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn một Trọng tài phù hợp, chỉ định trọng tài viên để thành lập Hợp đồng (hoặc

Ủy ban) Trọng tài giải quyết tranh chấp

- Khác với thương lượng hòa giải, trọng tài là một cơ quan tài phán (xét xử) Tính tài phán của trọng tài thể hiện ở quyết định trọng tài có giá trị cưỡng chế thi hành

- Thực tiễn giải quyết các tranh chấp ở các nước trên thế giới: có 2 hình thức trọng tài: Trọng tài vụ việc (Ad – hoc) và trọng tài thường trực

- Trọng tài vụ việc (Ad – hoc): là loại trọng tài được các bên tranh chấp thỏa thuận lập ra để giải quyết một tranh chấp cụ thể và sẽ giải thể khi giải quyết xong tranh chấp đó

- Trọng tài thường trực: liên tục tồn tại để giải quyết tranh chấp Trọng tài thường trực có bộ phận giúp việc, có danh sách trọng tài viên và có qui tắc tố tụng riêng

- Ở VN, trọng tài được tổ chức dưới hình thức các trung tâm trọng tài thường trực Trung tâm trọng tài Quốc tế VIệt Nam (VIAC) và các trung tâm trọng tài kinh tế (thành lập theo Nghị Định 116/CP ngày 05/09/1994)

- Ở VN hiện có 5 trung tâm trọng tài: Trung tâm trọng tài kinh tế Thăng Long, TT/TTKT Hà Nội, TT/TTKT Bắc Giang, TT/TTKT Sài Gòn và TT/TTKT Cần Thơ

- Trọng tài kinh tế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế trong đó có các tranh chấp Hợp đồng trong hoạt động kinh doanh

- Trọng tài kinh tế có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp Hợp đồng trong kinh doanh ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, pháp nhân với các chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân với nhau (theo Nghị Định 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ và Thông tư 02/PLDS-KT ngày 03/01/1995 của Bộ Tư Pháp)

- Trung tâm trọng tài Quốc tế VIệt Nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế, trong đó

có tranh chấp HĐ (tranh chấp phát sinh từ HĐ thuần túy dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài)

- Thẩm quyền của Trọng tài được xác định không phụ thuộc vào quốc tịch, địa chỉ trụ sở giao dịch chính của các bên tranh chấp hay nơi các bên tranh chấp có tài sản hay nơi ký kết hoặc thực hiện HĐ

- Điều kiện để trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là các bên phải có thỏa thuận trọng tài

- Thỏa thuận trọng tài là sự nhất trí của các bên đưa ra những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra giải quyết tại trọng tài

- Thỏa thuận trọng tài phải thể hiện dưới hình thức văn bản và phải chỉ đích danh một trung tâm trọng tài cụ thể (theo khoản 2 điều 3 Nghị Định 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ)

- Thỏa thuận trọng tài có thể là một điều khoản của HĐ (điều khoản trọng tài) hay là một thỏa thuận riêng biệt (Hiệp nghị trọng tài)

Trang 7

- Mọi sự thay đổi, đình chỉ, hủy bỏ hay vô hiệu của HĐ đều khôn glàm ảnh hưởng đến hiệu lực của thoả thuận trọng tài (trừ trường hợp lý do làm HĐ vô hiệu cũng là lý do làm thoả thuận trọng tài vô hiệu)

- Thỏa thuận trọng tài không có giá trị ràng buộc các bên khi nó không có hiệu lực hoặc không thể thi hành được

- Khi đã có thỏa thuận trọng tài thì các bên chỉ được kiện tại trọng tài theo sự thỏa thuận mà thôi Tòa án không tham gia giải quyết nếu các bên đã thỏa thuận trọng tài, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài đó là vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài

là không thể thực hiện được

- Trọng tài hoạt động theo nguyên tắc xét xử một lần phán quyết trọng tài có tính chung thẩm: các bên không thể kháng cáo trước Tòa án hoặc các tổ chức nào khác

- Các bên tranh chấp phải thi hành phán quyết trọng tài trong thời hạn ấn định của phán quyết

● Các ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp HĐ thông qua trọng tài:

a) Thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng

b) Các bên tranh chấp có khả năng tác động đến quá trình trọng tài

c) Quyền chỉ định trọng tài viên giúp các bên lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc vấn

đề đang tranh chấp Qua đó, có điều kiện giải quyết tranh chấp HĐ nhanh chóng, chính xác

d) Nguyên tắc trọng tài không công khai giúp các bên hạn chế sự tiết lộ các bí quyết kinh doanh, giữ được uy tính của các bên trên thương trường

e) Trọng tài không đại diện cho quyền lực nhà nước nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp có nhân tố nước ngoài

● Các mặt hạn chế của phương thức trọng tài:

a) Tính cưỡng chế thi hành các quyết định trọng tài không cao (vì Trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước)

b) Việc thực hiện các quyết định trọng tài hoàn tòan phụ thuộc vào ý thức tự nguyện của các bên

III CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG TƯ PHÁP:

I Khái niệm: Khi tranh chấp HĐ phát sinh, nếu các bên không tự thương lượng, hòa giải với nhau thì có thể được giải quyết tại Tòa án Tùy theo tính chất của HĐ là kinh tế hay dân sự mà các tranh chấp phát sinh có thể được Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế hay thủ tục tố tụng dân sự

- Cơ sở pháp lý cho hoạt động xét xử tranh chấp HĐ của Tòa án là Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự (có hiệu lực ngày 01/01/2005)

● Các lợi thế của việc giải quyết tranh chấp HĐ qua Tòa án:

a) Các quyết định của Tòa án (đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước) có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên b) Với nguyên tắc 2 cấp xét xử, những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện khắc phục

c) Với điều kiện thực tế tại VN, thì án phí Tòa án lại thấp hơn lệ phí trọng tài

● Các mặt hạn chế của việc giải quyết tranh chấp HĐ qua Tòa án:

a) Thời gian giải quyết tranh chấp thường kéo dài (vì thủ tục tố tụng Tòa án quá chặt chẽ)

b) Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế

II Thẩm quyền giải quyết tranh chấp HĐ của Tòa án:

1 Thẩm quyền theo vụ việc:

- Là việc xác định những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án kinh tế, tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án dân sự Có thể dùng phương pháp loại trừ: những tranh chấp HĐ mang yếu tố tài sản nào không thuộc thẩm quyền của Tòa án kinh tế thì sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa dân sự

Các tranh chấp HĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Kinh tế (theo Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự ngày 01/01/2005):

Trang 8

b Các tranh chấp HĐ có mục đích SXKD tại VN, nếu 1 hoặc các bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài (trừ trường hợp Điều ước quốc tế của VN ký kết hoặc tham gia có qui định khác)

Lưu ý: Các HĐ trong hoạt động thương mại thỏa mãn các điều kiện về chủ thể (pháp nhân với pháp nhân,giữa pháp nhân với cá nhân có ĐKKD), về mục đích (phục vụ hoạt động kinh doanh) và về hình thức (ký kết bằng văn bản) sẽ mang tính chất của HĐ kinh tế và tranh chấp phát sinh được Tòa án giải quyết thống nhất theo thủ tục tố tụng của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự ngày 01/01/2005

tCác tranh chấp HĐ (tuy phát sinh từ hoạt động SXKD ) không được giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế:

a) Tranh chấp phát sinh từ HĐ được ký kết giữa các chủ thể kinh tế không có tư cách pháp nhân

b) Tranh chấp phát sinh từ HĐ được ký kết giữa pháp nhân với những người làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân,

hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể

c) Tranh chấp phát sinh từ HĐ không được ký kết dưới hình thức văn bản

2 Thẩm quyền theo cấp xét xử:

a) Thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung Tòa án cấp huyện):

- Bộ Luật TTDS 2005 mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho các TAND Quận, Huyện khi qui định: “giao cho TAND cấp huyện giải quyết thủ tục sơ thẩm các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có yếu tố nước ngoài (trừ những vụ việc có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho

cơ quan lãnh sự của VN ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của TAND cấp tỉnh)”

b) Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, TP thuộc TW (gọi chung là Tòa án cấp tỉnh):

vGiải quyết theo thủ tục sơ thẩm: Những tranh chấp HĐ không thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện Trường hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh cũng có thể lấy lên để giải quyết các vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện vGiải quyết theo thủ tục phúc thẩm: Những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị

vGiám đốc thẩm hoặc tái thẩm: Những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện bị kháng nghị

3 Thẩm quyền theo lãnh thổ:

a) Tòa án có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các tranh chấp HĐ là Tòa án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú

b) Trường hợp vụ án chỉ liên quan đến bất động sản: Tòa án nơi có bất động sản giải quyết sơ thẩm

c) Nếu bị đơn là pháp nhân, thì xác định Tòa án theo nơi pháp nhân có trụ sở

d) Nếu bị đơn là cá nhân, thì xác định Tòa án theo nơi cá nhân cư trú

4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn: Nguyên đơn được lựa chọn Tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp (Điều 36 Bộ luật Tố tụng Dân sự ngày 01/01/2005) trong các trường hợp sau:

a) Nếu không biết rõ trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn giải quyết

b) Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của chi nhánh bị đơn, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh đó giải quyết

c) Nếu vụ án phát sinh do vi phạm HĐ, thi nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi thực hiện HĐ giải quyết

d) Nếu các bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú của một trong các bị đơn giải quyết

e) Nếu vụ án không chỉ liên quan đến bất động sản, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có bất động sản, nơi có trụ

sở hoặc nơi cư trú của bị đơn giải quyết

Trang 9

f) Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án ở một trong các nơi đó giải quyết

g) Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự , còn có qui định riêng: Nếu khi ký kết HĐ mà các bên có thỏa thuận trước về Tòa án giải quyết tranh chấp thì nguyên đơn chỉ được khởi kiện tại Tòa án đó

IMF: (International Monetary Fund )Quỹ tiền tệ quốc tế: là một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu Trụ sở chính của IMF đặt ở Washington , D C ., thủ đô của Hoa Kỳ

IMF được tổ chức theo mô hình giống như một ngân hàng cổ phần, với 3 cơ quan có quyền ra quyết định: Hội đồng thống đốc, Ban giám đốc điều hành, và giám đốc điều hành

● Nguồn vốn của IMF

Vốn của IMF được hình thành từ hai nguồn vốn chính là vốn điều lệ và vốn vay

Vốn điều lệ: do tất cả các nước thành viên đóng góp khi gia nhập, mức góp vốn của mỗi nước do IMF xác định trên cơ sở đánh giá GDP, CCTT, các nguồn thu từ bên ngoài, dự trữ ngoại tệ, vàng của nước đo

Mỗi nước sẽ đóng góp 25% quota của mình bằng một ngoại tệ tự do chuyển đổi và 75% còn lại bằng tiền của mình Vốn vay: vốn vay của quỹ có 2 loại là vốn vay song phương và vốn vay đa phương

+ Vay song phương: quỹ có quyền đi vay ngân hang thanh toán quốc tê (BIS) hoặc các nước thành viên

+ Vay đa phương: vay đa phương là việc quỹ đi vay của nhiều nước, dựa trên cơ sở của hiệp định chung về vay (GAB)

ký ngày 13-12-1961 giữa một bên là quỹ và một bên là 10 nước thành viên

● Chức năng và quyền hạn của quỹ:Quỹ tiền tệ quốc tế có 2 chức năng chính là điều hành, giám sát hệ thống tiền tệ quốc tế và giúp đỡ tài chính các nước thành viên gặp khó khăn trong cán cân thanh toán

Quyền hạn: quỹ được trao một số quyền hạn quan trọng, bao gồm quyền yêu cầu các nước thành viên cung cấp cho quỹ những thông tin cần thiết để thực hiện chức năng giám sát hệ thống tiền tệ quốc tê, quyền được tham khảo về chính sách cải cách kinh tế và quyền dành cho một nước thành viên sự giúp đở tài chính của quỹ Quỹ cũng có quyền quyêt định các biện pháp để chế tài đối với một nước thành viên không thực hiện nghĩa vụ pháp lý quốc tế của nước đó đối với quỹ IMF Có 2 phương thức sử dụng vốn là rút vốn và tín dụng dự phòng

Ngày đăng: 14/06/2022, 07:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w