Vì vậy nhận thức được đầy đủ vai trò, bản chất, nội dung của kế toán quản trị và vận dụng kế toán quản trị vào thực tiễn sản xuất kinh doanh là một vấn đề bức thiết giúp các nhà quản trị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI TẬP LỚN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
LẬP DỰ TOÁN CHI PHÍ BẢO DƯỠNG HỆ THỐNG PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY CHO CÔNG TY TNHH VEGABALL
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU i
LỜI MỞ ĐẦU i
PHẦN 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1
1.1 Khái niệm KTQT 1
1.2 Mục tiêu của kế toán quản trị 2
1.3 Nội dung kế toán quản trị và công tác lập dự toán 2
PHẦN 2: 16
LẬP DỰ TOÁN CHI PHÍ BẢO DƯỠNG HỆ THỐNG PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY CHO CÔNG TY TNHH VEGABALL VIỆT NAM 16
2.1 Tập hợp chi phí chung trong kỳ 16
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp hiện trường tình trạng các thiết bị cần bảo dưỡng, thay thế tại công ty 16
Bảng 2.2: Dự toán chi phí vật tư cho bảo dưỡng hệ thống phòng cháy chữa cháy ……… 18
Bảng 2.3: Dự toán chi phí nhân công cho bảo dưỡng hệ thống phòng cháy chữa cháy………19
2.2 Yêu cầu ngoại quan……… 19
Bảng 2.4 Định mức vật tư cần thay thế 20
Bảng 2.5 Định mức Nhân công bảo dưỡng 21
Bảng 2.6: Định mức thời gian bảo dưỡng hệ thống phòng cháy chữa cháy … 22
Bảng 2.7 Dự toán chi phí bảo dưỡng hệ thống phòng cháy chữa cháy 23
Phần 3 :KẾT LUẬN……….25
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1: Bảng tổng hợp hiện trường tình trạng các thiết
2 Bảng 2.2: Dự toán chi phí vật tư cho bảo dưỡng hệ thống
3 Bảng 2.3: Dự toán chi phí nhân công cho bảo dưỡng hệ
6 Bảng 2.6: Định mức thời gian bảo dưỡng hệ thống phòng
7 Bảng 2.7: Dự toán chi phí bảo dưỡng hệ thống phòng
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Ở nước ta hiện nay, mở cửa và hội nhập kinh tế đòi hỏi và kéo theo sự hội nhập của các công cụ quản lý, trong đó có kế toán Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán, nó ra đời trong điều kiện nền kinh tế thị trường và được coi là loại kế toán dành riêng cho người làm công tác quản lý kinh doanh, phục vụ cho các nhà quản trị ra các quyết định kinh doanh Tuy nhiên thực tế tại các doanh nghiệp nói chung và tại công ty cổ phân cà phê Lô-Gic nói riêng, hiện nay còn rất bỡ ngỡ vàchưa thực sự quan tâm đến kế toán quản trị Vì vậy nhận thức được đầy đủ vai trò, bản chất, nội dung của kế toán quản trị và vận dụng kế toán quản trị vào thực tiễn sản xuất kinh doanh là một vấn đề bức thiết giúp các nhà quản trị có thể quản lý, điều hành có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình trong nền kinh tế thị trường hiện nay Dự toán chi phí sản xuất kinh doanh là một trong những nội dung của kế toán quản trị, có vai trò như một công cụ quản lý khoa học và
có hiệu quả nhằm kịp thời xử lý và cung cấp thông tin về chi phí, đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị phục vụ các chức năng của mình Một hệ thống dự toán chi phí sản xuất kinh doanh tốt sẽ giúp cho các nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn
Với những lý do đó, tôi đã chọn đề tài “Lập dự toán chi phí bảo dưỡng hệ thống phòng cháy chữa cháy cho công ty TNHH Vegaball Việt Nam” Với sự giúp
đỡ của TS Đỗ Thị Mai Thơm tôi đã nỗ lực để hoàn thành bài viết Mặc dù vậy, việc mắc phải những sai sót là điều không thể tránh khỏi, vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía giảng viên bài viết của tôi được hoàn thiện hơn
Trang 5PHẦN 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái niệm KTQT
Theo Luật kế toán Việt Nam, KTQT “ là việc thu nhận xử lý, phân tích vàcung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tàichính trong nội bộ đơn vị kế toán”
Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ thì KTQT “là quá trìnhnhận diện, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá trình thựchiện các mục đích của tổ chức KTQT là một bộ phận thống nhất trong quá trìnhquản lý, và nhân viên kế toán quản trị là những đối tác chiến lược quan trọng trongđội ngũ quản lý của tổ chức”
Nhận diện: là sự ghi nhận và đánh giá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm cóhành động kế toán thích hợp
Đo lường: là sự định lượng, gồm cả ước tính, các nghiệp vụ kinh tế đã xảy rahoặc dự báo các sự kiện kinh tế có thể xảy ra
Phân tích: là sự xác định nguyên nhân của các kết quả trên báo cáo và mốiquan hệ của các nguyên nhân đó với các sự kiện kinh tế
Diễn giải: là sự liên kết các số liệu kế toán hay số liệu kế hoạch nhằm trình bàythông tin một cách hợp lý, đồng thời đưa ra các kết luận rút ra từ các số liệu đó.Truyền đạt: là sự báo cáo các thông tin thích hợp cho nhà quản trị và nhữngngười khác trong tổ chức
Có nhiều khái niệm về KTQT, được hiểu chung nhất là khoa học thu nhận, xử
lý và cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể, phục vụcho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch
và quản lý hoạt động kinh tế, tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Bản chất của KTQT như sau: KTQT không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấpcác thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã hoàn thành, đã ghi chép hệ thống hoá màcòn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định quản lý Sử dụngcác phương pháp khoa học để phân tích, xử lý chúng một cách cụ thể phù hợp vớinhu cầu thông tin của nhà quản trị
KTQT chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm
Trang 6vi yêu cầu của nội bộ doanh nghiệp.
KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công cụ quantrọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp
1.2 Mục tiêu của kế toán quản trị
Do nhu cầu thông tin khác nhau cho từng đối tượng, phạm vi thông tin cần đápứng khác nhau nên kế toán được chia thành KTTC và KTQT Các thông tin báo cáotài chính tổng hợp cần cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp còn các nhà quản trịdoanh nghiệp cần các thông tin chi tiết, cụ thể hơn để ra các quyết định quản lý Quảntrị doanh nghiệp cần có các loại thông tin khác nhau để đi đến mục tiêu một cáchthành công, vì vậy KTQT có mục tiêu:
Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định và lập kế hoạch, tham gia mộtcách tích cực với vai trò là một thành phần của đội ngũ quản lý, vào quá trình raquyết định và lập kế hoạch;
Hỗ trợ các nhà quản lý trong việc định hướng và kiểm soát các mặt hoạt độngkinh doanh;
Thúc đẩy các nhà quản trị và nhân viên nhằm vào các mục đích của tổ chức;
Đo lường kết quả của các mặt hoạt động, các đơn vị, các nhà quản trị và nhânviên trong tổ chức;
Đánh giá vị trí cạnh tranh của tổ chức, làm việc cùng với các nhà quản trị đểđảm bảo cạnh tranh lâu dài của tổ chức trong ngành
1.3 Nội dung kế toán quản trị và công tác lập dự toán
- Nội dung kế toán quản trị :
Xác định các chỉ tiêu quản lý cần thiết phù hợp với đặc điểm sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, tổ chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin một cách cụthể, kịp thời
Vận dụng các cách phân loại chi phí, các phương pháp phân tích chi phí đểthu nhận, tổng hợp và cung cấp các thông tin cần thiết cho việc lập các kế hoạch, các
dự toán chi phí, doanh thu, lợi nhuận, phân tích chi phí…phục vụ cho việc điều hànhquản lý, kiểm soát chi phí, đề ra các phương án kinh doanh
Xây dựng các định mức về chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý
Trang 7doanh nghiệp, giá phí hàng mua làm cơ sở cho việc ra các quyết định và kiểm traquá trình thực hiện.
Phân tích chi phí một cách cụ thể chi tiết theo yêu cầu quản lý của doanhnghiệp, theo từng hoạt động kinh doanh, từng địa điểm kinh doanh, từng nhóm sảnphẩm…bằng các phương pháp nghiệp vụ cụ thể
Thiết kế các biểu mẫu báo cáo chủ yếu phục vụ cho việc lập dự toán và soạnthảo các báo cáo kế toán quản trị
- Nội dung công tác lập dự toán
Trong các chức năng của quản trị, lập kế hoạch là chức năng quan trọngkhông thể thiếu đối với mọi doanh nghiệp Kế hoạch là xây dựng mục tiêu củadoanh nghiệp và vạch ra các bước thực hiện để đạt mục tiêu đã đặt ra Dự toán cũng
là một loại kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu cụ thể, chỉ rõ các tài nguyên phải sửdụng đồng thời dự tính kết quả thực hiện trên cơ sở các kỹ thuật dự báo
Dự toán là tổng thể các dự đoán về khối lượng được thể hiện theo một cơ cấunhất định, là sự cụ thể hoá bằng các con số các kế hoạch, dự án Dự toán có thể thểhiện tình trạng tài chính hoặc phi tài chính theo một đơn vị đo lường nhất định có thể
là kg, lít, số giờ Chỉ tiêu số lượng trong dự toán có thể là các con số trong quá khứhoặc số liệu trong các cuộc nghiên cứu Trong trường hợp dự toán bán hàng thí sốliệu được rút ra từ phân tích thị trường, từ các phương pháp điều tra của thống kê
Theo nghĩa hẹp, dự toán là việc ước tính toàn bộ thu nhập, chi phí của doạnhnghiệp trong một thời kỳ để đạt được một mục tiêu nhất định Theo nghĩa rộng, dựtoán được hiểu là dự kiến các công việc, nguồn lực cần thiết để thực hiện các mụctiêu trong một tổ chức Qúa trình dự toán cũng phải đặt ra: ai làm dự toán và ai sẽthực hiện dự toán theo phân cấp quản lý doanh nghiệp Công việc này được thựchiện nhằm gắn liền với trách nhiệm của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân với mục tiêu củadoanh nghiệp Như vậy, dự toán của doanh nghiệp không chỉ gắn liền với việc tổchức thực hiện mà còn là cơ sở để thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát sau này
- Yêu cầu của quá trình lập dự toán:
Đảm bảo sự tiếp tục của kế hoạch đề ra;
Đo lường trong từng thời kỳ những điều kiện để đạt được mục đích đề ra;
Trang 8Đánh giá tính kinh tế, hiệu suất, hiệu quả của quá trình quản lý;
Can thiệp để điều chỉnh kế hoạch;
Đánh giá lại mục tiêu và chiến lược của một tổ chức;
Dự toán là một công cụ để lập kế hoạch và kiểm tra được sử dụng rất rộng rãitrong quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Hiện nay, trong bất kỳdoanh nghiệp nào cũng có hệ thống các bản dự toán, dự toán là phương tiện đắc lựccho các nhà quản lý trong việc điều hành doanh nghiệp Theo một số nghiên cứu,90% doanh nghiệp ở Mỹ lập các dự toán tổng thể gọi là “ dự toán chủ đạo” Tỷ lệnày là 93% ở Nhật, 95% ở Úc và 100% ở Anh và Hà Lan
Dự toán không chỉ đơn thuần là tổng thể các số liệu dự đoán mà còn cung cấpcác số liệu cũng như các thể thức thực hiện dự án Lập dự toán chính là quá trình lập
kế hoạch dần dần từng bước tiến trình thực hiện dự án Nói cách khác đây là việc trù
bị chiến lược và chi phí cho dự án Số liệu của dự toán là các chuẩn mực để đánh gíathành tích của doanh nghiệp
- Trình tự và phương pháp xây dựng dự toán theo đơn vị đo lường
a) Dự toán tiêu thụ
Dự toán tiêu thụ là nền tảng của dự toán tổng thể doanh nghiệp, vì dự toán này
sẽ xác lập mục tiêu của doanh nghiệp so với thị trường, với môi trường Tiêu thụđược đánh giá là khâu thể hiện chiến lược hoạt động của doanh nghiệp Hơn nữa, vềmặt lý thuyết tất cả các dự toán khác của doanh nghiệp suy cho cùng đều dựa vàoloại dự toán tiêu thụ Dự toán tiêu thụ chi phối đến các dự toán khác, nếu xây dựngkhông chính xác sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của dự toán tổng thể của doanhnghiệp Dự toán tiêu thụ được lập dựa trên dự báo tiêu thụ Dự toán tiêu thụ bao gồmnhững thông tin về chủng loại, số lượng hàng bán, gía bán và cơ cấu sản phẩm tiêuthụ
Dự toán doanh thu = Dự toán sản phẩm
Đơn giá bántheo dựtoán
Ngoài ra dự toán tiêu thụ còn dự báo cả mức bán hàng thu bằng tiền và bánhàng tín dụng cũng như phương thức tiêu thụ Khi lập dự toán tiêu thụ, các nhà quản
Trang 9lý cần xem xét ảnh hưởng chi phí Marketing đến hoạt động tiêu thụ tại doanhnghiệp.Trong doanh nghiệp, bộ phận kinh doanh hoặc Marketing có trách nhiệmtrực tiếp cho việc lập dự toán tiêu thụ.
Sau khi xác lập mục tiêu chung của dự toán tiêu thụ, dự toán còn có tráchnhiệm chi tiết hoá nhiệm vụ của từng thời kỳ, từng bộ phận Việc xem xét khốilượng tiêu thụ theo thời kỳ còn dựa vào chu kỳ sống của sản phẩm
Trên cơ sở mục tiêu theo từng thời kỳ của doanh nghiệp, dự toán tiêu thụ phảiđược lập cụ thể theo từng vùng, theo từng bộ phận, từng sản phẩm Như vậy, nókhông những giúp đỡ nhà quản trị trong việc tổ chức thực hiện mà còn cho phépđánh giá kết quả và thành tích của các vùng khi so sánh kết quả thực hiện mà mụctiêu đặt ra
Khi lập dự toán tiêu thụ cũng cần quan tâm đến chính sách bán hàng của doanhnghiệp để ước tính dòng tiền thu vào liên quan đến bán hàng trong các thời kỳ khácnhau
b) Dự toán sản xuất
Việc xây dựng dự toán sản xuất nhằm xác định số lượng, chủng loại sản xuấttrong kỳ Để xây dựng dự toán sản xuất cần dựa vào:
Số lượng sản phẩm tồn kho đầu kỳ được ước tính theo thực tế của kỳ trước;
Số lượng sản phẩm tiêu thụ dự toán được xác định theo dư toán tiêu thụ;
Nhu cầu sản phẩm tồn kho cuối kỳ theo mong muốn của nhà quản trị Đâychính là mức dự trữ tối thiểu cần thiết để phục vụ tiêu thụ cho thời kỳ sau thời kỳ dựtoán Mức tồn kho cuối kỳ dự tính nhiều hay ít thường phụ thuộc vào độ dài của chu
kỳ sản xuất Nhu cầu có thể được xác định theo một tỷ lệ phần trăm nhu cầu tiêu thụcủa kỳ sau
Khả năng sản xuất của doanh nghiệp
Số lượng sản phẩm cần sản xuất trong kỳ là:
+
Số sản phẩmtiêu thụ trongkỳ
-Số sản phẩmtồn kho theo dựtoán
Trang 10Tuy nhiên không phải doanh nghiệp lúc nào cũng có thể đảm nhận tất cả nhucầu, điều đó còn tuỳ khả năng sản xuất trên cơ sở năng lực hiện có Do vậy, khốilượng sản xuất dự toán = Min(Khối lượng sản xuất theo yêu cầu, khối lượng sảnxuất theo khả năng).
Khi lập dự toán sản xuất cần chú ý đến phân chia công việc cho các đơn vịcũng nhự theo thời gian thực hiện, từng công đoạn Việc phân bố cụ thể công việccho phép doanh nghiệp tổ chức thực hiện công việc tốt hơn, đồng thời kiểm tra kiểmsoát được công việc một cách dễ dàng
Phân bổ công việc theo thời gian thường là hàng tháng cho phép lựa chọn cáccách thức điều chỉnh tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động doạnh nghiệp và tính chất,nội dung sản phẩm Phân bổ công việc theo bộ phận nhằm lập dự toán nội bộ là côngviệc rất quan trọng và nó là cơ sở để lập dự toán chi phí sản xuất theo bộ phận cũngnhư theo thời gian
Phân bổ công việc vừa theo thời gian vừa theo bộ phận trước hết phải quan tâmđến cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp để qua đó xem xét tiềm năng của từng bộphận Các nhân tố quan trọng cần xem xét khi thực hiện công việc là khả năng tồnkho dự trữ, lực lượng lao động chủ yếu, sự phù hợp giữa mức trang bị tài sản cốđịnh
c) Dự toán chi phí sản xuất
Trong giai đoạn này, lập dự toán chi phí sản xuất nhằm xác định toàn bộ chiphí để sản xuất một khối lượng sản phẩm đã được xác định trước Chi phí sản xuấtsản phẩm bao gồm 3 khoản mục là chi phi nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp và chi phí sản xuất chung, nên dự toán chi phí sản xuất phải thể hiệnđầy đủ ba loại chi phí này Nhiệm vụ đặt ra trong phần này không chỉ xác định chiphí sản xuất cụ thể từng loại, từng đơn vị mà còn phải chú ý đến nhiệm vụ cắt giảmchi phí mà doanh nghiệp có thể thực hiện
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệutrực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán khối lượngsản phẩm sản xuất Để lập dự toán Nguyên vật liệu trực tiếp cần xác định: định mức
Trang 11tiêu hao Nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm;
Đơn gía xuất nguyên vật liệu: thông thường đơn giá xuất ít thay đổi.Tuy nhiên để cóthể phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểm soát khi dự toán đơn gía nàycần phải biết doanh nghiệp sử dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho nào: phương phápLIFO, FIFO, giá đích danh hay đơn giá bình quân
Mức độ dữ trữ Nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán được tính toántrên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho
Như vậy:
Dự toán lượng nguyên
Định mức tiêu haonguyên vật liệu x
Số lượng sảnphẩm sản xuấttheo dự toán
Và dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản xuất sẽ là:
Dự toán chi phí nguyên
Trong đó: Mij là mức hao phí vật liệu j để sản xuất một sản phẩm i
GJ là đơn giá vật liệu loại j (j= 1,m)
Qi là số lượng sản phẩm i dự toán sản xuất( i= 1,n )
n là số loại sản phẩm
m là số loại vật liệu
Dự toán cung cấp nguyên vật liệu
Dự toán cung cấp nguyên vật liệu được lập cho từng loại nguyên vật liệu cầnthiết để thực hiện quá trình sản xuất trên cơ sở số lượng nguyên vật liệu dự toán cầnthiết sử dụng và chính sách dự trữ tồn kho của doanh nghiệp theo công thức sau:
Số lượng nguyên = Số lượng nguyên + Số lượng - Số lượng
CPVL = ∑∑
QiMijGj
n m
i j
Trang 12liệu mua vào liệu sử dụng theo
dự toán
nguyên liệutồn cuối kỳtheo dự toán
nguyên liệutồn thực tếđầu kỳ
Số tiền cần thiết phải chuẩn bị để mua nguyên vật liệu được tính toán dựa vàoviệc dự báo đơn giá mua nguyên vật liệu và dự toán mua nguyên vật liệu trực tiếpđược xây dựng Đơn giá nguyên vật liệu là giá thanh toán với nhà cung cấp
Dự toán tiền mua nguyên
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng từ dự toán khối lượng sảnxuất Dự toán này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô củalực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duytrì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phíhoặc bị động trong sử dụng lao động Dự toán lao động còn là cơ sở để doanh nghiệplập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất
Chi phí nhân công trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ với khốilượng sản phẩm sản xuất Trong một số ít các trường hợp chi phí nhân công trực tiếpkhông thay đổi theo mức độ hoạt động, đó là trường hợp ở doanh nghiệp sử dụngcông nhân có trình độ tay nghề cao, không thể trả công theo sản phẩm Để lập dựtoán chi phí này, doanh nghiệp phải tính toán dựa vào số lượng nhân công, quỹlương, cách phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp
Đối với biến phí nhân công trực tiếp, để lập dự toán doanh nghiệp cần xâydựng:
Trang 13Mij là mức hao phí lao động trực tiếp loại j để sản xuất một sản phẩm i
Gj là đơn giá lương của lao động loại j
Li là đơn giá lương tính cho mỗi sản phẩm
Qi là số lượng sản phẩm i dự toán sản xuất
Số liệu về chi phí nhân công phải trả còn là cơ sở để lập dự toán tiền mặt
Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạtđộng sản xuất, phát sinh trong phân xưởng Chi phí sản xuất chung bao gồm cả yếu
tố chi phí biến đổi và chi phí cố định, nên dự toán chi phí sản xuất chung phải tínhđến cách ứng xử chi phí để xây dựng định mức dự toán phí hợp lý trong kỳ Cũng cóthể dự toán chi phí sản xuất chung theo từng nội dung kinh tế cụ thể của chi phí.Tuy nhiên cách, cách làm này khá tốn phức tạp, tốn nhiều thời gian không phù hợpđối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ như ở nước ta hiện nay
Dự toán này ở các doanh nghiệp thường được xem là một nơi tập trung chủ yếunhằm giảm thấp chi phí và giá thành sản phẩm Tuy nhiên với xu hướng gía thànhngày càng giảm, việc đấu tranh chống tăng chi phí là nhiệm vụ khá quan trọng Cácchi phí này thông thường không liên quan trực tiếp đến sản phẩm cụ thể Nếu sửdụng cách tính toán giá thành toàn bộ, việc tăng giảm của các chi phí này thuộc vềtrách nhiệm của nhà quản trị từng khu vực, từng trung tâm Các chi phí này thườngđộc lập tương đối với mức độ hoạt động, nó liên quan chủ yếu với cấu trúc của phânxưỏng, phải sử dụng các kỹ thuật tách biệt phần biến phí và định phí đối với chi phiphí hỗn hợp Như vậy, chi phí sản xuất chung hoàn toàn có thể kiểm tra được
Trang 14Dự toán biến phí
Dự toán biến phíđơn vị xuất chung x
Số lượng sản xuấttheo dự toán
Dự toán biến phí cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp, khi đóbiến phí sản xuất chung dự toán sẽ xác định:
Dự toán định phí sản xuất chung cần thiết phải phân biệt định phí bắt buộc vàđịnhm phí tuỳ ý Đối với định phí bắt buộc, trên cơ sở định phí chung cả năm chiađều cho 4 quý nếu là dự toán quý hoặc chia đều cho 12 nếu là dự toán tháng Cònđôí với định phí tuỳ ý thì phải căn cứ vào kế hoạch của nhà quản trị trong kỳ dựtoán Dự toán định phí hàng năm có thể được lập dựa vào mức độ tăng giảm liênquan đến việc trang bị, đầu tư mới ở doanh nghiệp
Dự toán định phí sản
Định phí sản xuấtchung thực tế kỳtrước
x
Tỷ lệ % tăng( giảm) định phí sản xuấtchung theo dự kiến
Dự toán giá vốn hàng bán
Gía vốn hàng bán thực chất là tổng giá thành của khối lượng sản phẩm tiêu thụtrong kỳ tính theo phương pháp giá toàn bộ Như vậy trên cơ sở số lượng sản phẩmsản xuất theo dự tóan, gía thành dự toán để sản xuất sản phẩm, số lượng sản phẩm
dự trữ dự toán vào cuối kỳ, dự toán giá vốn hàng xuất bán được xây dựng như sau:
Dự toán giá vốn
hàng xuất bán =
Gía thành sảnphẩm sản xuấttrong kỳ theo
dự toán
+
Gía thành sảnphẩm tồn khocuối kỳ dự toán
-Gía thànhsản phẩmtồn đầu kỳthực tếNếu đơn vị không có tồn kho sản phẩm hoặc chi phí đơn vị tồn kho tương tựnhau thì giá vốn hàng bán có thể được tính bằng tích của sản lượng tiêu thụ nhân vớigía thành sản xuất đơn vị sản phẩm Tương tự như dự toán chi phí nguyên vật liệu,khi lập dự toán giá vốn hàng bán phải chú ý các phương pháp đánh gía hàng tồn kho
mà doanh nghiệp sử dụng để tính toán chính xác