MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I PHÂN TÍCH CHUNG VỀ ĐIỀU 679 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 1 II QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ 2 2 1 Khái niệm quyền tác giả và quyền liê.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1
I PHÂN TÍCH CHUNG VỀ ĐIỀU 679 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 1
II QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ 2 2.1 Khái niệm quyền tác giả và quyền liên quan trong tư pháp quốc tế 2 2.2 Quyền tác giả và quyền liên quan có yếu tố nước ngoài 4 III QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ 7 3.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng 7 3.2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng cho
tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam 8 KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong thời đại phát triển của nền kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vấn đề sỡ hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của nhân loại Nó đã trở thành một vấn đề kinh tế và pháp lý trọng tâm trong nội bộ của nhiều nước, cũng như trong các thương lượng, tranh chấp quốc tế Tạo dựng được một hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hoàn thiện, vững chắc đó là một nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế dài hạn ở bất kỳ quốc gia nào đặc biệt là Việt Nam Đồng thời, đây là một đòi hỏi bắt buộc trong quá trình hội nhập kinh tế
Hiểu được tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ cũng như vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nên em đã chọn đề bài số 15 cho bài tập học kỳ của mình với
đề bài “Bình luận quy định tại Điều 679 bộ luật Dân sự năm 2015”
NỘI DUNG
I PHÂN TÍCH CHUNG VỀ ĐIỀU 679 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
Khác với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 quy định quy phạm xung đột
quyền sở hữu trí tuệ gói gọn tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2015 Theo đó
“Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền
sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ.”
Sở hữu trí tuệ hay còn được gọi là tài sản trí tuệ là kết quả hoạt động tư duy, sáng tạo của con người Đối tượng của loại sở hữu này là các sản phẩm phi vật chất nhưng có giá trị về kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại Đó có thể là tác phẩm văn học, âm nhạc, phần mềm máy tính, phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,…
Trang 3Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm
2009 (Luật SHTT) thì quyền sở hữu trí tuệ là “quyền tổ chức, cá nhân đối với tài
sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.”
Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Trường hợp
cá nhân, pháp nhân yêu cầu được bảo hộ ở quốc gia nào thì sẽ áp dụng pháp luật của quốc gia đó Ví dụ ông X yêu cầu bảo hộ quyền tác giả tại Mỹ thì sẽ áp dụng luật về quyền tác giả tại Mỹ
Theo quy định tại Điều 3 Luật SHTT thì đối tượng của quyền sở hữu gồm:
“1 Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa
học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá
2 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạng tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
3 Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.”
Như vậy có thể nói, quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng được xác định theo pháp luật nơi quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng được yêu cầu bảo hộ
II QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
2.1 Khái niệm quyền tác giả và quyền liên quan trong tư pháp quốc tế
Khái niệm quyền tác giả
Trang 4Về mặt lý luận, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Theo nguyên tắc được thừa nhận chung trên thế giới, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng kí hay chưa đăng kí
Theo Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT quy định về giải thích từ ngữ thì “quyền tác
giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.”
Theo Điều 14 Luật SHTTthì các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
bao gồm: tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình, tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc kí tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điẹn ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự ( sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc; bản hoạ đồ, sơ đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu
Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh Tác phẩm được bảo hộ phải do tác gải trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép
từ tác phẩm của người khác Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó, quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lí, số liệu không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả
Khái niệm quyền liên quan
Trang 5Quyền liên quan là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã
hoá(Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT) Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu
diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình được phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả
Theo khoản 1 Điều 29 Luật SHTTthì người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư
thì có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; trong trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn
2.2 Quyền tác giả và quyền liên quan có yếu tố nước ngoài
Theo Điều 679 BLDS năm 2015 có thể chia quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả có yếu tố nước ngoài thành hai trường hợp:
Có điều ước quốc tế điều chỉnh Theo khoản 3Điều 5 Luật SHTT
quy định về áp dụng pháp luật thì “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó.” Quyền tác giả và quyền
liên quan đến quyền tác gỉa có điều ước quốc tế điều chỉnh như Công ước Berne; Hiệp định TRIPs; Hiệp định Việt Nam – Hoa Kỳ; Hiệp định giữa Việt Nam – Thuỵ Sỹ; Hiệp định khung Việt nam – ASEAN
Thứ nhất, đối với việc bảo hộ quyền tác gải theo quy định của công ước Berne
Đối tượng bảo hộ của Công ước Berne là các tác phẩm văn họcm nghệ thuật và khoa học được liệt kê khá đầy đủ và toàn diện tại Điều 2 bao gồm: tát cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm kịch hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản
Trang 6nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm được diễn tả bằng một kỹ thuật tương tự điện ảnh… Công ước bảo hộ các tác phẩm được biểu hiện theo phương thức hay hình thức nào Đồng thời, công ước cũng quy định mở cho các quốc gia thành viên quyền quyết định không bảo hộ các tác phẩm nói chung hoặc những thể loại khác cụ thể nào đó, trong khi các tác phẩm ấy chưa được ấn định trên một hình thái vật chất
Về quyền được bảo hộ, Công ước quy định các quyền độc quyền của tác giả bao gồm quyền sao chép, quyền phân phối, quyền dịch, quyền phóng tác, quyền biểu diễn công cộng, quyền kể lại trước công chúng, quyền phát sóng, quyền truyền thông tới công chúng, quyền bán lại tác phẩm nghệ thuật gốc Các quyền này là quyền kinh tế của tác giả, do tác giả trực tiếp thực hiện hoặc cho phép các tổ chức, cá nhân khác thực hiện
Các nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả cho người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài theo quy định của Công ước Berne
i) Nguyên tắc đối xử quốc gia: là ngueye tắc đặt ra cho các quốc gia thành viên thực hiện bảo hộ tác phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia thành viên khác tương tự như sự bảo hộ tác phẩm của công dân quốc gia mình Sự bảo hộ đó không thấp hơn
sự bảo hộ đối với công dân thuộc quốc gia mình Nguyên tắc này đặt ra sự bình đẳng trong đối xử với công dân và pháp nhân của các quốc gia thành viên
ii) Nguyên tắc bảo hộ tự động: đây là nguyên tắc đặc thù tring lĩnh vực quyền tác giả, theo đó quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm định hình dưới dạng vật chất nhất định không lệ thuộc vào bất cứ thủ tục nào như đăng ký cấp giấy chứng nhận, nộp lưu chiểu,…
iii) Nguyên tắc bảo hộ độc lập: việc thực hiện các quyền theo công ước độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm Nguyên tắc được thể hiện
ở chỗ, một tác phẩm được bảo hộ không phụ thuộc vào việc tác phẩm đó có được bảo hộ hay không tại quốc gia gốc của nó Nói cách khác, một tác phẩm dù có hay
Trang 7không được bảo hộ ở quốc gia gốc nhưng nó vẫn có thể được bảo hộ ở các quốc gia khác là thành viên của Liên hiệp với quy chế pháp lý theo về bảo hộ quyền tác giả ở quốc gia này
Thứ hai, bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Hiệp định TRIPs Hiệp định
đưa ra các điều khoản chung và các nguyên tắc cơ bản, đặc biệt là cam kết đối xử quốc gia mà theo đó các công dân của các nước thành viên phải được đối xử không kém ưu đãi hơn so với công dân của nước thành viên đó về quyền SHTT nói chung
và quyền tác giả nói riêng
Đối tượng bảo hộ bao gồm: tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học Tuy nhiên, không phải bất kỳ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học nào cũng được bảo hộ Để được bảo hộ, tác phẩm phải là nguyên tác, nguyên bản sáng tạo của tác giả
Nội dung của hiệp định TRIPs cũng bao gồm các nội dung được quy định tại Công ước Berne
Thứ ba, Hiệp định Việt Nam – Hoa Kỳ;Việt Nam – Thuỵ Sỹ; Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) Về cơ bản cả ba hiệp định này đều xây dựng trên
cơ sở các chuẩn mực của Hiệp định TRIPs Về thực thi cả ba Hiệp định đều quy định các nghĩa vụ thực hiện theo quy định trên lãnh thổ quốc gia nào thì theo quy định pháp luật của quốc gia đó
Không có điều ước quốc tế điều chỉnh Nếu không có điều ước quốc
tế mà người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài sẽ được bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam nếu họ có tác phẩm lần đầu tiên được công bố tại Việt Nam hoặc lần đầu tiên được sáng tạo ở Việt Nam mà chưa công bố ở bất kỳ quốc gia nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mưoi ngày, kể từ ngày tác phẩm
đó được công bố lần đầu tiền ở nước khác (Khoản 2 Điều 13 Luật SHTT)
Khác với các quyền dân sự, theo cách quy định của tất cả các quốc gia trên thế giới từ trước đến nay, quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả phát
Trang 8sinh và được thừa nhận, bảo hộ theo pháp luật quốc gia nào thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó, trừ trường hợp các điều ước quốc tế mà các quốc gia liên quan là thành viên có quy định khác
Như vậy, đối với quyền tác giả, chủ sở hữu tác giả là tổ chức, cá nhân nước ngoài nếu công bố tác phẩm ở Việt Nam thì sẽ được pháp luật Việt nam bảo hộ và
áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam Hay nói cách khác, tác giả người nước ngoài sẽ được hưởng quyền tài sản, quyền nhân thân trong lĩnh vực quyền tác giả như tác giả là công dân Việt nam Đối với tác phẩm, công trình của người nước ngoài được công bố, sử dụng ở Việt Nam dựa trên cơ sở những điều ước quốc tế về quyền tác giả mag Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì chế độ bảo hộ sẽ được xác định theo Điều ước và theo pháp luật Việt Nam
III QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
3.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng
Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp
Theo Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT quy định về giải thích từu ngữ thì “ Quyền
sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.”
Như vậy, có thể thấy quyền sở hữu công nghiệp liên quan trực tiếp đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại và các đối tượng này có thể chia thành hai nhóm cơ bản:
Thứ nhất, các đối tượng mang tính sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn,…
Thứ hai, các đối tượng là các dấu hiệu mang tính phân biêt trong thương mại như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, bí mật kinh doanh,…
Trang 9 Khái niệm về quyền đối với giống cây trồng
Giống cây trồng là một trong các đối tượng của quyền SHTT được ghi nhận
trong các điều ước quốc tế và pháp luật của các quốc gia trên thế giới Khoản 22
Điều 4 Luật SHTT quy định về giống cây trồng Theo đó, giống cây trồng là quần
thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một trính trạng có khả năng di truyền được
Quyền đối với giống cây trồng được quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật SHTT:
“Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền
sổ hữu.”
3.2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam
Tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài đến đăng ký bảo hộ quyền SHCN, quyền đối với giống cây trồng ngày càng tăng Ngoài việc tuân thủ các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như đã phân tích thì việc bảo hộ quyền SHCN, quyền đối với giống cây trồng cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam còn phải căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam Hay nói cách khác, khi tổ chức, cá nhân nước ngoài yêu cầu bảo hộ tại Việt Nam thì áp dụng quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam
Để bảo hộ quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam thì quyền SHCN, quyền đối với giống cây trồng của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đều được cấp văn bằng bảo hộ hoặc công nhận được bảo hộ theo quy định của Pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Trang 10Ngoài ra, Điều 157 Luật SHTT quy định thì tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng tại Việt Nam là tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức,
cá nhân nước ngoài thuộc nước có kí kết với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thoả thuận về bảo hộ giống cây trồng; tổ chức, cá nhân nước ngoài có trụ sở, địa chỉ thường trú tại Việt Nam hoặc có cơ sở, sản xuất kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có trụ sở, địa chỉ thường trú hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại nước có kí kết với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thoả thuận bảo hộ giống cây trồng
Như vậy, với quy định trên, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam sẽ bảo hộ quyền SHCN, giống cây trồng cho tổ chức, cá nhân nước ngoài khi:
Thứ nhất, có đối tượng SHCN, giống cây trồng được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ (như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp – quy
định tại Điều 92 Luật SHTT về văn bằng bảo hộ)
Thứ hai, có đối tượng SHCN được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận bảo hộ ( bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng)
Những vấn đề này đã được BLTTDS năm 2015 khái quát thành Điều 679
“Quyền SHTT được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền SHTT được yêu cầu bảo hộ.” Với quy định này, khi tổ chức, cá nhân nước ngoài có yêu
cầu bảo hộ quyền SHCN , quyền đối với giống cây trồng tại Việt Nam thì pháp luật
áp dụng là pháp luật Việt Nam và đièu ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam là thành viên có quy định khác với quy định của pháp luật Việt nam thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó