1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuần 16. Ôn tập về Làm văn (Học kì I)

22 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 6,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số bài văn ôn thi học kì I lớp 10 MỘT SỐ BÀI VĂN ÔN THI HỌC KÌ I LỚP 10 ĐỀ BÀI PHÂN TÍCH BÀI THƠ CẢNH NGÀY HÈ CỦA NGUYỄN TRÃI Nguyễn Trãi được biết đến là anh hùng dân tộc đồng thời là nhà thơ với những tác phẩm để lại dấu ấn trong lòng người đọc Những năm tháng cáo quan về ở ẩn, Nguyễn Trãi đã sáng tác rất nhiều, mỗi bài thơ đều mang tâm trạng và nỗi niềm sâu thẳm của ông Bài thơ “Cảnh ngày hè” là bức tranh mùa hè nơi miền quê, đồng thời là nỗi lòng chưa giãi bày của ông Cuộc sống của vị qu[.]

Trang 1

MỘT SỐ BÀI VĂN ÔN THI HỌC KÌ I LỚP 10

Trang 2

ĐỀ BÀI:PHÂN TÍCH BÀI THƠ CẢNH NGÀY HÈ

CỦA NGUYỄN TRÃI

• Nguyễn Trãi được biết đến là anh hùng dân tộc đồng thời là nhà thơ với những tác phẩm để lại dấu ấn trong lòng người đọc Những năm tháng cáo quan về ở ẩn, Nguyễn Trãi đã sáng tác rất nhiều, mỗi bài thơ đều mang tâm trạng và nỗi niềm sâu thẳm của ông Bài thơ “Cảnh ngày hè” là bức tranh mùa hè nơi miền quê, đồng thời là nỗi lòng chưa giãi bày của ông.

• Cuộc sống của vị quan ở ẩn thật thanh bình, yên ả, không xô bồ Ông đã mở đầu bài thơ một cách nhẹ nhàng và êm đềm nhất:

Rồi hóng mát thuở ngày trường

• Câu thơ trên đã gợi lên được phong thái và cuộc sống bình dị của Nguyễn Trãi nơi vùng quê thanh bình Rời xa chốn quan trường nhiều đấu tranh, bất công, ông lựa chọn cho mình một  con đường   riêng, xa lánh việc quân, gần gũi và chan hòa với thiên nhiên Thời gian không được nhắc đến nhưng người đọc sẽ nhận ra đó là mùa hè Tuy câu thơ không vướng bận lo âu nhưng chắc hẳn người đọc vẫn nhận ra được tâm sự của tác giả Dù không bận việc nước, việc quân nhưng trong lòng ông còn nhiều tâm sự chưa giãi bày

• Một bức tranh mùa hè nhiều màu sắc, cảnh vật thiên nhiên dường như đan cài vào nhau tạo nên đường nét và sức sống của mùa hè Hình ảnh cây hòe, cây thạch lựu, cây hồng là những đặc trưng của mùa hè

Trang 3

ĐỀ BÀI:PHÂN TÍCH BÀI THƠ CẢNH NGÀY HÈ

CỦA NGUYỄN TRÃI

• Màu sắc của những loài cây ấy đã gợi lên một không gian tràn ngập màu sắc và sự sôi động Qua ngòi bút của Nguyễn Trãi người đọc nhận ra một khu vườn tràn trề sức sống Ắt hẳn ai ai cũng thích một cuộc sống thanh thản, trầm tĩnh như thế này Có lẽ đây là đặc trưng của mùa hè đất Bắc.

• Tuy nhiên đằng sau bức tranh mùa hè đầy màu sắc đó, người đọc nhận ra một tấm chân tình của ông dành cho  quê hương   đất nước:

Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

• Với cú pháp đảo trật tự cú pháp, từ láy “lao xao” được đảo lên đầu câu đã khiến cho chúng ta cảm nhận rất rõ sự tấp tập, nhộn nhịp của khung cảnh chợ  làng quê   nơi ông đang sống Bởi rằng “Chợ” luôn gợi lên sự an bình, thịnh vượng, khi chợ còn đông nghĩa là đất nước ấm no  hạnh phúc , khi chợ tàn đồng nghĩa với thời kỳ suy thoái của đất nước Như vậy, dù ở quê nhà thì Nguyễn Trãi vẫn luôn mong cho đất nước luôn bình an, ấm no hạnh phúc Ở những câu thơ tiếp theo, người đọc nhận ra một bức tranh mùa

hè đầy màu sắc:

Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Trang 4

ĐỀ BÀI:PHÂN TÍCH BÀI THƠ CẢNH NGÀY HÈ

CỦA NGUYỄN TRÃI

• Hai câu cuối của bài thơ chính là nguyện vọng, là ý tưởng mà cả cuộc đời Nguyễn Trãi ấp ủ và mong ngóng:

• Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

• Dân giàu đủ khắp đòi phương

• Tác giả đã lấy điển tích điển cố thời vu Nghêu, vua Thuấn cai trị đất nước luôn thái bình thịnh trị Thời đó, vua Thuấn có một khúc đàn “Nam Phong” với giọng điệu sôi nổi, gợi cảm giác bình dị, ấm êm Bơi vậy Nguyễn Trãi muốn mượn tiếng đàn đó để có thể nguyện cầu cho cuộc sống của nhân dân luôn chan hòa, an lành và hạnh phúc nhất Nguyện vọng “Dân giàu đủ” của Nguyễn Trãi thực sự đáng quý, đáng trân trọng

• Như vậy qua bài thơ “Cảnh ngày hè” Nguyễn Trãi đã vẽ lên một bức tranh ngày hè sôi động, nhiều màu sắc, đồng thời qua đó thấp thoáng bóng dáng một người luôn nghĩ cho nước cho dân Bài thơ để lại cho người đọc những ấn tượng sâu lắng nhất về cuộc sống và tâm tư đáng trân trọng của ông

Trang 5

Phân tích bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du 

• Nguyễn Du khi bắt gặp những bài thơ ấy đã nảy sinh lòng trắc ẩn, xót thương cho than

phận tài hoa bạc mệnh Và qua nhân vật này, ông phản chiếu vào cuộc đời mình, nhận ra cuộc đời có quá nhiều bất công, khổ ải.

• Nguyễn Du đã mở đầu bài thơ bằng cách gợi ra không gian nơi nàng Tiểu Thanh từng sống:

Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoan

Thổn thức bên song mảnh giấy tàn

• Hai câu thơ có sức gợi, sức ảm ánh rất lớn, khiến người đọc tưởng tưởng ra không gian, khung cảnh rất xa xa – nơi người con gái bạc mệnh đã từng sống Tây Hồ là nơi cảnh đẹp hữu tnh nhưng lại hóa gò hoang váng, heo hút vì có người con gái mãi mãi chon vùi tuổi   thanh xuân của mình ở đây Những tâm sự chồng chất ấy, nàng đã giãi bày qua những vần thơ

đẫm nước măt Hình ảnh người con gái có chồng cũng như không, một mình vò võ, “thổn thức” bên song cửa sổ với những mảnh giấy tàn viết nên tâm sự đau lòng Không còn gì buồn và thê thảm hơn khi “có chồng hờ hững cũng như không” Cuộc đòi của những người phụ nữ xinh đẹp, tài hoa trong

xã hội phong kiến dường như đều bị chà đạp như thế.

Trang 6

Phân tích bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du 

• Nguyễn Du có cảm giác như mảnh giấy tàn ấy vẫn còn vương vấn linh hồn của nàng, còn

phảng phất cho đến tận bây giờ.

• Ông xót xa cho than phận bạc mệnh đó

• Son phấn có thần chon vẫn hận

• Văn chương không mệnh đốt còn vương

• Hai câu thơ này đã toát lên sự xót xa, chua xót đến tột độ của Nguyễn Du khi nghĩ đến người con gái mệnh bạc ấy Đã 300 năm trôi qua nhưng hình ảnh của nàng vẫn còn vương vấn,

khiến người đòi về sau không khỏi xót thương Tác giả dùng từ « son phấn » để chỉ nhan sắc của người con gái dù có xinh đẹp bao nhiêu thì cũng bị vùi dập, chà đạp không tiếc thương, cuối cùng đành ôm hận mà chết Những trang thơ mà nàng viết, bị người ta đốt cháy hết   thì nó vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay.

• Hai câu luận đã thể hiện được sự đồng cảm, xót xa cho thân phận tài hoa này :

• Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi

• Cái án phong lưu khách tự mang

Trang 7

Phân tích bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” của

Nguyễn Du 

• Hai câu thơ cất lên đầy sự tuyêt vọng, ai oán và u sầu nặng nề Hỏi trời cao, trời không thấu, trách kẻ bạc tnh, người không hay Nguyễn Du thốt lên một câu hỏi đầy chua xót nhưng nhận về mình nhiều khổ đau Những người phụ nữ tài hoa, xinh đẹp tư xưa đến nay dường như đã mang trong mình cái « án » oan

nghiệt, không thể rũ bỏ được.Hay chính xã hội phong kiến đã đẩy họ vào bước đường cùng nhiều chua cay như thế này Và ở hai câu kết, tác giả đã vận vào bản thân mình, vận sự bạc mệnh của người phụ nữ tài hoa ấy

Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa Người đời ai khóc Tố Như chăng ?

• Một câu hỏi tu từ đầy ngậm ngùi và chua xót khi nghĩ đến cảnh mình sau 300 năm nữa Tiểu Thanh sau 300 năm vẫn khiến người đọc xót xa, day dứt, nhưng liệu rằng mình có còn được như thế, hay hóa thành cát bụi.

• Câu hỏi đậm giá trị nhân văn, ông muốn hỏi dò tâm ý của mọi người khi nghĩ đến số phận của những người tài hoa sau một thời gian dài sẽ như thế nào Từ số kiếp tài hoa bạc mệnh của Tiểu Thanh, ông đã liên

tưởng đến cuộc đời nhiều sóng gió của bản thân mình Câu thơ còn khiến cho người đọc phải nghĩ, phải day dứt và xót xa trăm nghìn lần.

• Bài thơ « Đọc tiểu thanh ký » của Nguyễn Du là một kiệt tác để lại trong lòng người đọc nhiều nỗi niềm

thương cảm về số phận bất hạnh của nhiều người trõng xã hội, lên án xã hội chà đạp lên nhân phẩm của họ.

Trang 8

Phân tích bài thơ “Nhàn” của  Nguyễn

• Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có học vấn uyên thâm, từng làm quan nhưng vì cảnh quan

trường nhiều bất công nên ông đã cáo quan về ở ấn; sống cuộc sống an nhàn, thanh thơi

Ông còn được biết đến là nhà thơ nổi tiếng với hai tập thơ tiếng Hán “Bạch Vân am thi tập”

và tập thơ tiếng Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi” Bài thơ “Nhàn “được rút trong tập thơ “ Bạch  Vân quốc ngữ thi” Bài thơ đựợc viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật, là tiếng lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về một cuộc sống nhiều niềm vui , an nhàn và thanh thản nơi đồng quê

• Xuyên suốt bài thơ “Nhàn” là tâm hồn tràn ngập niềm vui và sự thanh tịnh trong tâm hồn tác giả Có thể xem đây là điểm nhấn, là tinh thần chủ đạo của bài thơ Chỉ vơi 8 câu thơ đường luật nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mang đến cho người đọc một cuộc sống an nhàn nơi đồng quê êm ả Mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề rất mộc mạc:

• Một mai một cuốc, một cần câu

• Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

• Với phép lăp “một”-“một” đã vẽ lên trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị, đơn sơ nơi quê nghèo, dù một mình nhưng không hề đơn độc

Trang 9

Phân tích bài thơ “Nhàn” của 

• Hai câu thơ toát lên sự thanh tịnh của tâm hồn và êm đềm của thiên nhiên ở vùng quê Bắc

Bộ “Một cuốc”, “một cần câu” gợi lên sự bình dị, mộc mạc của một người nông dân chất phác Hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn Đây có thể nói là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người

ở thời kỳ phòng kiến ngày xưa nhưng không phải ai cũng có thể dứt bỏ được chốn quan

trường về với đồng quê như thế này Động từ “thơ thẩn” ở câu thơ thứ hai đã tạo nên nhịp điệu khoan thai, êm ái cho người đọc Dù ngoai kia người ta vui vẻ nơi chốn đông người thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mặc kệ, vẫn bỏ mặc để “an phận” với cuộc sống của mình hiện tại Cuộc sống của ông khiến nhiều người ngưỡng mộ

• Đến hai câu thơ thực tiếp theo càng khắc họa rõ nét hơn chân dung của “lão nông Nguyễn Bỉnh Khiêm”

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao

Trang 10

Phân tích bài thơ “Nhàn” của 

• Đây có thể xem là tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm những năm tháng sau khi cáo quan về

ở ẩn Ông tự nhận mình “dại” khi tm nơi vắng vẻ đến sống, nhưng đây là cái “dại” khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ Ông rất khéo léo trong việc dùng từ ngữ độc đáo, lột tả được hết phong thái của ông Ông bảo rằng những người chọn chốn quan trường là những người “khôn”

• Một cách khen rất tinh tế, khen mà chê, cũng có thể là khen mình và chê người Tứ thơ ở hai câu này hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến dụng ý “dại” –“khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao” Nguyễn Bỉnh Khiêm tm về nơi vắng vẻ để ở có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? Với thời thế như vậy giờ và với cốt cách của ông thì “nơi vắng vẻ” mới thực sự là nơi để ông sống đến suốt cuộc đời Một cốt cách thanh cao, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ Hai câu thơ luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

• Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo” Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào hải vị nhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả an phận và hài long.  Mùa thu   có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá

Trang 11

Phân tích bài thơ “Nhàn” của  Nguyễn Bỉnh

Khiêm

• Chỉ với vài nét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hào phòng,

đầy đủ thức ăn Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường nét nhẹ

nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được Một cuộc sống dường như chỉ

có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau Đến hai câu thơ kết dường như

đúc kết được tinh thần, cốt cách cũng như suy nghĩ của Nguyễn Bình Khiêm:

‘’ Rượu đến cội cây ta sẽ uống’’

gian ở ẩn Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự phú quý không hề là giấc chiêm bao Ông từng đỗ Trạng nguyên thì tiền bạc, của cải đối với ông thực ra mà nói không hề thiếu

nhưng đó lại không phải là điều ông nghĩ đến và tham vọng Với ông phú quý chỉ “tựa chiêm bao”, như

một  giấc mơ , khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết mà thôi Có thể xem đây chính là cách nhìn nhận sâu sắc, đầy triết lý nhất Với một con người thanh tao và ưa sống an nhàn thì phú quý chỉ như hư vô mà thôi, ông yêu nước nhưng yêu theo một cách thầm lặng nhất Cách so sánh độc đáo đã mang đến cho hai câu kết một tứ thơ hoàn hảo nhất.

• Như vậy với 8 câu thơ, bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến người đọc ngưỡng mộ và khâm

phục cốt cách, tinh thần và phong thái của ông Là một người yêu nước, thích sự thanh bình và coi trọng cốt cách xứng đáng là tấm gương đáng học hỏi Bài thơ đường luật kết cấu chặt chẽ, tứ thơ đơn giản nhưng hàm ý sâu xa đã làm toát lên tâm hồn và cốt cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm Cho đến bây giờ, ông vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ.

Trang 12

PHÂN TÍCH VỊ DANH TƯỚNG THỜI TRẦN

QUA BÀI TỎ LÒNG

• Phạm Ngũ Lão là một danh tướng đời Trần Tuy xuất thân từ tầng lớp bình dân song chí lớn tài cao nên ông nhanh chóng trở thành tùy tướng số một bên cạnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược, Phạm Ngũ Lão cùng những tên tuổi lớn khác của triều đình đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng tạo nên hào khí Đông A của thời đại đó:

•       Ông sáng tác không nhiều nhưng Thuật hoài là một bài thơ nổi tiếng, được lưu truyền rộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiến đương thời: làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thực hiện đến cùng lí tưởng trung quân,

ái quốc

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầuBài thơ được sáng tác trong bối cảnh đặc biệt có một không hai

của lịch sử nước nhà Triều đại nhà Trần (1226 – 14001) là một triều đại lẫy lừng với bao nhiêu chiến công vinh quang, mấy lần quét sạch quân xâm lược Mông - Nguyên hung tàn ra khỏi bờ

cõi, giữ vững sơn hà xã tắc, nêu cao truyền thống bất khuất của dân tộc Việt

Trang 13

PHÂN TÍCH VỊ DANH TƯỚNG THỜI TRẦN

QUA BÀI TỎ LÒNG

• Phạm Ngũ Lão sinh ra và lớn lên trong thời đại ấy nên ông sớm thấm nhuần lòng yêu nước, tinh thần

tự hào, tự tôn dân tộc và nhất là lí tưởng sống của đạo Nho là trung quân, ái quốc Ông ý thức rất rõ ràng về trách nhiệm công dân trước vận mệnh của đất nước: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu

trách.

•       Bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) được làm bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt luật Đường, niêm luật chặt chẽ, ý tứ hàm súc, hình tượng kì vĩ, âm điệu hào hùng, sảng khoái Hai câu thơ đầu khắc họa vẻ đẹp gân guốc, lẫm liệt, tràn đầy sức sống của những trang nam nhi - chiến binh quả cảm đang xả thân vì nước, qua đó thể hiện hào khí Đông A ngút trời của quân đội nhà Trần thời ấy  

•       Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu (Dịch nghĩa: cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu); dịch thơ: Múa giáo non sông trải mấy thu So với nguyên văn chữ Hán thì câu thơ dịch chưa lột tả được hết chất oai phong, kiêu hùng trong tư thế của người lính đang chiến đấu bảo vệ Tổ quốc

Hoành sóc là cầm ngang ngọn giáo, luôn ở tư thế tấn công dũng mãnh, áp đảo quân thù Tư thế của những người chính nghĩa lồng lộng in hình trong không gian rộng lớn là giang sơn đất nước trong suốt, một thời gian dài (giang sơn kháp kỉ thu) Có thể nói đây là hình tượng chủ đạo, tượng trưng cho dân tộc Việt quật cường, không một kẻ thù nào khuất phục được Từ hình tượng ấy, ánh hào quang của chủ nghĩa yêu nước ngời tỏa sáng.

Trang 14

PHÂN TÍCH VỊ DANH TƯỚNG THỜI TRẦN

tượng thơ kì vĩ mang tầm vũ trụ.

•       Hai câu tứ tuyệt chỉ mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thời gian một bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính quả cảm trong đạo quân Sát Thát nổi tiếng đời Trần.

•       Là một thành viên của đạo quân anh hùng ấy, Phạm Ngũ Lão từ một chiến binh dày dạn đã trở

thành một danh tướng khi tuổi còn rất trẻ Trong con người ông luôn sôi sục khát vọng công danh của đấng nam nhi thời loạn Mặt tích cực của khát vọng công danh áy chính là ý muốn được chiến đấu,

cống hiến đời mình cho vua, cho nước Như bao kẻ sĩ cùng thời, Phạm Ngũ Lão tôn thờ lí tưởng trung quân, ái quốc và quan niệm: Làm trai đứng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông (Chí làm trai - Nguyễn Công Trứ) Bởi thế cho nên khi chưa trả hết nợ công danh thì tự lấy làm hổ thẹn:

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu’’

Ngày đăng: 27/05/2022, 14:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

•    Nguyên văn ‘‘Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”. Ba quân là hình ảnh chung chung cho quân đội, binh sĩ - Tuần 16. Ôn tập về Làm văn (Học kì I)
guy ên văn ‘‘Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”. Ba quân là hình ảnh chung chung cho quân đội, binh sĩ (Trang 18)
PHÂN TÍCH TỎ LÒNG CỦA PHẠM NGỦPHÂN TÍCH TỎ LÒNG CỦA PHẠM NGỦ  - Tuần 16. Ôn tập về Làm văn (Học kì I)
PHÂN TÍCH TỎ LÒNG CỦA PHẠM NGỦPHÂN TÍCH TỎ LÒNG CỦA PHẠM NGỦ (Trang 20)
•    Bài thơ tuy ngắn mà ý tứ cô đọng hàm súc, hình ảnh hoành tráng đậm màu sử thi, lí tưởng cao đẹp, có sức mạnh cổ vũ đối với các thế hệ thanh niên nước nhà - Tuần 16. Ôn tập về Làm văn (Học kì I)
i thơ tuy ngắn mà ý tứ cô đọng hàm súc, hình ảnh hoành tráng đậm màu sử thi, lí tưởng cao đẹp, có sức mạnh cổ vũ đối với các thế hệ thanh niên nước nhà (Trang 20)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w