Slide 1 2 2 Nội dung bản thể luận trong triết học Mác Lênin 2 3 Mối quan hệ khách quan chủ quan và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay 2 1 Khái niệm bản thể luận và nội dung bản thể luận CHƯƠNG II BẢN THỂ LUẬN PGS TS PHƯƠNG KỲ SƠN 1 2 1 Khái niệm bản thể luận và nội dung bản thể luận trong lịch sử triết học phương Đông, phương Tây a) Khái niệm bản thể luận Nguyên nghĩa của khái niệm bản thể luận (Ontology) là lý luận Ncứu về bản chất của tồn tại Bản thể luận theo nghĩa nghĩa r.
Trang 12.2 Nội dung bản thể luận trong triết học Mác-Lênin
2.3 Mối quan hệ khách quan - chủ quan và ý nghĩa
đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
2.1. Khái niệm bản thể luận và nội dung bản thể luận…
CHƯƠNG II BẢN THỂ LUẬN
PGS.TS PHƯƠNG KỲ SƠN
Trang 22.1 Khái niệm bản thể luận và nội dung bản thể luận trong lịch sử triết học phương Đông, phương Tây
a) Khái niệm bản thể luận.
- Nguyên nghĩa của khái niệm bản thể luận (Ontology) là
lý luận N/cứu về bản chất của tồn tại.
- Bản thể luận theo nghĩa nghĩa rộng là lý luận N/cứu
B/chất tối hậu của mọi tồn tại, bao gồm cả bản thể luận
và nhận thức luận trong sự đối lập tương đối của
chúng Còn theo nghĩa hẹp thì bản thể luận là lý luận N/cứu B/chất của vũ trụ, đối lập tương đối với vũ trụ
luận N/cứu về khởi nguyên và kết cấu của vũ trụ…
- Quan điểm nhất nguyên (duy vật, duy tâm) và quan điểm nhị nguyên trong việc giải quyết vấn đề bản thể luận…
- Vị trí của vấn đề bản thể luận trong triết học và ý nghĩa của nó…
GIẢNG
Trang 3b) Một số nội dung cơ bản của bản thể luận trong triết học phương Đông (Ấn độ và Trung Hoa cổ - trung đại) và giá
trị của nó.
(1) Bản thể luận trong triết học của Đạo Phật.
(2) Bản thể luận trong triết học của Âm – Dương gia.
(3) Bản thể luận trong triết học của Nho gia.
(4) Bản thể luận trong triết học của Đạo gia.
Trang 4(1) Bản thể luận trong triết học của Đạo Phật.
a Thế giới quan Phật giáo : thể hiện tập trung trong nội dung của 3 phạm trù: vô ngã, vô thường và duyên.
(1) Vô ngã (= không có cái tôi chân thật)
Trái với quan điểm của kinh Vedha, đạo Bàlamôn và đa số các môn phái triết học tôn giáo đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể tối cao, sáng tạo và chi phối vũ trụ, Phật giáo cho rằng thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần nào sáng tạo ra mà được cấu thành bởi sự kết hợp của 2 yếu
tố là “Sắc” và “Danh” Trong đó, Sắc là yếu tố vật chất, là cái có thể cảm nhận
được, nó bao gồm đất, nước, lửa và không khí; Danh là yếu tố tinh thần, không
có hình, chất mà chỉ có tên gọi Nó bao gồm: thụ (cảm thụ), tưởng (suy nghĩ),
hành (ý muốn để hành động) và thức (sự nhận thức).
•Danh và sắc kết hợp lại tạo thành 5 yếu tố gọi là “Ngũ uẩn”, bao gồm: sắc (vật
chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức), chúng tác động qua lại với nhau tạo nên vạn vật và con người Nhưng sự tồn tại của sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi Do đó, không có “Bản ngã” hay “cái tôi” chân thực.
XEM CHƯƠNG 1
Trang 5(1) Bản thể luận trong triết học của Đạo Phật.
(2) Vô thường (= Vận động biến đổi không ngừng)
• Đạo Phật cho rằng “Vô thường” là không cố định, luôn biến đổi Các sự
vật, hiện tượng trong vũ trụ không đứng yên mà luôn luôn biến đổi không ngừng, không nghỉ theo chu trình bất tận là “sinh – trụ – dị – diệt” Nghĩa
là sinh ra, tồn tại, biến dạng và mất đi.
• Do đó, không có gì trường tồn, bất định, chỉ có sự vận động biến đổi
không ngừng Với quan niệm này, Đức Phật dạy: “tất cả những gì trong thế gian đó là biến đổi, hư hoại, đều là vô thường” Vì vậy mọi sự vật không mãi ở yên trong một trạng thái nhất định, luôn luôn thay đổi hình dạng, đi
từ trạng thái hình thành đến biến dị rồi tan rã Sinh và diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong một sự vât, hiện tượng cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn Đức Phật cũng dạy rằng không phải là sự vật, hiện tượng sinh
ra mới gọi là sinh, mất (hay chết đi) mới gọi là diệt, mà trong sự sống có sự chết, chết không phải là hết, không phải là hết khổ, mà chết là điều kiện của một sinh thành mới…
XEM CHƯƠNG 1
Trang 6(1) Bản thể luận trong triết học của Đạo Phật.
(3) Duyên (hay duyên khởi) (điều kiện cho nguyên nhân trở thành kết
quả)
• Phật giáo cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên Trong đó duyên là điều kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Kết quả ấy lại nhờ có
duyên mà trở thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới Cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật, tuân theo quy luật “Nhân-Quả”, nhân là cái hạt, quả là cái trái, cái trái do
mầm ấy phát sinh Nhân và quả là hai trạng thái nối tiếp nhau, nương vào nhau mà có Nếu không có nhân thì không thể có quả, nếu không có quả thì thì cũng không thể có nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy
• Như vậy, thông qua các phạm trù Vô ngã, Vô thường và Duyên, triết học Phật giáo đã bác bỏ quan điểm duy tâm lúc bấy giờ cho rằng thần Brahman sáng tạo ra con người và thế giới Phật giáo cho rằng sự vật và con người
được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần Các sự vật hiện tượng thế giới nằm trong quá trình liên hệ, vận động, biến đồi không ngừng
Nguyên nhân của sự vận động, biến đồi nằm trong các sự vật Đó là quan
điểm biện chứng về thế giới tuy còn mộc mạc chất phác nhưng rất đáng trân trọng
XEM CHƯƠNG 1
Trang 7(1) Bản thể luận trong triết học của Đạo Phật.
b Nhân sinh quan của Phật giáo được thể hiện tập trung trong
thuyết “Tứ Diệu Đế” (Catvary Arya Satya) tức là 4 chân lý tuyệt diệu,
thiêng liêng Tứ diệu đế bao gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
(1) Khổ đế :
- Chân lí về sự khổ, cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn, cuộc đời con người là một bể khổ Phật xác nhận đặc tướng của cuộc đời là vô thường, vô ngã và vì vậy mà con người phải chịu khổ Có 8 nỗi khổ phổ biến (Bát khổ) là : sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt khổ (yêu thương nhau phải xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn mà không đạt được) và thủ ngũ uẩn (do 5 yếu tố tạo nên con người).
- Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối
Do đó, con người ở đâu, làm gì cũng khổ Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nào khác Ngay cả cái chết cũng không chấm dứt sự khổ mà
là tiếp tục sự khổ mới Phật đã ví: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn biển cả”.
XEM CHƯƠNG 1
Trang 8(1) Bản thể luận trong triết học của Đạo Phật.
(2) Nhân đế (hay Tập đế):
- Là triết lý về sự phát sinh, nguyên nhân gây ra sự khổ “Tập” là tụ hợp, kết tập lại Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt… Các loại ham muốn này là gốc của luân hồi Đạo Phật cho rằng nguyên nhân sâu xa của sự khổ,
phiền não là do “thập nhị nhân duyên”, tức 12 nhân duyên tạo ra chu trình
khép kín trong mỗi con người
12 nhân duyên gồm: 1 Vô minh (không sáng suốt); 2 Duyên hành; 3 Duyên
thức; 4 Duyên danh sắc; 5 Duyên lục nhập; 6 Duyên xúc; 7 Duyên thụ; 8 Duyên ái; 9 Duyên thủ; 10 Duyên hữu; 11 Duyên sinh; 12 Duyên lão, tử
Tuy nhiên: Nguyên nhân sâu xa và căn bản nhất chính là vô minh, tức là si
mê, không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng
Về sau, tập đế còn được gói gọn thành “Tam độc”: Tham, sân, si Đức Phật dạy rằng vô minh là điều ô trược tệ hại nhất Hãy dứt bỏ vô minh để trở
thành người trong sạch
XEM CHƯƠNG 1
Trang 9(1) Bản thể luận trong triết học của Đạo Phật.
(3) Diệt đế: Là chân lý về “diệt” khổ Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được để đạt tới trạng thái “niết bàn” Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt Muốn diệt khổ phải đi ngược lại 12 nhân duyên, bắt đầu
từ diệt trừ vô minh Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất tồn tại, thực tướng của vũ trụ thì con người không còn tham dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử Nói cách khác diệt trừ
được vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ uẩn dừng lại, tu đến niết bàn, tịch diệt khi
ấy mới hết luân hồi sinh tử.
•Phật Giáo cho rằng, một khi người ta đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ, thì
những nỗi lo âu, sợi hãi, bất an giảm dần, thâm tâm của bạn trở nên thanh thản, đầu óc tỉnh táo hơn; lúc đó nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản hơn, rộng lượng hơn Đó là một hình thức hạnh phúc Tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham, vô minh đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ tăng phần hạnh phúc đến mức độ ấy.
• “Diệt” khổ => đạt tới trạng thái Niết bàn (Nirvana ): Vậy “Niết Bàn” là gì? Đức Phật nói
rằng, nó vượt qua ngôn ngữ, logic, nó là một khái niệm thật sự khó khăn để định nghĩa Nhưng “Niết Bàn” chắc chắn là một trạng thái của tâm, mà nó bỏ hoàn toàn những cảm xúc âm tính của nhiều sự khao khát (tham), hay sự ghét bỏ (sân), cũng như trạng thái
mê mờ (si) Đó là một trạng thái tâm mà bạn đạt được ở giây phút đó mãi về sau, bạn
sẽ cảm nhận được một sự tĩnh lạc vô biên và con đường đó, Niết bàn là điểm cuối cùng.
•Tuy nhiên về sau cũng có nhiều QĐ khác nhau về Niết bàn…
XEM CHƯƠNG 1
Trang 10(1) Bản thể luận trong triết học của Đạo Phật.
(4) Đạo đế: Con đường giải thoát, diệt khổ thực chất là tiêu diệt vô minh (giác ngộ => giải thoát => Niết bàn), gồm 8 con đường, 8
nguyên tắc đúng đắn (Bát chính đạo) Đó là:
1 Chính kiến: hiểu biết đúng.
2 Chính tư duy: suy nghĩ đúng.
3 Chính ngữ: giữ lời nói chân chính.
4 Chính nghiệp: Nghiệp có hai loại là tà nghiệp và chính nghiệp Tà nghiệp phải sửa, chính nghiệp phải giữ Nghiệp có thân nghiệp (do hành động gây ra), khẩu nghiệp, ý nghiệp.
5 Chính mệnh: tiết chế dục vọng, giữ điều răn.
6 Chính tinh tiến: hăng hái truyền bá chân lý của Phật.
7 Chính niệm: hằng nhớ Phật, niệm Phật.
8 Chính định: tĩnh tâm, tập trung tư tưởng suy nghĩ về Tứ diệu đế,
vô ngã, vô thường…
XEM CHƯƠNG 1
Trang 11(1) Bản thể luận trong triết học của Đạo Phật.
• Thực hiện Bát chính đạo, con người có thể diệt trừ vô minh => giác ngộ => giải thoát => nhập vào cõi “niết bàn” - Nirvana Niết Bàn
là trạng thái yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử, luân hồi Như vậy Phật giáo có tư tưởng biện chứng, nhưng mang tính duy tâm chủ quan
• Chú ý: Bát chính đạo còn gọi là Tam học: Tuệ (chính kiến, chính tư duy, chính ngữ), Giới (chính nghiệp, chính mệnh), Định (chính tinh tiến, chính niệm, chính định)
• Như vậy, Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần, có yếu tố
duy vật và tư tưởng biện chứng về thế giới Phật giáo khuyên con người suy nghĩ thiện và làm việc thiện nhằm góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân Tuy nhiên trong triết lý nhân sinh và con đường giải phóng của phật giáo vẫn mang nặng tính chất bi quan, không tưởng và duy tâm về xã hội
XEM CHƯƠNG 1
Trang 12Ảnh hưởng của Phật giáo đối với Việt Nam
• Phật giáo Việt Nam là Phật giáo đã được bản địa hóa khi du nhập từ
Ấn Độ và Trung Quốc vào Việt Nam, là một trong ba thành phần của
“Tam giáo đồng nguyên”, Nho - Phật - Lão
• Phật giáo được du nhập vào Việt Nam khoảng đầu công nguyên theo
con đường Hồ Tiêu (đường thủy) và con đường Đồng Cỏ (đường
bộ)
• Với những giá trị tốt đẹp của Phật giáo, nhân dân ta nhanh chóng
tiếp nhận và hình thành nên Phật giáo Việt Nam.
• Sự hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam trải qua các thời
kỳ gắn liền với các triều đại phong kiến Thời kỳ du nhập và hình
thành (thế kỷ II – V), tiếp theo là thời kỳ phát triển (thế kỷ VI – IX) Phật giáo Việt Nam cực thịnh và trở thành quốc giáo vào triều đại Lý – Trần (thế kỷ X – XIII) sau đó suy thoái vào thời nhà Hậu Lê đến thế
kỷ XIX Từ thế kỷ XX đến nay là thời kỳ phục hưng của PG Việt Nam.
XEM CHƯƠNG 1
Trang 13Ảnh hưởng của Phật giáo đối với Việt Nam
• Phật giáo Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển mạnh mẽ
trong sự phát triển đi lên của cả dân tộc
• Hiện nay phần lớn các nhà sư, các chủ trì điều có học thức cao từ trình độ đại học đến bậc tiến sĩ … Các vị sư này không những thấu hiểu Phật giáo Việt Nam mà còn được du học nền văn hóa Phật giáo ở các nước lân cận.
• Được sự quan tâm của Đảng và sự hỗ trợ tích cực từ phía nhân dân về cơ sở vật chất và kinh phí đầu tư, hiện nay nước ta đã có rất nhiều cơ sở Phật giáo ngày càng to lớn và còn có cả các trường Đại Học cho các bậc tu sĩ…
• Từ đó cho thấy Phật giáo Việt Nam đang thực sự lớn mạnh về mọi mặt và trở mình “đổi mới” để xứng đáng với lòng tin của Đảng và nhân dân…
XEM CHƯƠNG 1
Trang 14(2) Bản thể luận trong triết học của Âm – Dương gia.
Ở Trung Hoa, những quan niệm triết lý về "âm - dương", "ngũ hành" đã được lưu truyền từ rất sớm Tới thời Xuân thu - Chiến quốc được nhiều trường phái triết học thời này tiếp thu, chỉnh lý và vận dụng vào học thuyết của mình, như trong thuyết biến dịch của Nho gia, trong tư tưởng biện chứng của Đạo gia…
Tư tưởng triết học về Âm- Dương
Triết học Âm - Dương có thiên hướng suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên
và phổ biến của vạn vật; đó là sự tương tác của hai thế lực đối lập nhau là Âm
và Dương.
+ Âm - Dương thống nhất trong Thái cực (Thái cực được coi là nguyên lý của
sự thống nhất của hai mặt đối lập là âm và dương) Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể, cân bằng của cái đa (nhiều) và cái duy nhất Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi.
+ Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm - Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực.
+ Sự khái quát đồ hình Thái cực Âm - Dương còn bao hàm nguyên lý: Dương tiến đến đâu thì Âm lùi đến đó và ngược lại; đồng thời "Âm thịnh thì Dương khởi", "Dương cực thì Âm sinh".
XEM CHƯƠNG 1
Trang 15(2) Bản thể luận trong triết học của Âm – Dương gia.
Tư tưởng triết học về Âm- Dương
- Để giải thích sự biến dịch từ cái duy nhất thành cái nhiều, đa dạng, phong phú của vạn vật, phái Âm - Dương đã đưa ra lôgíc tất định: Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm - Dương); Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái Dương - Thiếu Âm - Thiếu Dương - Thái Âm) và Tứ tượng sinh Bát quái ( Càn - Khảm - Cấn - Chấn - Tốn - Ly - Khôn - Đoài); Bát quái sinh vạn vật (vô cùng vô tận).
- Tư tưởng triết học về Âm - Dương đạt tới mức là một hệ thống hoàn chỉnh trong tác phẩm Kinh Dịch của Khổng tử, trong đó gồm 64 quẻ kép Mỗi quẻ kép là một động thái, một thời của vạn vật và nhân sinh, xã hội như: Kiền, Khôn, Bĩ, Thái, Truân ; Sự chú giải Kinh Dịch
là của nhiều bậc trí thức ở nhiều thời đại khác nhau với những xu hướng khác nhau Điều đó tạo ra một "tập đại thành" của sự chú giải, bao hàm những tư tưởng triết học hết sức phong phú và sâu sắc của Kinh dịch.
XEM CHƯƠNG 1
Trang 16- Người sáng lập Nho gia là Khổng tử 551-479 TCN, người nước Lỗ
(Nay là huyện Khúc Phụ - T Sơn Đông - TQ)
- Kinh điển Nho gia bao gồm lục kinh và tứ thư:
- Lục kinh, bao gồm: Kinh Thi; Kinh Thư; Kinh Dịch; Kinh Lễ; Kinh Nhạc (là bộ sách thứ năm, đã bị thiệt hại nhiều nhất do việc nhà Tần đốt
sách, cho nên về sau chỉ còn Ngũ kinh); Kinh Xuân Thu (Đây là một bộ sách hàm chứa các triết lý về chính trị và đạo đức của nước Trung Hoa thời cổ).
- Tứ thư, gồm có: Sách Trung Dung do Tử Tư (học trò của Tăng Tử,
cháu nội của Khổng Tử soạn); Đại học (được Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử chế hóa từ một thiên của Kinh Lễ mà thành); Luận Ngữ (là
sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và những lời giảng giải của học trò Khổng tử, dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính tình, đức độ của Khổng Tử, để làm mẫu mực cho người
đời sau noi theo); Sách Mạnh Tử (là bộ sách làm ra bởi Mạnh Tử và các
môn đệ của ông, ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử
về các học thuyết khác như: học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu…)
(3) Bản thể luận trong triết học của Nho gia.
XEM CHƯƠNG 1
Trang 17a Tư tưởng của Nho gia về thế giới
QN về “Trời”, “Đạo trời”, “Mệnh trời”: Các KN này không được
Khổng tử giải thích một các rõ ràng và có hệ thống…, Ông chỉ sử dụng các KN này để làm chỗ dựa mạnh mẽ cho các quan điểm trong học
thuyết của mình… Về sau các KN niệm này được các danh nho hậu thế giải thích, bổ sung thêm, theo hướng DT…
- Gộp trời, đất, muôn vật vào một thể thống nhất, bao quát bằng từ
“Dịch”…
- QĐ về “Thiên mệnh”, là quy luật vận hành, biến hóa không ngừng, sâu kín, mầu nhiệm của vũ trụ, mà con người không cưỡng nổi Đó là ý chí của “Trời”, làm chúa tể của vũ trụ… Vì vậy, việc hiểu biết “Mệnh trời” là Đ/K để trở thành người quân tử… “Ngũ thập tri thiên mệnh”
- Khổng tử cũng tin là có quỷ thần, nhưng lại cho rằng quỷ thần không
có tác dụng chi phối số phận con người, nên Ông phê phán sự mê tín, dị đoan QĐ “Kính nhi, viễn tri”…
Trang 18b Tư tưởng của Nho gia về đạo đức
Q.Niệm về đạo đức (Cốt lõi của tư tưởng Nho Gia) Theo Nho gia:
- “Đạo” là Q/luật vận hành của trời đất, vạn vật…, “Đạo” của con người
và XH là con đường đúng đắn phải noi theo để xây dựng quan hệ lành
mạnh, tốt đẹp… và nếu làm được như vậy thì con người sẽ đạt được
“Đức sáng”, tức là những phẩm chất tốt đẹp, có ích cho con người và XH
“Lập đạo của trời…” Nội dung cơ bản của Đạo đức Nho gia bao gồm “Ngũ luân” và “Ngũ thường”
- Ngũ luân là 5 QH đạo đức cơ bản: Vua – tôi; Cha – con; Chồng – vợ; Anh – em (Trưởng - ấu); Bạn bè (Bằng hữu) Trong đó lại nêu bật “Tam
cương”…
- Ngũ thường: tương ứng “Ngũ luân” thì có các “đức”: Vua nhân – tôi
trung; Cha từ - con hiếu; Chồng có nghĩa – vợ vâng lời (Phu xướng – phụ tùy); Trưởng có ân - ấu ngoan ngoãn (anh lành – em đễ); Bằng hữu (bạn bè) phải giữ chữ tín Trong các đức ấy thì có 5 đức hàng đầu, đó là “Ngũ thường”, gồm: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín
XEM CHƯƠNG 1
Trang 19b Tư tưởng của Nho gia về đạo đức + Nhân: Là “Nhân ái”,… có nghĩa là yêu người Nhân có nghĩa là trung và thứ
Về chữ trung, Ông nói: “Người nhân là người mình muốn lập thân thì cũng
giúp người lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt”
(Phù nhân giả, kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân) Về chữ thứ, Ông nói: “Điều gì mình không muốn, chớ thi hành cho người khác” (Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân) Khổng Tử khuyên rằng nên làm cho người những cái mà mình muốn và đừng làm cho người những cái mình không muốn.
Đối với bản thân mình, người có đức nhân là phải thực hiện đúng lễ: “Dẹp bỏ
tư dục, trở về với lễ là phát huy điều nhân” (Khắc kỉ phục lễ vi nhân) Lễ là hình thức thể hiện nhân và cũng là một chuẩn mực của Ngũ thường.
Nhân còn gắn liền với Nghĩa (nghĩa vụ, thấy việc đúng cần phải làm để giúp
người) Khổng Tử cho rằng người quân tử cần chú ý đến nghĩa và coi thường lợi Muốn thực hiện nhân, nghĩa thì cần có lòng dũng cảm (dũng) và có Trí (trí tuệ) Có trí mới biết cách giúp người mà không làm hại đến người, đến mình, mới biết yêu và ghét người, mới biết đề bạt người chính trực và gạt bỏ người không ngay thẳng…
+ Như vậy, đối với Khổng Tử, “nhân” chính là đạo lý làm người, vừa thương người (nhân ái), vừa phải giúp người (cứu nhân)…
XEM CHƯƠNG 1
Trang 20b Tư tưởng của Nho gia về đạo đức + Lễ, theo Nho gia, là quy định về mặt đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa
người với người Con cái phải có hiếu với cha mẹ, bề tôi phải trung với vua, chồng vợ có nghĩa với nhau, anh em phải trên kính dưới nhường, bạn bè phải giữ được lòng tin Những quy tắc này là bất di bất dịch mà ai cũng phải tuân theo Khổng Tử yêu cầu, từ vua cho đến dân phải rèn luyện và thực hiện theo lễ
+ Trí: Muốn thực hiện nhân, nghĩa thì cần có dũng và có Trí (trí tuệ) Có trí mới biết cách giúp người mà không làm hại đến người, đến mình, mới biết yêu và ghét người, mới biết đề bạt người chính trực và gạt bỏ người không ngay
lý của bậc thánh hiền và các mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ Theo quan niệm của Nho giáo thì đức tín là nền tảng của trật tự xã hội
XEM CHƯƠNG 1
Trang 21c Tư tưởng của Nho gia về chính trị
QĐ Đức trị, hay “Lễ trị" (đối lập với pháp trị, vô vi nhi trị…) Lễ theo nghĩa rộng là nghi thức, quy chế, trật tự, tôn ti… của XH Lễ làm cho XH trở nên có tổ chức, ổn định, trên dưới rõ ràng, trật tự…
Lễ là hình thức biểu hiện của “Nhân”, là cơ sở để thực hiện tam
cương, ngũ thường
=> Đức trị = vương đạo…(pháp trị là bá đạo…), vì dùng “Đức trị” thì sẽ thu phục được lòng người, nhờ đó mà có cả thiên hạ, thống nhất thiên hạ…
Thuyết chính danh: Để làm cho XH trật tự, phải thực hiện “Chính danh định phận” Vua ra vua, tôi ra tôi… Danh chính thì ngôn
thuận và mọi việc mới thực hiện thuận lợi…, danh không chính thì ngôn không thuận, tất việc không thành Nếu mọi người đều biết
“Chính danh định phận” theo tam cương, ngũ thường thì XH thái bình, thịnh trị, trật tự trên dưới rõ ràng… Đây là một QĐ tiến bộ…, nhưng cũng tạo cơ sở cho tính bảo thủ của Nho giáo sau này…
XEM CHƯƠNG 1
Trang 22d Tư tưởng của Nho gia về giáo dục
QĐ về GD (việc học): GD là giáo hóa, chủ yếu hướng vào GD,
tu dưỡng, rèn luyện ĐĐ con người => “Đức là gốc”
“Ngọc bất trác, bất thành khí; Nhân bất học, bất tri lý”
- Mục đích của GD: XD hoàn thiện con người có ĐĐ… Về sau, trong sách “Đại học”: Tu thân, tề gia, …
- PP GD: “Học” gắn với “tu”, với “tập”, với “hành”…
- Tư tưởng về GD của Khổng tử là một trong những bộ phận giàu sức sống và nhiều giá trị nhất của Nho gia => Khổng tử
được đời sau tôn là “Vạn thế sư biểu” – người thầy kiểu mẫu
muôn đời
XEM CHƯƠNG 1
Trang 23e Sự phát triển của Nho gia thời hậu kỳ
(1) Nho gia sau Khổng Tử:
- Sự phát triển của Mạnh tử (theo hướng duy tâm)…
- Sự phát triển của Tuân Tử (theo hương duy vật)…
(2) Nho giáo thời phong kiến ở trung Hoa:
Trong các trường phái TH thời cổ đại, Nho gia có nội dung phong phú
và mang tính hệ thống hơn cả; hơn thế nữa, nó còn phù hợp với XH phong kiến TQ, nên đã được bổ sung và hoàn thiện để trở thành hệ
tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến, thống trị Trung Quốc trong suốt hơn một ngàn năm, và được gọi là “Nho giáo”
- Nho Giáo Thời Hán => Hán Nho (Hán Vũ Đế và Đổng Trọng Thư):
Nho gia được P/triển thành Nho giáo…
- Nho giáo thời Tống => Tống Nho (Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình
Hạo, Trình Di, Chu Hy…)
- Nho Giáo thời Minh – Thanh…
XEM CHƯƠNG 1
Trang 24e Sự phát triển của Nho gia hậu kỳ
(2) Nho giáo thời phong kiến ở trung Hoa:
Quá trình bổ sung và hoàn thiện Nho giáo thời trung đại được tiến hành theo hai xu hướng cơ bản:
- Một là, hệ thống hóa kinh điển và chuẩn mực hóa các quan điểm triết học của Nho gia theo mục đích ứng dụng vào đời sống xã hội, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị phong kiến; vì thế Đổng Trọng Thư đã làm nghèo nàn đi nhiều giá trị
nhân bản và biện chứng của Nho gia cổ đại Tính duy tâm thần bí của Nho gia
trong các quan điểm về xã hội cũng được đề cao Tính khắc nghiệt một chiều
(cứng nhắc, siêu hình) trong các quan hệ Tam cương, Ngũ thường thường được nhấn mạnh.
- Hai là, hoàn thiện các quan điểm triết học về xã hội của Nho gia trên cơ sở bổ sung bằng các quan điểm triết học của thuyết Âm Dương - Ngũ hành, những
quan niệm về bản thể của Đạo gia, tư tưởng về pháp trị của Pháp gia v.v… Vì vậy,
có thể nói: Nho gia thời trung đại là tập đại thành của tư tưởng Trung Hoa Nho gia còn có sự kết hợp với cả tư tưởng triết học ngoại lai là Phật giáo Sự kết hợp các tư tưởng triết học của Nho gia với những tư tưởng triết học ngoài Nho gia đã
có ngay từ thời Hán và ít nhiều có cội nguồn từ Mạnh Tử Tuy nhiên, sự kết hợp đạt tới mức nhuần nhuyễn và sâu sắc chỉ có dưới thời nhà Tống (960 - 1279).
XEM CHƯƠNG 1
Trang 25e Sự phát triển của Nho gia thời hậu kỳ
(3) Nho gia thời hiện đại:
Nho gia thời hiện đại ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Singapo…
Tiếp thu và cải tạo các giá trị của Nho gia và Nho giáo cho phù hợp với XH thời hiện đại (TK XX – XXI) => Tân Nho gia, Tân Khổng giáo, Tân Nho giáo… đã trở thành một trong
những nhân tố cơ bản làm nên những thần kỳ kinh tế của
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Singapo…
=> Giá trị nhân văn sâu sắc của của Nho gia là một trong những giá trị tiêu biểu của Triết học và VH Phương Đông, đang được tiếp thu và phát triển thành một nhân tố cơ bản và phổ quát toàn cầu của nền VM mới trong TK XXI…
XEM CHƯƠNG 1
Trang 26(4) Bản thể luận trong triết học của Đạo gia.
a Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr CN)
Học thuyết của ông được Dương Chu và Trang Tử thời Chiến quốc hoàn thiện và phát triển theo hai hướng…
- Kinh điển của Đạo gia được biểu hiện chủ yếu qua hai tác phẩm:
“Đạo đức kinh” của Lão Tử và “Nam hoa kinh” của Trang Tử
b Về bản thể luận, nội dung cốt lõi trong bản thể luận của Đạo gia
là tư tưởng về Đạo, bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- "Đạo" là bản nguyên của vạn vật Tất cả từ “Đạo” mà sinh ra và
trở về với cội nguồn là “Đạo”.
- "Đạo" là cái vô hình, hiện hữu là cái "có"; song Đạo và hiện hữu không thể tách rời nhau Trái lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểu hiện của Đạo Bởi vậy, có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại, là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu Nguyên lý
ấy là "đạo pháp tự nhiên".
XEM CHƯƠNG 1
Trang 27(4) Bản thể luận trong triết học của Đạo gia.
c Quan niệm về tính biện chứng của thế giới không tách rời những quan niệm về "Đạo", bao hàm những tư tưởng chủ yếu sau:
+ Mọi hiện hữu đều biến dịch theo nguyên tắc "bình quân" và
"phản phục" (cân bằng và quay trở lại cái ban đầu).
- Các mặt đối lập trong thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này đã có cái kia
- Do nhấn mạnh nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" trong biến dịch, nên Đạo gia không nhấn mạnh tư tưởng đấu tranh với tư cách
là phương thức giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện sự phát triển; trái lại, đã đề cao tư tưởng điều hòa mâu thuẫn, coi đó là trạng thái
lý tưởng Bởi vậy triết học Đạo gia không bao hàm tư tưởng về sự phát triển.
XEM CHƯƠNG 1
Trang 28(4) Bản thể luận trong triết học của Đạo gia.
d Học thuyết chính trị - xã hội với cốt lõi là quan điểm "Vô vi" Vô
vi không phải là cái thụ động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của "Đạo“…
Đạo gia cho rằng xã hội loạn lạc là do chính con người đã can
thiệp vào, từ đó sinh ra mâu thuẫn, loạn lạc Để tề gia, trị quốc bình thiên hạ có hiệu quả thì phải thực hiện tinh thần “vô vi” - không
can thiệp vào xã hội, để cho nó phát triển tự nhiên “Vô vi” là
khuynh hướng trở về nguồn gốc, để sống với tự nhiên, để hợp với
“Đức”.
e Về nhận thức luận, các đại biểu của Đạo gia không nhất quán
Lão Tử – người sáng lập Đạo gia coi nhẹ nghiên cứu sự vật cụ
thể, đề cao tư duy trừu tượng Trang Tử lại có quan điểm theo xu hướng không thể biết
XEM CHƯƠNG 1