1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản thể luận triết học Phật giáo với đời sống

29 34 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 593,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi mới triết học mới ra đời, với vai trò là tri thức của nhân loại có nhận thức sâu sắc về thế giới từ những chân lý và bản chất của chính các sự vật hiện tượng. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nhằm đi đến hoàn thiện, có nhiều các quan điểm khác nhau, tuy nhiên những quan điểm đó đểu có điểm chung và điểm riêng khác biệt. Trong đó, triết học Phật giáo có điểm khác biệt so với các trường phái triết học khác là nhằm vào giải quyết các vấn đề thực tiễn chính trị mà là hướng vào mục tiêu lấy con người và cuộc sống của con người làm trung tâm.Trong nội dung trong tâm của Triết học, bản thể luận luôn được coi là một nội dung trọng tâm của Triết học luôn được mọi người quan tâm đến. Tuy nhiên theo các trường phái hay các học thuyết khác nhau, bản thể luận cũng có sự khác biệt tương đối. Nhưng tựu chung lại tất cả đều nhằm lý giải sự tồn tại của các sự vật hiện tượng trên thế giới đều có nguồn gốc và nguyên nhân của nó.Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới với những tư tưởng triết học xoay quanh con người và cuộc sống của con người trên thế giới. Được hình thành vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên và do Thái tử Tất Đạt Đa thuộc dòng họ Cồ Đàm sáng lập, hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong đó, tông chỉ của Phật giáo xoay quanh vấn đề dùng tâm từ bi và trí tuệ để đi đến điểm đích giải thoát và giác ngộ, đạt được sự Chân – Thiện – Mỹ Tuệ. Phật giáo với những mục đích hướng con người thường làm các việc lành bỏ làm các việc ác, từ đó giúp cho con người từ bỏ được sự mê lầm, sai trái hưởng được sự tỉnh giác an vui, đưa nhân loại từ khổ đau đến hạnh phúc trọn vẹn nhất. Với những tông chỉ đó, Phật giáo là một mang tính triết học, nhằm đi đến giải thích căn nguyên, nguồn gốc của sự hình thành của thế giới và những hoạt động của cuộc sống của các sinh vật ở trên trái đất này. Phật giáo trải qua hơn 2500 năm, tư tưởng triết học cũng như lác lý luận cũng phát triển theo đó. Cùng với đó khi nghiên cứu về bản thể luận của triết học Phật giáo sẽ khai thác những giá trị tích cực giúp cho nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về sự vận hành của thế giới cũng như nhân loại, áp dụng những tri thức đó vào cuộc sống. Hơn nữa, “từ lâu, bằng trực giác thiên tài, có những nhà tư tưởng, những trường phái, học thuyết đã đưa ra quan niệm về thế giới với những điểm trùng hợp kì lạ với khoa học hiện đại.Một trong những trường phái đó là Phật giáo” (Cao Xuân Sáng , 2009). Cùng với đó, đồng hành cùng Việt Nam trong suốt hơn 2000 năm lịch sử, Phật Giáo đóng góp vai trò rất lớn và đã đi sâu vào nếp sống, tư tưởng và đời sống tinh thần của đại bộ phận người Việt. Hơn nữa, “Phật giáo đã trở thành một trong những hệ tư tưởng tôn giáo có sức sống lâu dài, tồn tại cho đến ngày nay, đã ảnh hưởng sâu sắc đối với đời sống tinh thần con người Việt Nam nói chung và người dân đồng bằng sông Hồng nói riêngtrong lịch sử” (Cao Xuân Sáng , 2009

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-BÀI TIỂU LUẬN

BỘ MÔN TRIẾT HỌC NÂNG CAO

Đề tài: Phân tích nội dung bản thể luận của triết học Phật giáo, vận dụng đối với đời sống tinh thần của người dân đồng bằng

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 2

2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢN THỂ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG TINH THẦN 3

1.1 Cơ sở lý luận chung của bản thể luận triết học và bản thể luận triết học Phật giáo 3

1.1.1 Lý thuyết về bàn thể luận trong triết học phương Tây 3

1.1.2 Lý thuyết bản thể luận trong triết học phương Đông 3

1.1.3 Lý thuyết về bàn thể luận trong triết học Phật giáo 4

1.2 Cơ sở lý thuyết về phát triển đời sống tinh thần 6

1.2.1 Lý thuyết về phát triển 6

1.2.2 Lý thuyết về đời sống tinh thần 6

1.2.3 Lý thuyết về phát triển đời sống tinh thần 7

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU NỘI DUNG BẢN THỂ LUẬN TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 8

2.1 Thực trạng nghiên cứu nội dung bản thể luận của triết học Phật giáo 8

2.1.1 Thuyết Nhân – Duyên và Quả trong triết học Phật giáo 8

2.1.2 Tư tưởng triết học Phật giáo về “Vô ngã”, “ Vô thường” 8

2.1.3 Nguồn gốc đưa ra khái niệm “bản thể” của triết học Phật giáo 9 2.1.4 Phương pháp nhận biết “bản thể” của triết học Phật giáo 10 2.2 Đời sống tin thần của người dân đồng bằng sông Hồng hiện nay 11 2.3 Bản thể luận của triết học Phật giáo với hoạt động phát triển đời sống tinh thần của người dân đồng bằng sông Hồng

12

Trang 3

2.3.1 Bản thể luận của triết học Phật giáo với đời sống đạo đức

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ÁP DỤNG NỘI DUNG BẢN THỂ LUẬN PHẬT GIÁO VÀO PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 15 3.1 Phương hướng của cá nhân đối với việc nâng cao đời sống của người dân đồng bằng sông Hồng 15 3.2 Đề xuất các giải pháp đối với việc nâng cao đời sống của người dân đồng bằng sông Hồng 15

3.2.1 Tăng cường quản lý Nhà nước đối với các công tác Phật

3.2.2 Nâng cao nhận thức về vai trò của bản thể luận Phật giáo với đời sống tinh thần của người dân 16 3.2.3 Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các Phật tử ở khu vực đồng bằng sông Hồng 17

KẾT LUẬN 18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi mới triết học mới ra đời, với vai trò là tri thức của nhân loại cónhận thức sâu sắc về thế giới từ những chân lý và bản chất của chínhcác sự vật hiện tượng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nhằm điđến hoàn thiện, có nhiều các quan điểm khác nhau, tuy nhiên nhữngquan điểm đó đểu có điểm chung và điểm riêng khác biệt Trong đó,triết học Phật giáo có điểm khác biệt so với các trường phái triết họckhác là nhằm vào giải quyết các vấn đề thực tiễn chính trị mà là hướngvào mục tiêu lấy con người và cuộc sống của con người làm trung tâm.Trong nội dung trong tâm của Triết học, bản thể luận luôn được coi

là một nội dung trọng tâm của Triết học luôn được mọi người quan tâmđến Tuy nhiên theo các trường phái hay các học thuyết khác nhau, bảnthể luận cũng có sự khác biệt tương đối Nhưng tựu chung lại tất cả đềunhằm lý giải sự tồn tại của các sự vật hiện tượng trên thế giới đều cónguồn gốc và nguyên nhân của nó

Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới với những tư tưởng triếthọc xoay quanh con người và cuộc sống của con người trên thế giới.Được hình thành vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên và do Thái tử TấtĐạt Đa thuộc dòng họ Cồ Đàm sáng lập, hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật.Trong đó, tông chỉ của Phật giáo xoay quanh vấn đề dùng tâm từ bi vàtrí tuệ để đi đến điểm đích giải thoát và giác ngộ, đạt được sự Chân –Thiện – Mỹ - Tuệ Phật giáo với những mục đích hướng con ngườithường làm các việc lành bỏ làm các việc ác, từ đó giúp cho con người

từ bỏ được sự mê lầm, sai trái hưởng được sự tỉnh giác an vui, đưanhân loại từ khổ đau đến hạnh phúc trọn vẹn nhất Với những tông chỉ

đó, Phật giáo là một mang tính triết học, nhằm đi đến giải thích cănnguyên, nguồn gốc của sự hình thành của thế giới và những hoạt độngcủa cuộc sống của các sinh vật ở trên trái đất này

Phật giáo trải qua hơn 2500 năm, tư tưởng triết học cũng như lác

lý luận cũng phát triển theo đó Cùng với đó khi nghiên cứu về bản thểluận của triết học Phật giáo sẽ khai thác những giá trị tích cực giúp chonhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về sự vận hành của thế giới cũng như nhânloại, áp dụng những tri thức đó vào cuộc sống Hơn nữa, “từ lâu, bằngtrực giác thiên tài, có những nhà tư tưởng, những trường phái, họcthuyết đã đưa ra quan niệm về thế giới với những điểm trùng hợp kì lạ

Trang 5

với khoa học hiện đại.Một trong những trường phái đó là Phật giáo” (Cao Xuân Sáng , 2009).Cùng với đó, đồng hành cùng Việt Nam trong suốt hơn 2000 năm lịch

sử, Phật Giáo đóng góp vai trò rất lớn và đã đi sâu vào nếp sống, tưtưởng và đời sống tinh thần của đại bộ phận người Việt Hơn nữa, “Phậtgiáo đã trở thành một trong những hệ tư tưởng - tôn giáo có sức sốnglâu dài, tồn tại cho đến ngày nay, đã ảnh hưởng sâu sắc đối với đờisống tinh thần con người Việt Nam nói chung và người dân đồng bằng

trong lịch sử” (Cao Xuân Sáng , 2009)

Chính vì những nguyên nhân đó, nghiên cứu và phân tích về bảnthể luận của triết học Phật giáo Cùng với đó, nhằm mục đích góp phầnphân tích rõ những ảnh hưởng của triết học Phật giáo đối với cuộc sốngqua những lý luận về bản thể luận của triết học Phật giáo từ những

quan điểm về thế giới và con người, tác giả chọn đề tài “Phân tích nội dung bản thể luận của triết học Phật giáo, vận dụng đối với đời sống tinh thần của người dân đồng bằng sông Hồng” làm đề tài

nghiên cứu tổng kết môn

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Qua bài nghiên cứu về vấn đề bản thể luận của triết học Phật giáovới các hoạt động kinh tế Việt Nam dựa trên các lý thuyết chung về bảnthể luận triết học Phật giáo, đời sống tinh thần của người dân Việt Namđặc biệt người dân ở khu vực đồng bằng sông Hồng, qua thực trạngphân tích đưa ra giải pháp và các định hướng nhằm phát huy mặt tíchcực và hạn chế mặt tiêu cực qua quan điểm các nhân của tác giả

2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

 Qua hệ thống các lý thuyết chung về bản thể luận của Phật giáo

và phát triển đời sống của người dân đồng bằng sông Hồng

 Phân tích vai trò của bản thể luận Phật giáo đối với việc phát triểnđời sống tinh thần Việt Nam, từ đó chỉ ra các điểm mạnh và điểm yếucủa hoạt động đó

 Đánh giá ý nghĩa của việc phân tích bản thể luận triết học Phậtgiáo đối với phát triển đời sống tinh thần của người dân đông bằngsông Hồng, và đưa ra giải pháp và các định hướng nhằm phát huy mặt

Trang 6

tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của bản thể luận triết học Phật giáođối với phát triển.

3 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính vào hoạtđộng nghiên cứu của mình

 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả sau khi chọn đề tàinghiên cứu tiến hành thu thập các tài liệu quan đến bản thể luận triếthọc Phật giáo đối với phát triển kinh tế Từ đó khái quát các tài liệu xâydựng lên các lý thuyết liên quan đến bài nghiên cứu

 Phương pháp luận: Dựa vào các phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

 Phương pháp phân tích - tổng hợp: Luận án đã phân tích, tổnghợp tài liệu để viết tổng quan, đánh giá những điểm mà các tác giả đitrước đã làm được và những khoảng trống khoa học mà luận án cầntiếp tục giải quyết

 Phương pháp logic - lịch sử: Luận án khái quát thế giới quan Phậtgiáo qua các giai đoạn để tìm ra những điểm chung và khác biệt, từ đóchỉ ra rằng, ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo đối với đời sống tinhthần

Trang 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢN THỂ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC

PHẬT GIÁO VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG TINH THẦN

1.1 Cơ sở lý luận chung của bản thể luận triết học và bản thể luận triết học Phật giáo

1.1.1 Lý thuyết về bàn thể luận trong triết học phương Tây

Theo giáo trình Triết học nâng cao, bản thể luận là thuật ngữ bắtnguồn từ tiếng Hy Lạp, được hiểu là “quan điểm của con người nhìnnhận thế giới: Vật chất là khách quan? Nó có trước hay ý thức có trước?Cái nào quyết định cái nào? Trong sách nghiên cứu và giáo trình triết

học ở Việt Nam, nội hàm của thuật ngữ này được gọi là vấn đề cơ bản của triết học Bản thể luận là lý luận nghiên cứu về bản chất của tồn

tại (ontos – logos)” và làm cơ sở cho siêu hình học

Bên cạnh đó, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về bản thểluận, theo các nhà triết học trung đại, chỉ rằng rằng “bản thể luậnkhông thể là bộ môn triết học cao nhất, là “triết học đầu tiên”, tách rờikhỏi nhận thức luận và logic học” Trong quá trình phát triển, bản thểluận được nhiều nhà triết học định nghĩa với nhiều các khác nhau Đếnthế kỷ XX, học thuyết bản thể luận mới, chỉ ra rằng “bản thể luận làmột hệ thống những khái niệm phổ biến về tồn tại mà có thể hiểu đượcnhờ một số trực giác siêu cảm tính và siêu lý tính”

Qua đó có thể thấy bản thể luận là một phạm trù triết học cơ bảnqua đó con người tìm hiểu về nguồn gốc và hình thành vũ trụ và triếthọc tự nhiên khảo sát về luật tắc của tự nhiên giới, động lực học, cácnguyên tố chính cấu thành (nguyên tử– atomic principles)

1.1.2 Lý thuyết bản thể luận trong triết học phương Đông

Những quan điểm cơ bản của triết học phương Đông, đặc biệt làngười Trung Quốc cổ đại tiêu biểu là Lão Tử, ông cho rằng “Đạo” là một

lý thuyết trừu tượng, được hiểu là cái vắng lặng, trống rỗng nhưng lạixuất hiện ở khắp mọi nơi, có trước cả trời đất, nhưng lại sinh ra mọi vật

ở trên thế giới này “Nó là sự thống nhất của thế giới, là bản nguyênsâu kín, huyền diệu mà từ đó vạn vật có danh tính, có hình thể đượcsinh ra” Trong đó Lão Tử chủ trương lý giải về “Đạo – Đức” là phạm trù

vũ trụ quan để giải thích bản thể của vũ trụ “Lão Tử sáng tạo ra phạmtrù Hữu và Vô, trở thành những phạm trù cơ bản của lịch sử triết họcTrung Hoa.” (Lê Ngọc Thông, 2020)

Trang 8

Cùng với đó, học thuyết Âm dương - Ngũ hành đưa đến sự giảithích việc thế giới tồn tại nguyên do là bởi có các yếu tố tự nhiên tươngtác với nhau mà hình thành lên “Các quan điểm này hướng tới việcphân tích sự tác động của các yếu tố cơ bản có trong tự nhiên tạothành sự vật (học thuyết ngũ hành) hay là sự liên hệ, tương tác giữa haimặt đối lập, hai thế lực vật chất cơ bản để tạo nên vũ trụ (học thuyết

âm dương)”

Cùng với các tư tưởng đó, tư tưởng của Nho giáo mà đứng đầu làKhổng Tử với những mục tiêu hướng đến các vấn đề về các mối quan

hệ của con người đối với các hoạt động chính trị - xã hội, lại giải thích

về nguồn gốc của sự tồn tại

Nho giáo, với nội dung chủ yếu thiên về giải quyết các vấn đềchính trị- xã hội và con người nên đưa ra những quan niệm khác khi lýgiải về bản nguyên của tồn tại Theo Mạnh Tử cái nội tâm chủ quan bêntrong là bản thể tự tại, thuộc về tiên nghiệm, vượt ra khỏi phạm trùkhông gian, thời gian, vật chất, vận động Đạt đến đó là con người cóthể thông quan với trời đất, hoá sinh ra vạn vật Tâm là cái chủ thểtrong mỗi con người, là cái thần linh có đủ mọi lý mà trời phú cho conngười để hiểu biết, ứng đối với vạn vật, vạn sự Tâm có quan hệ vớiTính Tính là cái lý hoàn toàn của tâm Đem cái tâm tính ấy mà ứng xửvới vạn vật bên ngoài là tình Chỉ có cái tâm đó thì mới biết được tínhcủa ta và của vạn vật

Các nhà triết học ở Ấn độ cổ đại ban đầu lại quan niệm bản thể củathế giới chính là các vị thần có tính chất tự nhiên Họ tin tưởng, gửi gắmtâm hồn, cuộc sống tự nhiên của mình vào thế giới các vị thần ấy Vềsau, quan niệm tự nhiên về các vị thần dần dần mờ nhạt, thay vào đó

“là những nguyên lý trừu tượng duy nhất tối cao được coi là nguồn gốc

vũ trụ và đời sống con người Đó là “thần sáng tạo tối cao” Brahman vàmột tinh thần tối cao Brahman” Bước chuyển về mặt nhận thức nàycủa người Ấn độ cổ thể hiện bước chuyển từ thế giới quan thần thoại(với việc giải thích tính muôn vẻ, cụ thể của thế giới qua biểu tượng các

vị thần có tính chất tự nhiên) đến thế giới quan triết học (bằng việc dầnphát hiện ra cái chung, cái bản chất như là bản nguyên tối cao của thếgiới)

1.1.3 Lý thuyết về bàn thể luận trong triết học Phật giáo

Trang 9

Phật giáo được hình thành tại khu vực phía Bắc Ấn Độ vào đầu thế

kỷ thứ VI trước công nguyên, với vị giáo chủ - người sáng lập ra là đứcPhật Thích Ca Mâu Ni Sau khi nhận thức được các chân lý về con người

và thế giới, ngài đã đem những sự chứng ngộ của mình truyền bá chokhắp nơi tại Ấn Độ, sau đó các học trò của ngài đã đem những tư tưởng

đó lan truyền ra khắp nơi trên thế giới Từ ban đầu, với những “giớiluật’ chặt chẽ mang tính khuôn khổ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tạolập được một hệ thống “tăng đoàn” lớn mạnh, cùng với tình “diệudụng” trong các lý luận, đạo Phật đã dễ dàng thích nghi với nhiều tầnglớp xã hội, nhiều hoàn cảnh, nhiều tư tưởng và phong tục của các nước

ở các thời kỳ khác nhau Vì vậy, đến ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tụctồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới

Phật giáo vượt qua khỏi các lý luận về tôn giáo khác, với mục đíchgiúp cho mọi người đạt đến niềm vui tròn đầy hạnh phúc nhất, do đónhững lý luận của Phật giáo không đi quá sâu vào các vấn đề trết họcthuần túy mang tính khô khan, mà mục đích cao cả nhất của Phật giáochính là “con đường giải thoát” khỏi những sự khổ nơi thế gian đểhướng đến hạnh phúc, đặc biệt là đạt được ảnh giới “thành Phật nhưPhật không khác” Trong đó, tư tưởng về bản thể luận của triết học Phậtgiáo nhằm lý giải các mối quan hệ về nguồn gốc và các mối quan hệcủa mọi sự vật hiện tượng tồn tại trên trái đất này và rộng hơn là toànthể vũ trụ

Theo những lý giải của Phật giáo, cội gốc hay bản thể của mọi sựvật hiện tượng có tên gọi và có hình tướng được nhận thưc quan cảmgiác hoặc ý thức được gọi là “Pháp” Theo Kinh Hoa Nghiêm1 – một bảnkinh được tôn xưng là vua của các kinh trong Phật giáo đại thừa, trong

đó nội dung chủ yếu xoay quanh các vấn đề về vạn pháp – tức mọi sựvật hiện tượng trong vũ trụ, cho rằng “thế giới bản thể gọi là lý phápgiới, thế giới hiện tượng gọi là sự pháp giới, nó như nước với sóng” Haycũng như trong kinh Hoa Nghiên có đoạn kệ như sau “Nhược nhân dụcliễu tri/ Tam thế nhất thiết Phật/ Ưng quán pháp giới tánh/ Nhất thiết

duy tâm tạo” tạm hiểu là người nào muốn hiểu rõ mọi sự vật hiện

tượng tồn tại và các sự vận hành của vũ trụ từ trước đến giờ, hãy dùncon mắt tuệ để quan sát tính của nó, tất cả đều do tâm của cúng ta tạonên Theo Đinh Quang Hổ, ông chỉ ra rằng “Từ bản thể hay chân không,

1 Kinh Hoa Nghiêm: tên đầy đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.

Trang 10

do vô minh, vọng động mà xuất hiện chúng sinh, các chúng sinh saukhi giải thoát lại trở về hoà nhập với bản thể tuyệt đối này.” Và ôngcũng chỉ ra bản thể thực tại chính là “tâm”, và đó chính là bản chất tồntại của thế giới Từ đó có thể thấy, bản chất thực tại trong triết họcPhật giáo bao gồm cả tâm – ý thức và pháp – vật chất.

Đức Thích Ca chỉ ra rằng, mọi sự vật hiện tượng đều bị chi phối bởicác quy luật vô thường, luật nhân quả tác động, và đó chính là quy luậtvận hành của vũ trụ vạn vật Có thể hiểu như sau: vô là không, thường

là luôn tồn tại và không thay đổi, vô thường chỉ ra quy luật cho thấymọi sự vật hiện tượng từ con người cho đến muôn loài trong vũ trụ đềuluôn biến đổi không ngừng và không có sự tồn tại mãi mãi Các lý luậnPhật giáo chỉ ra vạn vật chuyển biến không ngừng trong từng giây,từng phút, thậm chí chỉ bằng cái nháy mắt, hay bằng còn nhỏ hơn rấtnhiều lần như thế Từ con người cho đến vũ trụ vạn vật đều vận hànhtheo quy luật: thành, trụ, hoại, không hoặc sinh, trụ dị, diệt Cùng với

đó, moi vật đều phải tuân theo quy luật Nhân – Quả, có hình thành rồitrụ lại hư hoại đi và cuối cùng là diệt hết Tuy nhiên, muốn chuyển biến

từ nhân thành quả lại phải có sự tác động của duyên, nên Phật giáotiếp tục đưa ra thuyết Nhân Duyên để lý giải cho quá trình chuyển biếncủa sinh – trụ - hoại – diệt này “Nhân là nguyên nhân, duyên là nhữngđiều kiện giúp cho nhân phát triển Nhân duyên là những quan hệ biệnchứng trong không gian và thời gian giữa các sự vật Một sự vật ảnhhưởng dây chuyền (duyên) đến tất cả các sự vật khác.” Do đó có thểcoi, nhân duyên chính là một trong những thành tố tác động đến quátrình phát triển

Tư tưởng về bản thể luận của triết học Phật giáo còn được thể hiệnqua các tư tưởng: “vô ngã – 無無” “Vô” ở đây chính là không, không có,

“ngã” là bản thân mình Vì thế gian mọi thứ đều không hằng tồn tại nênmọi vật đều không có cái tính riêng tự có của bản thân mình (hay làkhông có bản thể riêng) Đó chính là sự vô ngã ở con người Phủ nhậnAtman2 Phật giáo cho rằng không có một cái ngã thường hằng, bất biến

ở con người và vạn vật trong vũ trụ Trong dòng chảy của đời sống, con

2 Theo từ điển Tiếng Việt: Atman, nghĩa là hơi thở, tâm hồn, bản ngã, khái niệm xuất hiện trong tôn giáo và trong các học thuyết triết lí Ấn Độ cổ đại A có nghĩa là các khởi nguyên tinh thần chủ quan thâm nhập mọi vật,

là cái "tôi" (bản ngã), cái linh hồn.

Trang 11

người chỉ là tập hợp của Ngũ uẩn3, Thập nhị xứ4, Thập bát giới5 tạothành cái ngã giả tạm với hai phần: thân và tâm Thân là sự kết hợpcủa tứ đại (địa, thuỷ, hoả, phong) Tâm là sự phối hợp của sáu căn tiếpxúc với sáu trần và sáu thức phân biệt được chia thành bốn loại: thọ,tưởng, hành, thức Các yếu tố đó kết hợp, luân chuyển cho nhau mà tạothành Khi nhân duyên đầy đủ thì hợp thành, khi nhân duyên hết thì tanrã.

Từ tư tưởng về “vô ngã” và “vô thường” của triết học Phật giáo chothấy con người được hội tụ bởi 12 thứ nhân duyên6 (thập nhị nhânduyên) và 5 yếu tố (Ngũ uẩn) Các yếu tố vật chất (sắc) không tách rờicác yếu tố tinh thần (thụ, tưởng, hành, thức) mà dựa vào các yếu tốtinh thần để tồn tại và ngược lại Mọi tồn tại bao gồm cả yếu tố vật chất

và yếu tố tinh thần đều gắn với “không” và ngược lại Tinh thần này thểhiện đậm nét trong kinh Bát nhã: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc;sắc tức thị không, không tức thị sắc” (Sắc chẳng khác không, khôngchẳng khác sắc; sắc chính là không, không chính là sắc).Và cũng từ đóPhật giáo đưa cho con người ta một cái nhìn khách quan về bản thểluận, từ nội dung cơ bản đó, giáo lý của Phật giáo phát triển lên hướngđến giải quyết các nỗi khổ của con người, từ đó đưa ra các giải phápgiúp con người thoát khỏi nỗi khổ như trong thuyết “Tứ diệu đế7” vàphát triển hơn nữa đó chính tà tư tưởng “Bát chính đạo8” – tám conđường chân chính đưa con người đến sự hạnh phúc và an vui

1.2 Cơ sở lý thuyết về phát triển đời sống tinh thần

3 Ngũ uẩn: 無無 – Ngũ uẩn, năm thứ hội tụ che lấp đi bản chất thực của con người) đó là sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (tri giác), hành (suy lý) và thức (ý thức).

4Thập nhị xứ gồm: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cộng với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp Sáu xứ trước là 6 căn, tức các cơ quan cảm giác thuộc về chủ quan, là chỗ nương tựa của tâm, tâm sở, được gọi là lục nội xứ (6 chỗ bên trong); sáu xứ sau là 6 cảnh, tức các đối tượng của nhận thức thuộc về khách quan, là chỗ mà tâm, tâm sở duyên theo, được gọi là lục ngoại xứ (6 chỗ bên ngoài).

5 Thập bát giới: Mười tám giới gồm sáu căn, sáu trần và sáu thức Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ở trong

cơ thể con người Sáu trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, những cảnh tượng bên ngoài Sáu thức gồm có quan năng nhìn, quan năng nghe, quan năng ngửi, quan năng nếm, quan năng tiếp xúc, dùng để nhận biết những cảm giác như nóng, lạnh, quan năng dùng bộ não phối hợp với các căn trên mà nhận thức ngoại cảnh, để phân biệt Do sáu căn duyên với sáu trần mà nảy sinh ra sáu thức.

6 Thập nhị nhân duyên: 無無無無 – Mười hai nhân duyên: được định nghĩa gồm hai chiều hướng: chiều hướng sinh

khởi (còn gọi là lưu chuyển: do vô minh, hành sinh ) và chiều hướng đoạn diệt (còn gọi là hoàn diệt: do đoạn

diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt ) Khi mười hai nhân duyên được thành lập (tập khởi), nghĩa là năm uẩn tập khởi, và đây là chiều hướng của khỗ đau, luân hồi Khi mười hai mắc xích này bị phá vỡ (đoạn diệt) thì cấu trúc năm uẩn cũng tan rã, và đây là con đường của an lạc, giải thoát.

7 Tứ diệu đế: là bốn chân lý nhiệm màu chỉ rõ sự thật về cuộc sống khổ đau của con người – khổ đế, về nguồn gốc nguyên nhân dẫn đến đau khổ - tập đế, về sự chấm dứt đau khổ - diệt đế và phương pháp thực hành dẫn đến việc chấm dứt khổ đau – đạo đế.

8 Bát chính đạo: là con đường chân chánh có tám chi, giúp chúng sanh hướng đến một đời sống cao thượng, hạnh phúc Đó là con đường thánh gồm tám chi: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệng, Chính tinh tiến, Chính niệm và Chính định.

Trang 12

1.2.1 Lý thuyết về phát triển

Theo từ điển Bách khoa toàn thư, Phát triển là quá trình vận độngtiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiệnđến hoàn thiện hơn của một sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừadần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ

Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sựthay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu

kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) caohơn

1.2.2 Lý thuyết về đời sống tinh thần

“Đời sống tinh thần” được đưa ra nghiên cứu với tư cách là phạmtrù triết học từ đầu những năm 60 thế kỷ XX ở Liên Xô (cũ), và đến nayđược dùng tương đối phổ biến trong triết học, văn hóa học Nhưng việcxác định nội dung của nó còn có những ý kiến khác nhau dưới góc độtriết học, chẳng hạn như: Thứ nhất, loại quan điểm cho rằng đời sốngtinh thần gồm tất cả những hiện tượng tinh thần, quá trình tinh thần,

kể cả cơ chế tác động của một số phương tiện vật chất thuộc về vănhóa tinh thần (phát thanh, truyền hình, thư viện, triển lãm nghệthuật…); thứ hai, loại quan điểm cho rằng phạm trù đời sống tinh thần

có quan hệ mật thiết với phạm trù ý thức xã hội, khi đời sống tinh thầnbiểu hiện là một hệ thống hoạt động, nghĩa là có sự tác động giữa ýthức xã hội và ý thức cá nhân, ở đó có đấu tranh tư tưởng của các tậpđoàn xã hội, giai cấp khác nhau Nó là sự trao đổi quan điểm, tư tưởng,

lý luận, sự hình thành, phát triển ảnh hưởng của chúng trong ý thứccủa quần chúng nhân dân; thứ ba, loại quan điểm cho rằng đời sốngtinh thần không phải là tập hợp đơn giản những tư tưởng xã hội, mà nócòn là sự thống nhất đặc biệt của ý thức xã hội với các cơ quan, tổ chức

về văn hóa, tư tưởng, khoa học, nghệ thuật nói chung; thứ tư, loại quanđiểm cho rằng đời sống tinh thần là toàn bộ những hiện tượng, nhữngquá trình tinh thần có liên hệ với những tổ chức, cơ quan về văn hóa, tưtưởng, giáo dục, khoa học, hay là hoạt động tinh thần - văn hóa của các

cơ quan, tổ chức đó

Có thể thấy, khái niệm về đời sống tinh thần có nhiều quan điểm

khác nhau, tuy nhiên, trong luận án này, tác giả cho rằng: “Đời sống

tinh thần là một dạng thức đặc biệt, phản ánh đời sống vật chất, phản

Trang 13

ánh hoạt động của con người, là sự tổng hòa của các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, giáo dục, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của con người.”

1.2.3 Lý thuyết về phát triển đời sống tinh thần

Đời sống tinh thần là phạm trù có mối quan hệ chặt chẽ với ý thức

xã hội, ý thức cá nhân; là sự tổng hòa nhiều lĩnh vực chính trị, phápluật, đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo văn hóa Giữa các lĩnh vực, các yếu

tố của đời sống tinh thần có sự giao thoa nên việc phân chia đời sốngtinh thần thành các lĩnh vực khác nhau chỉ mang ý nghĩa tương đối, tùythuộc vào từng góc độ tiếp cận

Phát triển đời sống tinh thần có thể hiểu là việc tăng tiến toàn diện

về các mặt chính trị, đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa Hay nóichung là sự tăng tiến toàn diện về đời sống tinh thần của mọi người

Trang 14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU NỘI DUNG BẢN THỂ LUẬN TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN

ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 2.1 Thực trạng nghiên cứu nội dung bản thể luận của triết học Phật giáo

2.1.1 Thuyết Nhân – Duyên và Quả trong triết học Phật giáo

Lý luận của Phật giáo chỉ ra rằng, mọi sự vật hiện tượng từ conngười cho đến vũ trụ mọi loài đều tuân theo quy luật nhân quả gồmbốn giai đoạn là: sinh – trụ – dị – diệt hay thành – trụ – hoại – không.Đối với con người là sinh – già – bệnh – chết, tất cả 4 giai đoạn đó làquy luật tự nhiên của vũ trụ khách quan, không bị ảnh hưởng của mộtđấng siêu nhiên nào tác động Trong đó, quá trình chuyển từ sinh đếntrụ là một quá trình có nhiều sự tác động, rồi từ trụ chuyển sang dịsang diệt lại cả một quá trình, mà sự tác động đó được gọi là duyên Dovậy, duyên trong Phật giáo là chỉ những điều kiện, những tiền đề để cóthể dựa vào đó mà có những sự phát sinh, tồn tại, biến đổi mọi sự vậthiện tượng Ví dụ như để chuyển một hạt lúa thành một cây lúa, khôngchỉ đơn thuần có mỗi hạt lúa không, mà còn phải nhờ vào sự tác độngcủa thời tiết, có sự chăm sóc của con người, đó chính là các duyên đểthúc đẩy cho hạt lúa thành cây lúa

Vì vậy, muốn chuyển từ nhân sang thành quả duyên là một yếu tốtác động không thể thiếu duyên Tất cả các sự vật hiện tượng trong thếgiới chỉ có thể phát sinh, chỉ có thể hiện hữu, tồn tại hay mất đi (quả)trên cơ sở nương dựa vào những điều kiện (duyên) và tiền đề nhất định(nhân) Nghĩa là nếu không có những điều kiện và tiền đề ấy thì khôngthể có sự phát sinh ấy

Từ luận điểm tiền đề đó, tất yếu có thể rút ra những kết luận cănbản về nguồn gốc, bản chất phổ biến của mọi sự vật hiện tượng tồn tạitrên thế giới

2.1.2 Tư tưởng triết học Phật giáo về “Vô ngã”, “ Vô thường”

Tư tưởng về bản thể luận của triết học Phật giáo được thể hiện quacác tư tưởng: “vô ngã”, “ vô thường” Bởi từ con người cho đến vũ trụvạn vật đều vận hành theo quy luật đó là sinh – trụ – dị – diệt, trong đó,

Ngày đăng: 19/06/2021, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w