33 Tran Huu Nam CH28AAMTM ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC Chủ đề TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIÁO Học viên Trần Hữu Nam Lớp HP CH28AN3 Hà Nội, 062022 1 ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I NGUỒN GỐC, QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC NHO GIÁO 3 I Nguồn gốc của triết học Nho giáo 3 II Những quan điểm triết học của Nho Giáo về con người 4 1 Quan niệm của Nho giáo về bản tính con người 4 2 Quan niệm của Nho giáo về vai trò của con người 6.
Trang 1ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Chủ đề:
TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG CON NGƯỜI TRONG
TRIẾT HỌC NHO GIÁO
Học viên: Trần Hữu Nam Lớp HP: CH28AN3
Hà Nội, 06/2022
1
ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: NGUỒN GỐC, QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC NHO GIÁO 3
I Nguồn gốc của triết học Nho giáo 3
II Những quan điểm triết học của Nho Giáo về con người 4
1 Quan niệm của Nho giáo về bản tính con người 4
2 Quan niệm của Nho giáo về vai trò của con người 6
3 Những chuẩn mực đạo đức cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Nho giáo 11 CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIÁO ĐỐI VỚI BẢN THÂN
26 KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO
31
Trang 3479 trước Công nguyên), còn gọi là Khổng giáo, trong đó có bao hàm tư tưởng trị quốccũng là sản phẩm tất yếu của lịch sử.
Nho giáo là một trong những học thuyết ra đời từ rất sớm tại Trung Quốc và cóảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội Trong lịch sử, Nho giáo có sự giao thoa với cácnền văn hóa khác nhau và đã để lại dấu ấn nhất định ở các nước vùng Đông Nam Á,Bắc Á đặc biệt là ở một số nước từng lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng như NhậtBản,Triều Tiên Tại Việt Nam, từ những năm đầu thế kỷ I, Nho giáo đã chính thứcthâm nhập và từ đó trở đi, Nho giáo Việt Nam theo thời gian, ngày càng có sức ảnhhưởng tới nhiều lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là lĩnh vực đạo đức của dân tộc ta Đạođức Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo Khổng - Mạnh mà nội dung chủ yếu là quan niệm
về những chuẩn mực đạo đức cơ bản như Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín đã dần thấm sâu
Trang 4vào tư tưởng, lối sống, hành động của bao thế hệ người Việt, trở thành những chuẩnmực đạo đức cần thiết mà người Việt Nam hướng tới, hoàn thiện.
CHƯƠNG I: NGUỒN GỐC, QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC NHO GIÁO
I Nguồn gốc của triết học Nho giáo
Nguồn gốc lịch sử của Nho giáo: Nho giáo, học thuyết của Khổng Tử (sinh năm
551 trước Công nguyên, mất năm 479 trước Công nguyên) Thủy tổ và những tác giảcủa nó sinh trưởng trong thời đại Xuân Thu - Chiến quốc từ khoảng năm 770 đến năm
221 trước Công nguyên (Hà Thúc Minh, 1999) Đấy là thời điểm lịch sử xuất hiện họcthuyết của thầy trò Khổng Tử, còn gọi là Nho giáo, hoặc Khổng giáo trong lịch sử.Mạnh Tử (sinh năm 372 trước Công nguyên, mất năm 289 trước Công nguyên) làngười bổ sung, phát triển rất xuất sắc Nho giáo, vì thế Nho giáo này còn được gọi làNho giáo
II Những quan điểm triết học của Nho Giáo về con người Qua nghiên cứu nội dung
các tác phẩm của Nho giáo có thể thấy rằng, vấn đề con người là một trong những vấn
đề cơ bản nhất trong học thuyết của Nho giáo Bởi vì, theo quan niệm của các nhà Nho,vấn đề con người ảnh hưởng và có quan hệ trực tiếp đến việc củng cố, ổn định trật tự,
kỷ cương xã hội Đặc biệt xã hội Trung Quốc thời Khổng - Mạnh là xã hội hỗn loạnnhư Khổng Tử đã chỉ rõ: “vua không ra vua, bề tôi không ra bề tôi, cha không ra cha,con không ra con” Chính vì vậy mà vấn đề con người đã được Nho giáo đề cập, bànluận trong cả học thuyết đạo đức, học thuyết triết học, học thuyết chính trị - xã hội, họcthuyết giáo dục
1 Quan niệm của Nho giáo về bản tính con người
Nội dung cơ bản trong quan niệm về tính người ở Nho giáo bao gồm: Bản tính
Trang 5của con người là gì và do đâu mà có? Bản tính ấy có thể thay đổi, có thể cải tạo đượchay không và nếu cải tạo được thì để nhằm mục đích gì? Ai hay lực lượng nào có thểcải tạo và cải tạo bằng phương thức nào? Đi sâu vào tìm hiểu hệ thống các khía cạnhnày, có thể thấy sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm của Nho giáo về bản tínhngười.
Khổng Tử chính là người đầu tiên đặt vấn đề “tính người” trong phái Nho gia.Trong sách Luận ngữ, ông đề cập tới chữ “tính”, ông nói “Bản tính người ta gần giốngnhau, nhưng chịu ảnh hưởng khác nhau mà thành khác nhau” Như vậy, theo Khổng Tử,bản tính con người khi mới sinh ra là hoàn toàn giống nhau, đều ngây thơ, trong trắng,
đó là cái bản tính có sẵn được trời ban cho nhưng khi chịu sự tác động của ngoại cảnh,của các yếu tố xã hội thì bản tính ấy của con người bị biến đổi
Có thể nói, khi đề cập đến vấn đề tính người, Khổng Tử chưa bàn luận, giảnggiải gì nhiều, nhưng quan niệm về tính của ông là tư tưởng cơ bản, đặt nền tảng banđầu để từ đó các nhà Nho về sau kế thừa, phát triển
Đô Tử, người mang tư tưởng của Cáo Tử “Cáo Tử cho rằng: cái tính nhiên của người
ta giống như nước chảy Khi người ta khai thông phía đông, thì nước chảy về phíađông; khi người ta khai thông phía tây thì nước chảy về phía tây Cái tính tự nhiên củangười ta chẳng phân biệt được việc thiện với việc ác; ấy cũng như dòng nước chẳngphân biệt được phía đông và phía tây vậy Mạnh Tử đã nói rằng: đã đành dòng nướcchẳng phân biệt được phía đông và phía tây nhưng há nó chẳng phân biệt được phíatrên và phía dưới sao? Cái bản tính của người ta vốn thiện, ấy cũng như cái bản tínhcủa nước là dồn xuống phía dưới thấp vậy Không một người nào tự nhiên sinh ra màbất thiện, cũng như thế, không một thứ nước nào mà chẳng chảy xuống thấp” “ Cáo
Tử cho rằng: Cái bản tính của người chẳng nhất thiết là thiện hay ác, tự nơi người dùng
nó là thiện hay ác mà thôi Ấy cũng như nước chẳng nhất định chảy về đâu, hễ phía nàothông thì nó chảy về phía đó Mạnh Tử bổ cứu thêm rằng: Cái bản tính của người nhất
Trang 6định là thiện, giống như cái bản tính của nước là nhất định chảy xuống thấp Cho nêndẫu cho người ta chặn nghịch dòng của nó thì nó có sức phản động để vượt khỏi chỗngăn bít nhằm tìm chỗ thấp mà chảy xuống nữa Chiếu theo đó nếu nhà cầm quyền thihành chính sách bạo ngược, thì bị cái sức phản động của cái tính bản thiện của dânchúng, ắt dân chúng sẽ tung khỏi xiềng xích của nhà cai trị ấy mà nương cậy vào nhàchính trị khác có nhân” Ngoài ra, thuyết “Tứ đoan” nổi tiếng trong thiên Công TônSửu cũng là một nội dung quan trọng của thuyết tính thiện Theo đó, Mạnh Tử chorằng, bản tính con người từ khi sinh ra là do trời phú, cho nên vốn là thiện, bản tính củacon người là thiện, cũng như nước phải chảy xuôi ,từ chỗ cao xuống chỗ thấp Người takhông ai là bất thiện, cũng như không có loại nước nào là không chảy từ chỗ cao chảyxuống chỗ thấp Minh chứng cho nhận định này, trong sách Mạnh tử, ông đã đưa rahình ảnh đứa trẻ khi mới sinh ra vốn đã có tình cảm quyến luyến với cha mẹ, lòng yêumến anh chị em của mình, ai cũng động lòng thương xót và muốn cứu đứa trẻ khi nhìnthấy nó sắp té xuống nước Cái tình cảm quyến luyến và động lòng thương xót ấyMạnh Tử gọi là “lương tri”, “lương năng”.
2 Quan niệm của Nho giáo về vai trò của con người
Nho giáo nhìn nhận thế giới trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, thế giới vàvạn vật là một chỉnh thể thống nhất Trong các mối quan hệ thì Nho giáo Khổng - Mạnhđặc biệt quan tâm đến hai mối quan hệ cơ bản: mối quan hệ giữa trời với người và mốiquan hệ giữa con người với xã hội, từ đó nêu bật lên vị trí, vai trò của con người trongthế giới, trong xã hội Khi đề cập về vấn đề vai trò con người, Nho giáo Khổng - Mạnh
đã đặt con người trong mối quan hệ với tự nhiên (trời, đất, vạn vật) và với xã hội (biểuhiện trong quan hệ giữa người với người, con người với xã hội) Cụ thể:
Thứ nhất: Vai trò của con người trong mối quan hệ với trời đất, vạn vật Xuất
Trang 7phát từ quan điểm “vạn vật gốc ở trời” (Kinh Lễ), “Trời sinh ra người…thì người phảilấy Trời làm gốc” (Kinh Thi) nên theo Nho giáo Khổng - Mạnh, con người phải biếtthực hành đúng “đạo trời”, “mệnh trời” (biết mệnh trời thì chẳng có thể là người quântử).
Bàn về trời và vai trò của trời đối với con người và xã hội, Nho giáo Khổng Mạnh đưa ra phạm trù Thiên mệnh Mệnh của trời (Thiên mệnh) là quyền uy, sự thểhiện của trời đối với vạn vật trong sự sinh thành, biến đổi tức là cái đức, cái tính củacon người,… đều là mệnh trời định sẵn không thể cưỡng lại được Theo Khổng Tử, “trithiên mệnh” (biết mệnh trời) là điều hết sức quan trọng Đối với người quân tử “biếtmệnh trời” là tiêu chuẩn cơ bản và là yêu cầu cần phải có: “Bất tri mạng, vô dĩ vi quân
-tử dã” (không biết mệnh trời thì chẳng có thể làm người quân -tử) Khi đã biết mệnh trờithì tất yếu phải sợ mệnh trời Sợ mệnh trời là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt quân tử(người có đạo đức, kẻ thống trị) với tiểu nhân (không có đạo đức, kẻ bị trị) như Khổng
Tử nói: “Người quân tử có 3 điều kính sợ: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời dạy củathánh nhân, kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời nên không sợ, khinh nhờn bậc đại nhân,coi thường lời dạy của thánh nhân”
Rõ ràng, quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về vai trò của con người trongmối quan hệ với trời về cơ bản là duy tâm, phản động Trước trời, con người chỉ là mộtlực lượng thụ động, nô lệ Vai trò của con người chỉ giới hạn, thu hẹp ở việc thực thitheo mệnh lệnh của trời
Thứ hai: Vai trò của con người trong xã hội (biểu hiện chủ yếu trong các quan
hệ xã hội cơ bản)
Theo quan niệm của Khổng Tử, con người sống trong xã hội có 5 mối quan hệ
cơ bản bao gồm: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn bè.“Quân thần dã, phụ
tử dã, phu phụ dã, con đệ dã, bằng hữu chi dao dã, ngũ dã thiên hạ, chi đạt đạo dã”
Trang 8(năm mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè mà đã đạt được, chính làđạo đấy).
Với mỗi quan hệ ấy, Nho Giáo Khổng - Mạnh lại đưa ra những quy phạm, nhữngchuẩn mực đạo đức để ràng buộc, cột chặt con người vào những mối quan hệ này, định
rõ yêu cầu và trách nhiệm của con người với con người trong gia đình và ngoài xã hội.Hiểu theo nghĩa thông thường, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồmnhững nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnhhành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ xã hội Chuẩn mựcđạo đức là những nguyên tắc, quy tắc đạo đức được mọi người thừa nhận trở thànhnhững mực thước, khuôn mẫu để xem xét, đánh giá và điều chỉnh hành vi của conngười trong xã hội Những quy phạm, chuẩn mực đạo đức mà Nho giáo Khổng - Mạnhđưa ra, gộp lại thành đạo làm người Thông qua những mối quan hệ này có thể nhậnthức rõ hơn quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về vai trò của con người Trong
đó, vai trò của con người được đề cập nhiều nhất và được quan tâm nhiều là ở trong bamối quan hệ đầu tiên: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ
Theo Nho giáo Khổng - Mạnh, để thực hiện tốt các mối quan hệ xã hội thì conngười cần phải có các phẩm chất đạo đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Hiếu, Trung, v.v…
7
ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
Khi đề cập đến các chuẩn mực cần phải có của mỗi người trong các mối quan hệ
xã hội cơ bản, Mạnh Tử đã lên tứ đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí Bốn đức này theo ông là,khi con người vừa sinh ra đã có sẵn và nó có nguồn gốc, đầu mối là lòng trắc ẩn, lòng
tu ố, lòng từ nhượng, lòng thị phi Trong từng mối quan hệ, Nho giáo Khổng - Mạnh lạiđưa ra những chuẩn mực đạo đức cụ thể để ràng buộc con người vào những mối quan
hệ này
Cụ thể:
Trong gia đình: Tuy Nho giáo Khổng - Mạnh đưa ra 3 mối quan hệ (cha - con,chồng - vợ, anh - em) nhưng chỉ có hai mối quan hệ được Khổng Tử và Mạnh Tử tậptrung lý giải, đó là quan hệ cha - con, chồng - vợ
Quan hệ cha - con là một trong những mối quan hệ cơ bản của con người, là tiền
Trang 9đề, điều kiện duy trì trật tự, tôn ti trong gia đình và nhằm góp phần củng cố trật tự, kỷcương xã hội Theo đó, cha mẹ phải thương yêu, dưỡng dục con cái, con cái phải chămsóc, kính trọng cha mẹ Người cha có vai trò là bề trên của con cái, sinh ra con cái chonên Khổng Tử coi trọng đức “Hiếu”, tức là nhấn mạnh trách nhiệm, nghĩa vụ của concái với cha mẹ Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử đã nhiều lần khẳng định, trong các việcphụng sự thì phụng sự cha mẹ là trọng đại hơn hết, là gốc vậy Và khi người con đạtđược đức hiếu đó mới là người có nhân, nghĩa, lễ, trí.
Quan hệ chồng - vợ được Nho giáo Khổng - Mạnh nhìn nhận là “phu phụ hữubiệt” Do vậy, vợ chồng phải có nghĩa với nhau “Nghĩa” là chuẩn mực đạo đức để ràngbuộc trách nhiệm và nghĩa vụ vợ - chồng với nhau.Theo đó, chồng - vợ phải yêu thương
và có trách nhiệm với nhau Tuy nhiên, người vợ (người phụ nữ nói chung), trong quanniệm của Khổng - Mạnh có vị trí, vai trò thấp hơn so với người chồng, (người đàn ôngnói chung), do vậy nhìn chung Nho giáo Khổng - Mạnh coi trọng, đề cao vai trò củangười chồng so với người vợ
Trong xã hội, Nho giáo Khổng - Mạnh đưa ra mối quan hệ vua - dân, vua - tôi,quan - dân trong đó tinh thần chung của Nho giáo Khổng - Mạnh là quan tâm tới mốiquan hệ vua - tôi (quân - thần)
Khổng Tử đã từng nói: “Nếu vua thương yêu (nhân) bề tôi thì bề tôi phải trungthành với vua”, còn Mạnh Tử thì cho rằng, nhà vua mà coi bề tôi như chó ngựa thì bề
là phải tận trung, tận hiếu với vua
Trong một chừng mực nhất định, Nho giáo Khổng - Mạnh khi bàn về quan hệgiữa vua - tôi, cụ thể là bàn về vai trò của dân đã đưa ra được những quan niệm có yếu
Trang 10tố hợp lí khi coi dân có vai trò nhất định trong việc sáng tạo của cải vật chất, sự hưngvong của triều đại, quốc gia Tuy nhiên, Nho giáo Khổng - Mạnh lại đề cao quá mức địa
vị và vai trò của nhà vua, của sự tu dưỡng đạo đức, sự giáo hóa dân của nhà vua Do đó,mặc dù đề cao vai trò con người như thế nào đi chăng nữa nhưng xét cho cùng, quanniệm ấy về cơ bản là duy tâm, siêu hình và chủ yếu là nhằm duy trì, bảo vệ trật tự, cơcấu giai cấp của xã hội phong kiến đương thời
Theo Nho giáo Khổng - Mạnh, con người có vị trí và vai trò quan trọng vì vậycần phải chú trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện con người Trong đó Nho giáoKhổng - Mạnh cho rằng, đạo đức là điều kiện, tiền đề quan trọng nhất để hình thành,hoàn thiện con người, góp phần vào việc củng cố, duy trì trật tự, kỉ cương xã hội Tức
là phải lấy những chuẩn mực đạo đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Tín, Trí mà bổ hóa (đức hóa) ratoàn xã hội, phải làm cho những chuẩn mực ấy trở thành những nguyên tắc để điềuchỉnh mọi hành vi của con người và các mối quan hệ xã hội của con người Có nhưvậy, mỗi người mới có đạo đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, mới bảo tồn được tính thiện,trừ bỏ được tính ác và “gia mới tề, quốc mới trị, thiên hạ mới bình” Để đạt đượcnhững mục đích này, theo Nho giáo Khổng - Mạnh, mỗi người phải “tu thân”, (tudưỡng đạo đức) Mục đích của Nho giáo Khổng - Mạnh là giáo dục, đào tạo con ngườihoàn thiện và nhằm xây dựng, duy trì một xã hội có đạo đức, ổn định, thái bình Vì vậy,Nho giáo Khổng - Mạnh chú trọng đến vấn đề đạo đức mà ít bàn đến lợi ích vật chất.Tuy nhiên, mặc dù đề cao Nhân, Nghĩa, Trí, Tín là những phẩm chất đạo đức tốithượng của con
Tử nói rõ thêm: “Như nước nhà yên trị mà mình chịu phận bần cùng, đê tiện đó là sựxấu hổ Còn như nước nhà loạn lạc mà mình hưởng phần giàu sang, đó là điều xấu hổ”
Trang 11Và theo Khổng Tử, “Đứng trước điều nghĩa và lợi nếu phải chọn một, thì người quân tửchọn theo nghĩa đức" Xuất phát từ quan niệm như vậy, ông khuyên người quân tử phảiluôn chú tâm vào học đạo, mưu đạo, theo lễ…nhằm “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.Đạo đức và giáo dục đạo đức cho con người còn có vai trò quan trọng đối vớiviệc duy trì trật tự, kỉ cương xã hội Xuất phát từ quan niệm cho rằng, gia đình là tế bàocủa xã hội, mọi sự rối loạn của xã hội đều từ rối loạn trong gia đình mà ra, cho nên Nhogiáo Khổng - Mạnh cho rằng, muốn xã hội ổn định, có kỉ cương, có đạo đức thì trướchết gia đình phải có trật tự, có đạo đức, sao cho “cha ra cha, con ra con, vợ ra vợ, chồng
ra chồng” Để đạt được điều đó, mỗi người phải “tu thân”, phải được giáo dục theonhững chuẩn mực, luân lý đạo đức của đạo cương thường Như trong sách Mạnh tử cóchép lại việc Thuần Vu Khôn hỏi Mạnh Tử rằng, liệu có biện pháp nào để cứu cho thiên
hạ khỏi cảnh chìm đắm thì Mạnh Tử trả lời: “Thiên hạ chìm đắm cần cứu vớt bằng đạo(nhân, nghĩa)…ông muốn dùng tay không để cứu vớt thiên hạ hay sao”.Hay trongchương Luy Lâu sách Mạnh tử có viết: “Gốc của thiên hạ là quốc gia, gốc của quốc gia
là nhà, gốc của và nhà là chính bản thân mình” (Thiên hạ chi bản tại quốc; quốc chi bảntại gia; gia chi bản tại thân)
Như vậy có thể nói, theo quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh, con người cóvai trò hết sức quan trọng trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, vì vậy cần phảiquan tâm tới việc giáo dục đạo đức cho con người, nhằm xây dựng và hoàn thiện nhâncách con người Khi nhân cách con người được hoàn thiện, con người sẽ phát huy đượcvai trò của mình Do đó, con người cần phải học tập, tu dưỡng đạo đức Nhân, Nghĩa,Lễ…ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh Điều đó không chỉ là để có đạo đức, hoànthiện bản
“Người quân tử chẳng bao giờ rời bỏ điều nhân, dù chỉ trong khoảng thời gian một bữa
ăn, dẫu trong cơn vội vàng hay trong lúc nghiêng ngả, chao đảo, người ấy vẫn ở vớiđiều nhân” Không chỉ vậy, mà điều quan trọng hơn là, người quân tử phải làm gươngtrong việc thi hành cái đức của mình và phải đem cái đức đó giáo hóa mọi người: “Ta
Trang 12dạy tất cả mọi người không có phân biệt địa phương hay giàu nghèo” Xuất phát từquan niệm như vậy, ông khuyên người quân tử phải luôn chú tâm vào học đạo, mưuđạo, theo lễ…nhằm “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
Xuất phát từ quan niệm về bản tính con người và vị trí của con người trong mốiquan hệ với tự nhiên và xã hội, Nho giáo đã đưa ra một số chuẩn mực đạo đức nhằmgiáo dục, hoàn thiện nhân cách con người để từ đó hướng tới duy trì trật tự, kỉ cươnggia đình và xã hội Và mặc dù, Nho giáo Khổng - Mạnh đề cao vai trò của con người,
đề ra các chuẩn mực đạo đức mà con người cần phải thực hiện trong các mối quan hệgia đình và xã hội nhưng xét về thực chất, xét đến cùng đó là những quan niêm duytâm, siêu hình, chủ yếu nhằm mục đích duy trì, bảo vệ trật tự, cơ cấu giai cấp của xãhội phong kiến và phục vụ địa vị, lợi ích của giai cấp phong kiến thống trị
3 Những chuẩn mực đạo đức cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Nho giáo Trải
qua các thời kỳ lịch sử, mỗi nhà Nho có sự bổ sung, sắp xếp các phẩm chất đạo đứcđúng theo trật tự khác nhau Nếu như Khổng Tử nhấn mạnh đức cơ bản của con ngườilà: Nhân, Trí, Dũng như ông nói “Trí, Nhân, Dũng, tam giả thiên hạ chi đạt đức dã”(tức là, người có ba đức Nhân, Trí, Dũng là thiên hạ có đạo đức) thì Mạnh Tử lại đưa ra
tứ đức: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí Nho giáo tôn trọng và đề cao các chuẩn mực đạo đức màcon người cần phải có trong các mối quan hệ, các Nho sỹ dựa vào đó để phát ngôn và
xử thế, vì vậy các phạm trù đạo đức căn bản được duy trì và phát huy trong suốt thời
kỳ phong kiến Có thể nói, các chuẩn mực đạo đức cơ bản theo quan điểm Nho giáobao gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Hiếu, Trung
Trang 13yêu người) “Chữ nhân (đức nhân) đồng với chữ nhân (người) vậy: hễ làm người thìphải làm nhân Nói cho hợp nghĩa, nhân tức là đạo làm người” (Nhân giã giả, nhân giã.Hiệp nhi ngôn chi, đạo giã) Nếu như Khổng Tử cho rằng, người có đức “Nhân” sẽkhông phải lo lắng vì không sợ ai làm hại mình thì Mạnh Tử lại giải thích rằng, đứcnhân xuất phát từ tâm lý sẵn có của con người, đó là lòng trắc ẩn (lòng thương xót cứuvớt người hoạn nạn) “Lòng trắc ẩn là đầu mối của điều nhân” (trắc ẩn tri tâm, nhân chiđoan dã) Vậy con người phải làm thế nào để có đức nhân và đức nhân được biểu hiệnnhư thế nào?
Thứ nhất: Con người cần phải hành động và hoàn thiện nhân cách Nhân cách
là khái niệm chỉ tư cách của con người chủ yếu về phương diện đạo đức, là phươngcách làm người của con người Nhân cách là sự xác định của chủ thể (con người) trongcác mối quan hệ xã hội là phát huy các phẩm chất của chủ thể đối với mọi người xungquanh, đó là xác định tư cách của người có đức nhân Để đạt được đức nhân, Khổng Tửcho rằng, đối với mình phải “Khắc kỉ phục lễ” (Sửa mình trở về với lễ là nhân) Cónghĩa là, để thành người nhân thì con người phải nghiêm khắc với mình, phải chiếnthắng mọi ham muốn tầm thường, xét việc gì thì không đem ý riêng của mình vào màphải theo lẽ phải, không quả quyết rằng điều đó là đúng, không cố chấp và quên mình
đi, không để cho cái ta làm mờ ám, không hiếu thắng khoe khoang, không oán hận,không tham dục vọng Ngoài ra, “khắc kỉ” không chỉ biểu hiện ở lời nói mà quan trọnghơn là biểu hiện ở việc làm, hành động Như vậy, đức nhân trước hết đối với bản thânmình thì phải “khắc kỷ” Tức là phải luôn tu sửa mình, phải giữ đạo, nhưng vượt lêntrên tất cả đức nhân còn là đối với mọi người phải cung, khoan, tín, mẫn, huệ Khổng
Tử gọi người có nhân là quân tử, trượng phu để đối lập với kẻ tiểu nhân Theo Khổng
Tử, khi hành điều nhân còn phải biết thân sơ, trên dưới Tư tưởng này của Khổng Tử
đã được Mạnh Tử tiếp thu
12
ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
Thứ hai: Con người phải nhân ái, nhân hậu.
Nhân ái là yêu thương con người Khổng Tử chủ trương phải thương mọi ngườinói chung, nhưng không phải yêu ai cũng như ai Ở đó có sự phân biệt thân sơ, quý,tiện.Thân ái, yêu thương người như kiểu thương thân mình, mình muốn thành công
Trang 14cũng phải giúp người thành công Theo Khổng Tử, lòng nhân tức là lòng yêu người,trước hết là yêu cha mẹ mình, họ hàng mình, bề trên của mình Ông yêu cầu mỗi ngườiphải yêu rộng ra mọi người và gần gũi người có nhân Ông nói với Tử Cống (là học tròcủa mình) rằng, nếu đem lại ân huệ cho dân và có thể cứu vớt được nhiều người, thìđấy không chỉ là người nhân mà còn là tấm lòng của ông Thánh, bản thân Khổng Tử đãphấn đấu theo hướng đó Tư tưởng của ông đã được Mạnh Tử kế thừa “có nhân với dântiến đến yêu vật” Lòng nhân ái được Nho giáo Khổng - Mạnh đặc biệt đề cao trongđường lối trị nước Mạnh Tử cho rằng, người cai trị phải làm cho dân giàu để dân tin ởmình Có thể nói, trong Nho giáo Khổng - Mạnh thì đối với người cai trị, việc chăm lođời sống của người dân, đem lại cuộc sống ấm no cho dân chính là biểu hiện cụ thể củanhân ái.
Nói về vai trò của cá nhân trong việc hình thành đức nhân, trong sách Luận ngữ,Khổng Tử nói: “Điều nhân ở xa ta hay sao? Nếu ta muốn điều nhân, điều nhân đó tựđến với ta” (Tử viết: Nhân viễn hồ tai? Ngã dục nhân, tư nhân chí hĩ) Khổng Tử còncho rằng, “Nhân” là bản chất cao quý vốn có trong mỗi người, song muốn thành ngườinhân thì mọi người phải luôn học tập, tu dưỡng và thực hành đức nhân
Khổng Tử nói rằng: “Chỉ có người nhân mới biết yêu người, biết ghét người(một cách chính đáng)” (Tử viết: “Duy nhân giả năng hiếu nhân, năng ố nhân” Ôngluôn khuyên mọi người: “Hãy thật lòng để chí vào điều nhân, sẽ không phạm phải điềuác” (Tử viết: “Cẩu chí ư nhân hĩ, vô ác dã” Và nếu con người có nhân đức, theoKhổng Tử tất sẽ chí công vô tư, bỏ được lòng riêng tư, vị kỉ, sẽ không phạm phải bất
cứ tội ác nào Đây cũng chính là biểu hiện lòng nhân hậu Nhân hậu là thủy chung nhưnhất, trước sau như một, đã hứa là phải giúp, phải thực hiện; “Kỳ ngôn chi bất tạc, tắc
vi chi dã nan” (Kẻ nào khoác lác mà không hổ thẹn thì đến khi làm việc khó mà làmđúng theo lời nói ấy khó mà giữ được nhân vậy), hay “Quân tử sỹ kỳ ngôn, nhi quá kỳhạnh” (hứa nhiều mà làm ít, người quân tử lấy làm hổ thẹn)
Trang 15trong những tiêu chuẩn để đánh giá con người có đức nhân hay không chính là căn cứvào suy nghĩ, hành động của họ như thế nào và có vì mọi người hay không Tuy nhiên,đức Nhân trong quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh mang tính phức tạp, rất khóthực hiện, nó vừa là lý tưởng, nhưng lại vừa là ảo tưởng Điều này phản ánh một thực
tế lịch sử của xã hội khi đang trong giai đoạn nhiễu nhương Khổng Tử đã cố gắng đếnmức có thể để níu kéo xã hội cũ dựa trên quan niệm “đức trị” Đó là một hạn chế củaNho giáo Khổng - Mạnh về đức “Nhân”
Đức Lễ
Chuẩn mực đạo đức thứ hai trong tư tưởng đạo đức của Nho giáo Khổng - Mạnh
là Lễ Lễ có vai trò quan trọng trong việc đưa Nhân, Nghĩa vào cuộc sống hàng ngày
Để giúp cho sự giáo hóa đức “Nhân”, Khổng Tử rất chú trọng đức “Lễ”
Chữ Lễ xét về từ nguyên, một bên là người đang quỳ còn một bên là lễ vật Lễvốn là hình thức bày tỏ sự phục tùng thần linh siêu nhiên và cầu mong được giúp đỡ.Như vậy lúc đầu, Lễ chỉ có nghĩa là những nghi lễ Đến Khổng Tử, ông không “phátminh” ra lễ mà chỉ theo lễ xưa, bổ sung và phát triển cho phù hợp với thời đại mà thôi.Theo Khổng Tử, Lễ là những quy định cụ thể về mặt đạo đức trong quan hệ ứng xửgiữa con người với con người Theo đó, lễ là con cái phải có hiếu lễ với cha mẹ, bề tôiphải trung thành với vua, chồng vợ có nghĩa với nhau, anh em phải kính trên nhườngdưới, bạn bè phải giữ được lòng tin, chữ tín với nhau
Trong các việc cần phải làm để đạt đức Lễ, việc tế tự được Khổng Tử đặt hàngđầu Nó tạo ra mối quan hệ về mặt đạo đức của con cái đối với tổ tiên, thần thánh Và lễ
sẽ tạo ra cho con người có đạo đức nhân hậu Khi con người thận trọng trong tang lễcha mẹ, truy niệm và tế tự tổ tiên xa, thì đức của con người sẽ thuần hậu
Lễ theo Khổng Tử còn là trật tự, kỷ cương, phép nước mà mọi người đều phảituân theo Ông muốn dùng Lễ để tạo ra một tập quán tốt đẹp trong cuộc sống hàngngày, ông đòi hỏi mọi hành động của con người phải nhất thiết theo lễ, suy nghĩ vàhành động phải phù hợp với lễ Dựa trên cơ sở những tập quán cũ của nhà Chu (Chulễ), từ kinh nghiệm bản thân và yêu cầu của xã hội đương thời, Khổng Tử đưa ra nhữngkhuôn phép
14
ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
Trang 16chặt chẽ, cụ thể từ suy nghĩ đến hành động của con người Khổng Tử kịch liệt phê phánviệc người ta chỉ chú ý đến hình thức của lễ mà không quan tâm đến nội dung của lễ.Ông đòi hỏi mỗi người phải có thái độ thành tâm và kính trọng trong khi thực hiện lễ.Bởi vì theo ông, làm theo lễ, giữ đúng lễ trong mọi mối quan hệ sẽ tránh được sự tháiquá trong hành vi, thái độ, đồng thời cũng phát huy được hiệu quả cao nhất.
Nhận thức rõ vai trò của Lễ và việc thi hành lễ đối với việc hình thành đạo đứccủa con người, Khổng Tử đòi hỏi từ vua chúa đến người dân bình thường đều phải rènluyện và nghiêm khắc với mình trong việc thực thi lễ Khi Đinh Công hỏi: “Vua khiến
bề tôi, bề tôi thờ vua phải như thế nào? Khổng Tử nói: “Vua khiến bề tôi phải giữ lễ, bềtôi thờ vua phải trung” (Đinh Công Vấn: “quân sử thần dữ lễ, thần xử quân giữ trung)
Giống như Khổng Tử, Mạnh Tử là người cũng rất coi trọng lễ Như trong sáchMạnh tử có chép rằng, khi Nhiễm Hữu thay mặt thái tử đi đến nước Trâu, có vào hỏithăm Mạnh Tử Mạnh Tử khen và giải thích rằng: “Hỏi vậy há chẳng phải lắm sao? Bổnphận làm con đối với cha mẹ khi mãn phần cần phải hết tình mới được” Ngày xưa ôngTăng Tử có dạy rằng: “Khi cha mẹ còn sống, mình phải noi theo lễ mà phụng dưỡng,khi cha mẹ qua đời, mình phải noi theo lễ mà an tang, rồi đến những kỳ tế tự, mìnhcũng phải noi theo lễ mà cúng bái Như vậy mới đáng gọi là con có hiếu “Riêng việctang lễ ở triều đình vua chư hầu, ta chưa có dịp nghiên cứu Tuy vậy ta thường ngherằng: Cư tang 3 năm, mặc trang phục thô sơ bằng gai chẳng có may lại (nhưng tế tangcho mẹ thì y phục có lên lai), ăn cháo đạm bạc Trong ba triều đại từ Hạ đến Ân sangChu (tức trong khoảng gần hai ngàn năm) từ thiên tử cho đến bình dân, ai nấy đều theo
lễ ấy
Mạnh Tử khi đưa ra quan niệm của mình về Lễ, ông đã có sự cải biến cho phùhợp với xã hội đương thời Sách Mạnh tử có chép việc Thuần Vu Khôn, nhà biện thuyếtnước Tề hỏi Mạnh Tử rằng “Kẻ nam nữ chẳng được chuyền tay mà trao đồ cho nhau,
đó là lẽ phải chăng?” Mạnh Tử đáp: “Đó là lễ vậy” Hỏi - Như chị dâu mình đang chớivới dưới nước, mình có nên đưa tay ra mà cứu vớt chăng? - Đáp: “Chị dâu chới với sắpchết chìm, mà chẳng đưa tay ra tiếp cứu, người như thế quả là chó sói vậy rồi Này kẻnam người nữ chẳng được chuyền tay mà trao đồ cho nhau, đó là lẽ thường xưa Cònchị dâu chới với mà mình đưa tay ra tiếp cứu, đó là phép quyền biến vậy” Rõ ràng, đức
Lễ theo Mạnh Tử, phải gắn liền với Nhân, nếu giữ phép tắc, lễ giáo mà người namkhông