SKKN Cách dạy Văn bản nhật dụng trong trường THCS 1 PHẦN I MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài Môn Ngữ Văn là môn học có vị trí rất quan trọng trong chương trình Giáo dục phổ thông, môn học chủ lực góp phần giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm và quá trình tư duy của học sinh “Văn học là nhân học” – học văn là học cách làm người, học đạo làm người học văn giúp con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, quý trọng cuộc sống, quý trọng con người và van vật, biết hướng tới cái đẹp, cái cao cả, tình[.]
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Môn Ngữ Văn là môn học có vị trí rất quan trọng trong chương trình Giáo dục phổ thông, môn học chủ lực góp phần giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm và quá trình tư duy của học sinh “Văn học là nhân học” – học văn là học cách làm người, học đạo làm người học văn giúp con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, quý trọng cuộc sống, quý trọng con người và van vật, biết hướng tới cái đẹp, cái cao cả, tình cảm nhân văn như: lòng nhân ái, lẽ phải,
sự công bằng; biết căm ghét và chống lại cái á, cái xấu…hình thành những phẩm chất cao quý vô cùng cần thiết cho con người hiện đại Vậy mà thật nghịch lý khi môn Ngữ Văn lại đang rơi vào thân phần “Ông đồ”
Xuất phát từ thực tế đó, để hướng người học có thái độ tích cực hơn, xác định rõ trách nhiệm của bản thân hơn đối với cộng đồng Cùng với những đổi mới đồng bộ về giáo dục, chương trình Sách giáo khoa Ngữ Văn THCS đã được xây dựng và biên soạn lại từ năm 2002 theo tư tưởng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh theo tinh thần tích hợp Các văn bản được lựa chọn theo tiêu chí kiểu văn bản, tương ứng với kiểu văn bản là thể loại tác phẩm chứ không phải là
sự lựa chọn theo lịch sử văn học về nội dung Chương trình Sách giáo khoa như vậy tránh gây sự nhàm chán cho học sinh
Ngoài yêu cầu về tính tư tưởng, phù hợp tâm lý lứa tuổi bậc học, chương trình còn đảm bảo tính cập nhật cao những vấn đề đời sống đang diễn ra, có ảnh hưởng trực tiếp đến con người và cần phải có tác động tích cực từ chính con người, nhằm khích lệ thái độ sống và trách nhiệm ở học sinh Và như vậy văn bản nhật dụng (everyday text) được đưa vào chương trình như một sợi dây kéo gần khoảng cách sách vở và đời sống
Tuy nhiên, việc tiếp cận với Văn bản nhật dụng đối với học sinh THCS còn nhiều bỡ ngỡ trong khi đó đại bộ phận giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn chưa có cách hướng dẫn học sinh khai thác loại văn bản này một cách hợp lý và khoa học, thậm chí họ chưa thực sự tâm huyết, chưa chịu đầu tư, tìm tòi để xây dựng giờ dạy chất lượng, dẫn đến tình trạng sự tiếp nhận của học sinh chỉ dừng
lại ở mức “cưỡi ngựa xem hoa”, học sinh chưa thực sự hứng thú với Văn bản
nhật dụng
Xuất phát từ thực tế đó, bản thân tôi luôn trăn trở tìm ra cho mình hướng
đi hiệu quả trong giảng dạy môn Ngữ Văn nói chung, trong việc tổ chức cho học sinh biết cách khai thác tốt nhất những Văn bản nhật dụng nói riêng Và sau nhiều năm áp dụng trong quá trình lên lớp của mình ở trường THCS Yên Trường, tôi cũng đã đạt được một số kết quả như mong muốn khi dạy các Văn bản nhật dụng Vì lẽ đó, tôi mạnh dạn đưa ra đây một số kinh nghiệm nho nhỏ
của bản thân về “Cách dạy Văn bản nhật dụng trong trường THCS” để bạn bè
đồng nghiệp cùng tham khảo và góp ý
2 Mục đích nghiên cứu:
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu tài liệu, chương trình sách giáo khoa,
nghiên cứu về phương pháp bộ môn, phương pháp dạy văn bản nhật dụng cũng
Trang 2như tinh thần đổi mới phương pháp môn học để không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ của bản thân
- Về mặt thực tiễn: Dựa trên cơ sở vai trò và tầm quan trọng của văn bản
nhật dụng là tính thời sự, cập nhật với đời sống hiện tại và thực trạng giảng dạy của giáo viên, thực trạng học tập của học sinh trường THCS Yên Trường nói riêng (khi trực tiếp đứng lớp), học sinh các trường THCS trên địa bàn huyện Yên Định nói chung (khi đi làm công tác kiểm tra, dự giờ thăm lớp), tôi đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy của giáo viên, góp phần tạo hứng thú, nâng cao chất lượng học tập của học sinh Thông qua đó để bàn bạc và đưa ra hướng giải quyết một số khúc mắc về kiến thức cũng như phương pháp dạy học, giúp bản thân và đồng nghiệp có thêm kinh nghiệm để dạy tốt hơn phần văn bản nhật dụng, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình Ngữ văn THCS hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Là những văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THCS và những vấn đề liên quan
- Học sinh khối lớp 8, trường THCS Yên Trường
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát: Sử dụng các giác quan để thu thập dữ liệu, số liệu, bao gồm:
+ Quan sát toàn diện và quan sát chi tiết
+ Quan sát trong một thời điểm hay trong suốt một quá trình
+ Quan sát thăm dò hoặc đi sâu
+ Quan sát phát hiện hoặc kiểm nghiệm
+ Quan sát thông qua dự giờ đồng nghiệp
- Phương pháp so sánh: Phân loại, đối chiếu kết quả trước và sau khi áp dụng những kinh nghiệm vừa tìm tòi
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: bằng cách nêu tình huống có vấn đề thật rõ ràng, mạc lạc rồi đi phân tích thật kĩ càng nhưng ngắn gọn; sau đó đúc kết, tổng hợp lại vấn đề một cách khúc triết nhất
Bên cạnh đó là các phương pháp sử dụng trong quá trình dạy học:
- Phương pháp kích thích học sinh: Phát huy tối đa tính chủ động của học sinh bằng sử dụng hỗ trợ các kỹ thuật dạy học tích cực
- Phương pháp tích hợp: Tích hợp nhiều kỹ năng, tích hợp kiến thức liên môn, tích hợp giữa kiến thức hàn lâm và thực tiễn ứng dụng
- Phương pháp đàm thoại: Bằng hệ thống câu hỏi gợi mở ở nhiều mức độ khác nhau, giáo viên dẫn dắt để giúp học sinh tự khám phá và tự chiếm lĩnh kiến thức một cách tối ưu nhất
Ngoài ra tôi còn sử dụng nhiều phương pháp hỗ trợ khác như: đọc tài liệu, thống kê, thăm dò ý kiến học sinh, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, thảo luận nhóm bộn môn, tham khảo ý kiến đồng nghiệp có chuyên môn tốt và có bề dày kinh nghiệm, có nhiều thành công trong giảng dạy môn Ngữ văn
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận của sáng kiến:
Nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất nội dung của văn bản Đó là những văn bản được lựa chọn theo đề tài, gắn với những vấn đề rất thời sự và cập nhật với đời sống hiện đại như: môi trường, dân số, di tích văn hóa, danh lam thắng cảnh; các tệ nạn xã hội như: ma túy, thuốc lá, lao động trẻ em; các vấn đề tương lai như: bảo vệ môi trường, chống chiến tranh, bảo vệ quyền lợi bà mẹ và trẻ em, vấn đề hội nhập và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc…Mỗi văn bản nhật dụng như một trang nhật ký ghi chéo lại sự phátb triển
và tồn tại của bức tranh cuộc sống xã hội mang tính thời đại Văn bản nhật dụng
có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản để truyền tải nội dung
Hệ thống văn bản nhật dụng trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS cũng không nằm ngoài đặc điểm đó Có thể là một văn bản thuyết minh (Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử; Ca Huế trên sông Hương; Động Phong Nha); văn bản biểu cảm (Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, Mẹ tôi, Cổng trường mở ra); văn bản nghị luận (Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em) Hoặc cũng có thể tồn tại dưới dạng những bài viết mang tính phóng sự, những văn bản thuyết minh khoa học (Thông tin về ngày trái đất năm 2000, Ôn dịch, thuốc lá); hoặc lại mang nội dung câu chuyện như một văn bản tự sự (Cuộc chia tay của những con búp bê)…Có thể thấy rằng, những văn bản nhật dụng này góp phần đắc lực trong việc hình thành ý thức công dân đối với cộng đồng của mỗi con người, hướng con người sống có trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội, đánh thức những hành động thiết thực và tích cực ở học sinh Từ việc tiếp nhận kiến thức, các em sẽ có nhận thức và hành động đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của lịch sử phát triển, đáp ứng mục tiêu đề
xướng của UNESCO đối với nền giáo dục hiện đại là: “Học để biết, học để làm
việc, học để chung sống và học để phát triển bản thân” Văn bản nhật dụng
giải quyết một phần không nhỏ yêu cầu đó Mỗi tác phẩm đều đặt ra những vấn
đề đủ để học sinh cảm nhận được cuộc sống xung quanh đã, đang và sẽ tồn tại, diễn ra như thế nào? Tương lai loài người sẽ đi đến đâu? Tôi thiết nghĩ giáo viên cần phải thức tỉnh được điều đó ở học sinh – tức phải truyền tải được đúng tinh thần và mục tiêu của văn bản nhật dụng
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thẳng thắn, chúng ta thấy rằng việc dạy văn bản nhật dụng của hầu hết giáo viên ngữ văn THCS hiện nay phần lớn là chưa hiệu quả Bởi đa số thầy cô chưa có sự đầu tư vào bài giảng, chưa tìm ra cách dạy hiệu quả nhất trong việc giúp học sinh khai thác các văn bản nhật dụng Thậm chí nhiều thầy cô còn xem nhẹ kiểu loại văn bản này, cho rằng không có tính văn chương, thiếu tính hình tượng, không hấp dẫn học sinh….nên thấy không cần phải mất nhiều thời gian và trí tuệ Hơn nữa, từ trước đến nay, trong hệ thống lý luận dạy học, các nhà nghiên cứu giáo dục, các thầy cô giáo chưa từng đặt vấn đề phương pháp dạy học văn bản nhật dụng thành một nội dung nghiên cứu riêng lẻ như các kiểu loại văn bản khác Cũng chưa có một tài
Trang 4liệu chính thống nào dành cho cách khai thác, tiếp cận và truyền đạt văn bản nhật dụng
Từ những cơ sở trên, bản thân tôi đã mạnh dạn tìm ra một hướng đi cho mình mà bản thân cảm thấy phù hợp với bản thân, đạt hiệu quả trong quá trình dạy học văn bản nhật dụng Tôi cũng thấy những điều mình trăn trở là cần thiết, việc tìm ra hướng đi khi dạy văn bản nhật dụng cũng mang tính lâu dài, gắn với nghiệp giảng dạy và trách nhiệm của mỗi thầy cô dạy Văn Và tôi bắt đầu có được những kết quả khả quan, đôi khi ngoài sức mong đợi sau mỗi giờ lên lớp của mình Từng bước nâng cao hiệu quả trong giảng dạy văn bản nhật dụng nói riêng, đối với môn Ngữ văn nói chung, góp phần khơi gợi lòng say mê đích thực của học sinh một cách tự nhiên nhất như chính sự vốn có của môn học này
2 Thực trạng của việc giảng dạy văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THCS:
a Về phía học sinh:
Hiện nay, Văn bản nhật dụng tuy không còn mới với giáo viên và học sinh Song học sinh vẫn không mấy thiết tha khi tiếp cận với kiểu loại văn bản này Năm học 2015 -2016, bản thân tôi được phân công giảng dạy Ngữ văn hai lớp: 8A và 8B, trường THCS yên Trường, đa số các em ngoan, có ý thức học tập tốt Song bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại ảnh hưởng không nhỏ đến việc học của các em nói chung như: còn nhiều học sinh cá biệt do địa bàn dân cư phức tạp (Yên Trường là trung tâm thương mại của cả huyện, sự phát triển về kinh tế kéo theo xuất hiện vô vàn các loại hình dịch vụ tiêu cực lôi kéo lớp trẻ tham gia), nhiều phụ huynh đi làm ăn xa, các em ở với ông bà nên việc giáo dục, uốn nắn có nhiều hạn chế Bên cạnh đó còn có những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môn học như: phần lớn học sinh xem nhẹ và không thích học môn Văn, học sinh khá giỏi thì đầu tư vào các môn tự nhiên và các môn “chìa khóa tương lai”, thậm chí ngay cả những học sinh có năng khiếu văn chương thực sự vẫn lựa chọn các môn được cho là “thời thượng” kể cả các môn học đó quá sức với các em Phần lớn học sinh lại quan niệm văn bản nhật dụng khô khan, mang tính chất như một bản tin, đọc để biết chứ đầu tư nhiều thời gian vào đó chỉ vô bổ…
b Về phía giáo viên:
Qua dự giờ đồng nghiệp tại trường cũng như một số đồng nghiệp trường khác trong huyện, tôi nhận thấy phần lớn các thầy cô coi văn bản nhật dụng là một thể loại như truyện, ký…nên hướng học sinh vào khai thác cốt truyện, nhân vật, tình huống, các yếu tố nghệ thuật đi kèm…mà bỏ qua đặc điểm chính của văn bản nhật dụng là vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản Có giáo viên liên hệ được với thực tiễn đời sống thì lại khiên cưỡng, gò ép do vốn kiến thức hạn chế, thiếu kỹ năng tích hợp khiến học sinh khó tiếp nhận Nhiều thầy cô còn cho rằng văn bản nhật dụng thiếu tính văn chương nên không có hứng thú đầu tư và lên lớp theo kiểu “hết tiết thì hết bài” Đặc biệt thầy cô chưa vận dụng linh hoạt phương pháp bộ môn cũng như các kỹ thuật dạy học tích cực, chưa phát huy
Trang 5được vai trò chủ đạo của người học, chưa kích thích được tính chủ động của người học nên học sinh còn thiếu tập trung, không hứng thú
Bên cạnh đó, việc sử dụng, phối kết hợp các phương tiện và đồ dùng dạy học chưa hợp lý và thành thạo, có tiết dạy thì nghèo nàn, gần như dạy chay; lại
có tiết dạy quá ôm đồm trong sử dụng phương tiện và đồ dùng Điều đó làm cho học sinh không có một tâm thế tiếp nhận ổn định khi đón nhận các tiết học văn bản nhật dụng
c Nguyên nhân của thực trạng:
Ngoài những hạn chế chủ quan từ phía học sinh và giáo viên thì phải kể đến một số nguyên nhân khách quan tác động trực tiếp đến chất lượng môn học
và kiểu loại văn bản nhật dụng trong chương trình:
- Thứ nhất: Chưa có một tài liệu nào đưa ra định hướng cụ thể về phương pháp cho việc giảng dạy văn bản nhật dụng
- Thứ hai: Đa số các nhà trường THCS còn thiếu thốn về trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho dạy và học
- Thứ ba: Kinh phí cho tham quan thực tế và tổ chức các hoạt động ngoại khóa, sân khấu hóa…để biến kiến thức hàn lâm thành kỹ năng thực thụ cho học sinh còn vô cùng eo hẹp, thậm chí không thể có để thực hiện được
- Thứ tư: Có quá nhiều bất cập cũng như áp lực về thời gian, công việc cũng như các chế độ chính sách dành cho nhà giáo (thầy cô có hàng trăm gánh
lo mà gánh lo nặng nhất là “cơm áo”, nhất là giáo viên diện hợp đồng) Tất cả đều ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý và điều kiện công tác, khiến tâm huyết với nghề của thầy cô cũng bị chùng xuống, để rồi rất nhiều những bài giảng văn “có lửa” đang dần lụi tàn Một số thầy cô vẫn say nghề thì bị xã hội “quay lưng” lại với môn Văn
Bản thân tôi vì nhận thức được điều đó, và cũng không muốn học sinh của mình không mấy tha thiết với môn Văn, nên tôi đã cố gắng đầu tư rất nhiều cho chuyên môn cũng như dành nhiều thời gian cho việc xây dựng bài dạy đối với các văn bản nhật dụng, phần kiến thức được xem là mới trong chương trình Tôi nghĩ mình cũng đã có được thành công nào đó trong dạy văn bản nhật dụng như những thành công tôi đã có được trong giảng dạy Văn của mình.Vì vậy mà sau khi tổng kết năm học 2013- 2014, tôi đã làm công tác khảo sát đối với học sinh hai lớp 6A và 6B, là hai lớp tôi trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn bằng một câu
hỏi trắc nghiệm rất đơn giản: “Em có thích học các văn bản nhật dụng trong
chương trình Ngữ văn 6 không?” với hai mức độ để học sinh lựa chọn:
A Có B không Thật bất ngờ khi kết quả tôi thu được như sau:
chọn “Có” Số HS chọn “Không”
không có lựa chọn
Ghi chú
Trang 6Sau khảo sát này, tôi vô cùng bất ngờ và bắt đầu tư duy lại toàn bộ quá trình làm việc của mình Tôi bắt đầu nhận ra những nguyên nhân khách quan và những hạn chế của bản thân từ đó Tôi đã khắt khe với mình hơn, thường xuyên
dự giờ đồng nghiệp hơn và trăn trở để tìm ra hướng đi tốt nhất khi dạy văn bản nhật dụng Bởi ngay từ đầu tôi đã nhận thức được rằng, nếu giáo viên giúp học sinh tiếp cận đúng hướng những văn bản nhật dụng, thì có thể hình thành ở các
em rất nhiều kỹ năng sống cần thiết, kéo gần hơn khoảng cách sách vở với đời sống để các em thực sự trở thành những con người năng động, thích nghi được với mọi hoàn cảnh sống và có những tác động tích cực nhất tới sự phát triển của
xã hội, ngày càng nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bản thân trong nhịp sống của “thế giới phẳng” Vậy nên tôi đã quyết tâm tìm tòi và đầu tư một cách nghiêm túc nhất đối với các văn bản nhật dụng, từng bước vận dụng vào bài giảng có kiểm nghiệm, có so sánh và rút kinh nghiệm…Hai năm học gần đây, tôi đã bắt đầu nhìn thấy thành công của mình, tìm ra được hướng đi riêng cho mình một cách khoa học hơn
3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy văn bản nhật dụng ở trường THCS:
a Công tác chuẩn bị:
Chúng ta đều biết rằng, bất kỳ một công việc gì dù lớn hay bé, dù đơn giản hay phức tạp, muốn thành công đều phải chú trọng ngay từ khâu chuẩn bị
Có chuẩn bị tốt mới thực thi tốt được Dạy học cũng vậy, nhất là dạy Văn, mà lại
là văn bản nhật dụng Sự chuẩn bị của cả thầy và trò quyết định rất lớn đến chất lượng giờ học Một giáo viên dù giỏi đến mấy thì khi dạy một bài cũng cần có
sự đầu tư Bởi nội dung kiến thức của một bài không chỉ là những con chữ sách giáo khoa mà còn phụ thuộc vào phương pháp, hướng đi, các phương tiện đi kèm, hệ thống câu hỏi khoa học, hợp lý, kiến thức tham khảo của giáo viên…và đặc biệt là sự chuẩn bị bài trước ở nhà của học sinh Muốn học sinh chuẩn bị bài
có chất lượng trong điều kiện môn văn đang mất dần chỗ đứng và không còn dành được sự ưu ái của các em, thì cái “uy” và cái “tâm” của người thầy phải luôn được phát huy tới mức tối đa trong cách dẫn dắt, khích lệ học sinh qua từng giờ học và sau mỗi tiết học, nhất là phải tận tâm tận lực hướng dẫn học sinh phần hướng dẫn học, làm bài tập và chuẩn bị bài mới ở nhà
Và để công tác chuẩn bị cũng như tất cả những hoạt động của thầy cô được truyền tải tới học sinh một cách tự nhiên, không khiên cưỡng, đòi hỏi thầy
cô phải không ngừng có ý thức bổ sung, nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp Nhất là đối với việc dạy Văn bản nhật dụng thì việc cập nhật kiến thức, thông tin nhanh, đầy đủ và chính xác càng cần thiết hơn bao giờ hết
Qua đây, tôi cũng muốn nói tới tình yêu và lòng say nghề của giáo viên Ngữ văn hiện nay Hầu như ngày càng thấy ít đi những thầy cô giáo dạy văn say với những cuốn sách “gối đầu giường”, những cuốn tài liệu tích lũy phần kiến thức lý thú, bổ ích; những buổi đọc sách đến quên thời gian…dù đâu đó vẫn còn nhưng ít lắm và hiếm lắm Bởi vậy, tôi muốn bày tỏ mong muốn: mỗi giáo viên Ngữ văn hãy dành nhiều thời gian đọc sách, bởi đọc và tích lũy kiến thức là
Trang 7không bao giờ đủ để có thể chuẩn bị cho những bài dạy ấn tượng trong lòng học trò
b Có cách khởi động giờ học thu hút, độc đáo, sáng tạo gây hứng thú cho học sinh:
Thực ra, khởi động và dẫn dắt vào bài mới hấp dẫn là cần đối với tất cả các giờ dạy Văn Song riêng với văn bản nhật dụng thì càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Nó giúp học sinh có sự chú ý ngay từ đầu đối với những văn bản vốn dĩ không nặng về tính văn chương, trữ tình này
Vào bài là khâu rất nhỏ trong một tiết dạy, lại không nằm trong trọng tâm bài dạy, nhưng lại ở vào vị trí mở đầu, có tác dụng đặt nền móng và gắn bó với các hoạt động còn lại Nó gây hứng thú và kích thích ham muốn chinh phục và khám phá tri thức bài học, tạo tâm thế hào hứng, đánh thức và bồi dưỡng tinh thần tự giác học tập ở học sinh Không phải ngẫu nhiên mà Lê-nin từng nói:
“Không có ham muốn của con người, thì trước nay chưa hề có và cũng không thể có sự tìm tòi của con người đối với chân lý” Dẫn vào bài là khúc
dạo đầu, là “món khai vị” nên càng “ngọt ngào” bao nhiêu, càng hứa hẹn sự thành công của bài học bấy nhiêu
Tuy nhiên lời dẫn cần súc tích, khái quát, lời gọn, ý sâu, lấy ít dẫn nhiều, nói ít gợi nhiều, tránh dài dòng (trong khoảng 2 phút) Về ngôn ngữ phải trong sáng, tinh tế, giàu hình ảnh Còn lại cách “diễn” của thầy cô đòi hỏi cũng phải linh hoạt, sáng tạo và lôi cuốn học sinh bằng nhiều kỹ năng
Ví dụ:
Với văn bản “Động Phong Nha” trong chương trình Ngữ văn 6, đối
tượng học sinh lớp 6 các em còn đang rất hồn nhiên, trong sáng, chúng ta có thể dẫn dắt vào bài học bằng nhiều ngôn từ mang không khí cổ tích phù hợp với cảnh quan hang động, nhằm kích thích trí tò mò và sự hứng thú của học sinh
như: Hẳn rằng tất cả các bạn trong lớp ta, không ai lại chưa từng một lần đọc
và nghe kể những câu chuyện cổ tích thần tiên vô cùng thú vị và hấp dẫn đúng không nào? Vậy lúc này đây các em có muốn được dạo quanh chốn bồng lai tiên cảnh như trong mỗi câu chuyện cổ tích diệu kỳ đó không? Bài học hôm nay cô sẽ cùng các em đi khám phá không gian thơ mộng đó, nó hiện hữu ngay trong cuộc sống thực của chúng ta thôi, ngay trên dải đất hình chữ S thân yêu này!
Hay với văn bản “Thông tin về ngày Trái đất năm 2000” trong chương
trình Ngữ văn 8 Đây là văn bản mang phong cách báo chí, nặng về tính thông tin tuyên truyền Cụ thể là nêu lên thực trạng, nguyên nhân và một số giải pháp
về vấn đề môi trường sống của con người hiện nay Qua đó thể hiện một thông điệp, tác động đến ý thức mỗi người trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường chung Vì vậy cách vào bài cũng cần sử dụng ngôn ngữ kêu gọi, thúc giục hành động, nhằm lôi cuốn và đánh thức trách nhiệm của học sinh ngay từ đầu giờ học:
Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam ta kết thúc với ba triệu người chết, hai triệu người bị thương, ba trăm nghìn người mất tích, hàng trăm nghìn người nhiễm chất độc da cam, nhà cửa, làng mạc bị tàn phá nặng nề…đó là
Trang 8tội ác trời không dung, đất không tha của chính quyền và quân đội Hoa Kỳ Vậy đã bao giờ chúng ta tự hỏi, bản thân mình đã sống và hành động đúng với trách nhiệm một công dân thực thụ chưa? Chúng ta từng gây ra tội ác gì không? Chúng ta luôn lớn tiếng kết tội người khác, mà đã bao giờ chịu thừa nhận mình còn có những việc làm, những hành động tưởng rằng rất nhỏ, nhưng lại đang vô tình gây ra tội ác dai dẳng và hệ lụy vượt thời gian? Bài học hôm một lần nữa các em sẽ nhận ra những sai lầm của con người hiện đại, đồng thời thức tỉnh trách nhiệm của mỗi người đối với môi trường sống của nhân loại qua văn bản “Thông tin về ngày Trái đất năm 2000”.
c Tích hợp liên môn:
Bài dạy đối với một văn bản không đơn thuần chỉ là một bản đề cương cung cấp kiến thức cho học sinh mà phải là một bản thiết kế các hoạt động, thao tác giúp học sinh biết tự chinh phục và khám phá tri thức, phát triển năng lực cá nhân và hoàn thiện nhân cách người học theo mục tiêu môn học
Từ trước đến nay, khi nói đến tính chất Văn-Sử-Triết bất phân là ta nói đến hiện tượng đặc thù của văn học trung đại, bởi nó liên quan đến quy luật văn hóa và quan niệm về văn chương lễ nghĩa của thời đó Nó là sản phẩm của một trình độ tư duy nghệ thuật có sự gắn kết chặt chẽ giữa tư duy lý luận và tư duy hình tượng Văn học gần như đồng hóa với văn hóa, với học thuật nói chung
Chữ “Văn” trong luận đề “Tiên học lễ, hậu học văn” có nghĩa rộng như thế:
“Văn dĩ tải đạo”, “Văn dĩ quán đạo”, “Văn dĩ minh đạo”, “Thi ngôn chí”…như Nguyễn Đình Chiểu từng viết:
“Văn chương ai cũng muốn nghe
Phun châu, nhả ngọc báu khoe tinh thần”
Ra đời trong cái nôi của xã hội hiện đại, sự xuất hiện của các văn bản nhật dụng vừa mang tính đổi mới so với chương trình cũ, vừa cuốn hút học sinh yêu
và thích viết văn, khám phá văn chương hơn nếu giáo viên có cách truyền tải đúng tinh thần Vì sao vậy? Rõ ràng những văn bản nhật dụng chứa đựng nội dung vô cùng gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống của con người và cộng đồng
xã hội hiện đại, hướng con người quan tâm đến những vấn đề toàn cầu như: môi trường, dân số, di tích văn hóa, danh lam thắng cảnh, các tệ nạn xã hội, vấn đề hội nhập và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…Vì lẽ đó mà văn bản nhật dụng tự nhiên thôi chứa đựng trong nó tính chất đặc trưng của văn học trung đại: Văn-Sử-Triết bất phân Tính chất này thể hiện rất rõ và tồn tại như một “vốn lẽ dĩ ngẫu” Văn bản nhật dụng khó có thể chỉ ra rành rọt đâu là hình tượng văn học, đâu là bức tranh đời sống? Có chăng là ở những đề tài có tính chất rất thời sự và cập nhật với cuộc sống hiện đại mà văn bản đề cập tới.Vì vậy tích hợp liên môn càng không thể thiếu khi dạy các văn bản nhật dụng
Tích hợp liên môn xuất phát từ yêu cầu phát triển năng lực toàn diện của người học, giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn Văn bản nhật dụng chứa đựng trong nó kiến thức tổng hợp, từ lĩnh vực đạo đức, lối sống cho đến giáo dục pháp luật, chủ quyền quốc gia, môi trường, dân số…đó cũng chính là kiến thức liên quan đến nhiều môn học cần được lồng
Trang 9ghép và cụ thể hóa trong các bài dạy Và giáo viên cần xác định rõ các đơn vị kiến thức đó thuộc bộ môn nào? Cách tích hợp, lồng ghép ra sao để tránh trùng lắp hay dạy thay môn học khác ngoài mong muốn Tích hợp liên môn là đề cập đến kiến thức nhiều môn học trong một bài dạy nhưng không gượng ép, khiên cưỡng, rời rạc mà phải thống nhất và thật tự nhiên, logic, nhằm biến giờ giảng văn thành giờ dạy kỹ năng đọc hiểu thực chất cho học sinh, giúp các em có năng lực đọc hiểu bất kỳ văn bản nào Giáo viên có thể thông qua hệ thống câu hỏi gợi tìm, những câu chuyện có liên quan, những bài viết mang tính thời sự, những câu thơ, châm ngôn, danh ngôn…miễn vừa truyền tải nội dung bài học, vừa mở rộng, khắc sâu kiến thức và hình thành được kỹ năng cho học sinh
Giáo viên cũng cần lưu ý, khi xây dựng hệ thống câu hỏi tích hợp kiến thức liên môn, thì nội dung câu hỏi phải kích thích được ham muốn khám phá của học sinh Khi câu hỏi đưa ra, học sinh phải chủ động và tích cực suy nghĩ, tìm tòi và có hứng thú khám phá nội dung bài học Muốn vậy, nội dung câu hỏi phải thiết thực, gắn liền với bài học và đủ để học sinh phát huy tối đa khả năng
tư duy cũng như nhu cầu học tập của bản thân
Ví dụ:
Khi dạy bài “Ca Huế trên sông Hương” trong chương trình Ngữ văn 8,
giáo viên có thể có những câu hỏi tích hợp mang tính gợi mở như: Em có cảm
nhận như thế nào về không gian của ca Huế? Từ đó giáo viên dẫn dắt đến
không gian văn hóa của ca Huế: Từ dáng mảnh mai, hiền dịu của người con gái Huế đến không gian vừa như thực lại vừa như mơ của sóng nước Hương giang mỗi khi điệu hò mái Nhì, mái Đẩy được cất lên, hoặc lắng đọng khó phai trong một điệu Lý…tất cả rất đỗi mộc mạc nhưng đầy gợi cảm, lôi cuốn, lay động lòng người, là biểu tượng đẹp của đất và người cố đô Tiếp đến giáo viên có thể
đặt câu hỏi cho học sinh: Em có biết ca Huế còn được diễn ra trong không
gian như thế nào nữa không? Để giúp học sinh hiểu thêm, ca Huế còn có ca
Salon hay còn gọi là ca Huế thính phòng Nhưng thực tế ca Huế Salon đang rất thiếu tri kỉ và chỗ đứng của nó rất chật hẹp Vậy nên “ca Huế trên sông Hương”
đã trở thành món “đặc sản” chiếm được cảm tình khán, thính giả gần xa Giáo viên cũng có thể đặt thêm câu hỏi: Hãy kể tên một số làn điệu đặc trưng của
các vùng miền trên đất nước ta mà em biết? Với câu hỏi này, học sinh sẽ kể tự
do theo hiểu biết của mình, nhưng nhất thiết giáo viên phải bổ sung làn điệu dân
ca địa phương Thanh Hóa (nếu học sinh không đề cập đến) và nhấn mạnh, mở rộng, khắc sâu một chút về làn điệu quen thuộc của quê hương Có thể cho học sinh thể hiện bằng cách khích lệ các em biểu diễn trước lớp Như vậy là chúng ta
đã có thể tích hợp được với kiến thức nhiều môn học như: Âm nhạc, Địa lý, Văn hóa… nhằm hình thành ở học sinh những kiến thức cần thiết, đặc biệt là kiến thức về văn hóa, âm nhạc của Huế nói riêng; một số đặc trưng của nền âm nhạc truyền thống và văn hóa Việt nam nói chung Qua đó thể hiện lòng tự tôn, tự hào dân tộc và tình yêu quê hương xứ sở
d Tổ chức hoạt động nhóm học tập:
Trang 10Ngoài việc giáo viên cần tổ chức linh hoạt giờ dạy bằng những phương pháp phù hợp, thiết thực, có hiệu quả ra, thì kỹ năng vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực như; khăn phủ bàn, học theo góc, động não, kỹ thuật mảnh ghép, sơ
đồ KWL…thì kỹ năng tổ chức hoạt động nhóm học tập cho học sinh là vô cùng cần thiết khi dạy văn bản nhật dụng Đây là hoạt động đòi hỏi sự đầu tư và chuẩn bị nghiêm túc từ phía giáo viên và học sinh Song hiệu quả đem lại sau giờ học lại vô cùng lớn và chiếm ưu thế rất rõ Tổ chức hoạt động nhóm giúp học sinh hào hứng tham gia Các em thể hiện tinh thần tự giác, tính hợp tác cao trong học tập Học sinh biết hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau khám phá, cùng nhau tìm ra nội dung kiến thưc theo yêu cầu của thầy cô và bài học Hơn nữa trong một khoảng thời gian nhất định, nhiều đơn vị kiến thức sẽ được hoàn thành và được thể hiện thông qua kết quả tổng hợp của mỗi nhóm
Hoạt động nhóm giúp học sinh năng động và chủ động hơn, các em biết
tự chủ để phát huy tính độc lập sáng tạo, không phụ thuộc vào người thầy Từ đó
sẽ tự nhiên hình thành rất nhiều phẩm chất và kỹ năng cần có của con người hiện đại
Tuy nhiên, để tổ chức nhóm học tập thành công thì giáo viên phải có kỹ năng tổ chức và điều hành vững vàng các hoạt động của học sinh, biết điều chỉnh kịp thời những biểu hiện chưa phù hợp ở học sinh trong quá trình hoạt động nhóm Một yêu cầu quan trọng nữa là cách lựa chọn đơn vị kiến thức, nội dung kiến thức để tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm Nội dung câu hỏi đưa ra cho mỗi nhóm phải đảm bảo tính liên kết, hệ thống theo kiểu mỗi nhóm
là một mảnh ghép, một góc học tập, một đơn vị kiến thức thành phần để hoàn thiện nội dung bài học chung nhất, khái quát nhất Thường thì hoạt động nhóm phù hợp với phần thảo luận, phần bài tập, phần đơn vị kiến thức chốt nội dung bài học cũng có khi tất cả các nhóm cùng tìm hiểu chung một đơn vị kiến thức Qua đó có thể nhận ra các hướng khai thác đa dạng, nhiều khía cạnh từ phía học sinh, từ đó giáo viên có thể giúp học sinh tổng hợp được nội dung bài học hoàn chỉnh nhất, khái quát nhất
Ví dụ: Trong phần củng cố bài học của văn bản “Thông tin về ngày Trái đất năm 2000”, tôi đã đưa ra cho học sinh của cả hai lớp 8A và 8B cùng một
câu hỏi thảo luận nhóm là: “Em đã và sẽ có những hành động thiết thực nào
để góp phần bảo vệ môi trường sống xung quanh?” Từ nội dung câu hỏi mở
như vậy, mỗi nhóm học sinh sẽ đưa ra được những việc làm thiết thực của bản thân, đồng thời tư duy và lựa chọn ra được những việc sẽ làm để góp phần cải thiện môi trường sống xung quanh một cách tích cực nhất Thông qua đó, giáo viên có thể đưa ra những nhận xét khích lệ những suy nghĩ, những việc làm đúng đắn của học sinh, đồng thời định hướng thêm cho học sinh những hành động, những việc làm bổ ích nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của học sinh, đánh thức những hành động tích cực để các em góp phần làm cho môi trường sống ngày càng trở nên thân thiện hơn với con người
e Kết hợp với các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: