BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1 Lời giới thiệu M Gorki có nói “Văn học là nhân học” Văn học là tiếng nói, là tình cảm, suy nghĩ, ước vọng của con người Văn học có vai trò quan trọng t[.]
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
M.Gorki có nói “Văn học là nhân học”. Văn học là tiếng nói, là tình
cảm, suy nghĩ, ước vọng của con người. Văn học có vai trò quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của mỗi chúng ta.
Môn Ngữ văn ra đời với mục đích tốt đẹp và cao cả là góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho họ
ra đời hoặc tiếp tục cho họ học lên bậc cao hơn. Đó là những người có ý thức
tự tu dưỡng, biết yêu thương, quý trọng gia đình, bạn bè; có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm nhận các giá trị Chân - Thiện - Mĩ trong nghệ thuật, có năng lực thực hành và sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy, giao tiếp. Để đạt được điều đó, môn học này cần tăng cường tính thực hành giảm lý thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức trong sách vở với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống.
Vì vậy các văn bản nhật dụng với nội dung "gần gũi, bức thiết với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại" được đưa vào chương trình Ngữ văn THCS nhằm hướng người đọc đến những vấn đề thời sự nóng hổi mà hàng ngày mỗi cá nhân, cộng đồng đều rất quan tâm như: môi trường, giáo dục, dân số, quyền trẻ em
Hiện nay, học sinh có xu hướng xem nhẹ học những môn xã hội nói
chung, môn Ngữ văn nói riêng. Cũng chính vì thế mà chất lượng học văn có chiều hướng giảm sút. Học sinh không say mê, yêu thích môn học mà say mê vào những môn mang xu hướng thời cuộc như Tiếng Anh, Tin học Chính vì thế lại càng đòi hỏi người giáo viên đặc biệt là giáo viên Ngữ văn phải tạo được giờ học thu hút học sinh, làm cho học sinh mong chờ đến giờ học. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết với nghề nghiệp, tìm ra được những thuận lợi - khó khăn trong giờ học để kịp thời uốn nắn, rút kinh nghiệm cho mình.
Chương trình SGK THCS đưa vào học một số văn bản mới, đó là văn bản
nhật dụng. Văn bản này chiếm số luợng không nhiều (chỉ chiếm 10% trong chương trình SGK THCS, cụ thể là 12 bài), nhưng trước đó lí luận dạy học chưa từng đặt vấn đề PPDH văn bản nhật dụng. Cho nên giờ giảng dạy và học tập văn bản nhật dụng gặp không ít khó khăn. Nhiều ý kiến cho rằng “chất văn” trong văn bản nhật dụng không nhiều, nếu không chú ý dễ biến giờ Ngữ
Trang 2văn thành bài thuyết minh về một vấn đề lịch sử, sinh học hay pháp luật, dẫn đến hiệu quả các tiết dạy học các loại văn bản này chưa cao.
Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy chương trình Ngữ văn, tôi nhận thấy mình và các đồng nghiệp còn bộc lộ rất nhiều hạn chế cả về phương pháp và kiến thức, nhất là phương pháp dạy các văn bản nhật dụng.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Cách tiếp cận văn bản nhật dụng trong trường THCS” để tìm ra phương pháp giảng
dạy phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy văn bản nhật dụng cũng như để học sinh yêu thích giờ học văn.
2 Tên sáng kiến: Cách tiếp cận văn bản nhật dụng trong trường THCS.
và bảo vệ Tổ quốc.”
Môn Ngữ văn trang bị cho học sinh những tri thức khái quát cơ bản, hiện đại
và phổ thông đồng thời rèn luyện cho học sinh những kĩ năng sống cơ bản Đây là môn học có lợi thế trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện con người nói trên, nhất là giáo dục nhân văn, bồi dưỡng các năng lực thẩm
mĩ, làm giàu cho tâm hồn học sinh. Văn bản nhật dụng trong chương trình
Trang 3Ngữ văn THCS mang nội dung “gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại”, hướng người học tới những vấn đề thời sự hằng ngày mà mỗi cá nhân, cộng đồng đều quan tâm như môi trường, dân số, sức khoẻ cộng đồng, quyền trẻ em Do đó những văn bản này giúp cho người dạy dễ dàng đạt được mục tiêu: tăng tính thực hành, giảm lý thuyết, gắn bài học với thực tiễn.
Xuất phát từ thực tế đó tôi muốn tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn để trang bị cho mình phương pháp dạy học có hiệu quả những văn bản nhật dụng.
7.1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học cũng nhiều bất cập và khó khăn khiến hiệu quả giảng dạy của một số giáo viên chưa cao Việc trang bị cho giáo viên những tri thức, kĩ năng về đổi mới phương pháp dạy học chưa đáp ứng với những yêu cầu của thực tiễn dạy học bộ môn. Một
số giáo viên chưa hiểu thấu đáo các cơ sở khoa học của phương pháp, nội dung, bản chất của phương pháp dạy học tích cực…Vì vậy, một số giáo viên vẫn duy trì lối dạy học truyền thụ tri thức một chiều hoặc thiên về giảng giải
và minh họa kiến thức, coi nhẹ rèn luyện kĩ năng, coi trọng tri thức tái hiện
mà xem nhẹ tri thức sáng tạo, không giúp học sinh có được các cơ hội phát huy vai trò chủ thể, năng lực nhận thức trong quá trình học.
7.2 THỰC TRẠNG VIỆC GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN
7.2.1 Thực trạng chung
Thực tế trong những năm gần đây cho thấy số học sinh yêu thích môn Văn không nhiều. Không ít ý kiến cho rằng sở dĩ có tình trạng này là do học sinh bị lôi cuốn vào thời đại của sự bùng nổ thông tin nên các em ít có độ lắng để cảm thụ, rung cảm trước một ý văn, lời thơ. Qua thực tế, tôi thấy đa số các
em rất ngại học văn cho dù các em có nhận thức được vai trò hỗ trợ to lớn và thiết thực của môn Ngữ văn trong học tập cũng như trong đời sống.
Qua thực tế giảng dạy Ngữ văn nhất là phần văn bản nhật dụng, qua dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp, tôi rút ra một số tồn tại sau:
* Về phía giáo viên:
+ GV coi các văn bản này là một thể loại cụ thể giống như truyện, kí + Giáo viên thường chú ý khai thác và bình giá trên nhiều phương diện của sáng tạo nghệ thuật như: cốt truyện, nhân vật, cách kể mà chưa chú trọng đến vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản gần gũi với học sinh.
+ Quá nhấn mạnh yêu cầu gắn kết tri thức trong văn bản với đời sống
mà giáo viên chú ý nhiều tới liên hệ thực tế, dẫn đến việc khai thác kiến thức
cơ bản chưa đầy đủ.
Trang 4+ GV chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cũng như các biện pháp tổ chức dạy học nhằm gây hứng thú cho HS.
+ Về phương tiện dạy học mới chỉ dừng lại ở việc dùng bảng phụ, tranh ảnh minh họa trong khi đó có một số văn bản nếu học sinh được xem những đoạn băng ghi hình sẽ sinh động hơn rất nhiều. Ví dụ như văn bản “Động Phong Nha”, “Ca Huế trên sông Hương” Nhưng hầu hết GV không chú ý đến vấn đề này.
+ GV còn có tâm lý phân vân không biết có nên sử dụng phương pháp giảng bình khi dạy những văn bản này không và nếu có thì nên sử dụng ở mức độ như thế nào?
* Đánh giá thực trạng
Nguyên nhân của thực trạng trên là:
Văn bản nhật dụng mới được đưa vào giảng dạy, số lượng văn bản
không nhiều nên GV còn thấy rất mới mẻ, ít có kinh nghiệm, lúng túng về phương pháp.
GV chưa có kĩ năng sử dụng máy chiếu nên việc mở rộng kiến thức cho các em bằng hình ảnh rất hạn chế.
Chưa xác định đúng mục tiêu đặc thù của bài học văn bản nhật dụng.
Chưa có ý thức sưu tầm tư liệu có liên quan đến văn bản như tranh ảnh, văn thơ để bổ sung cho bài học thêm phong phú.
* Về phía học sinh:
Các em quen cách học thụ động, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại những gì giáo viên giảng, chưa chủ động tìm hiểu, khám phá bài học. Khi chuẩn bị bài học các em cũng lệ thuộc vào tài liệu, sách giải dẫn đến hạn chế năng lực chủ động, sáng tạo trong học Ngữ văn. Nắm, hiểu các văn bản chưa sâu, khả năng diễn đạt yếu và chưa thật sự yêu thích môn Ngữ văn.
7.2.2 Thực trạng riêng ở trường THCS Phú Đa
Về phía giáo viên: Đôi khi giáo viên cũng giảng dạy theo phương pháp
truyền thống, đi theo lối mòn cũ, truyền thụ kiến thức cho học sinh theo hướng một chiều, nặng về thuyết giảng, chưa gắn nội dung bài giảng với thực tế cuộc sống, rèn kỹ năng làm văn cho học sinh chưa nhiều. Nhiều khi giáo viên cũng thụ động trong việc xác định mục tiêu bài học, xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng tối thiểu dẫn đến việc dạy học chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Trang 5 Về phía học sinh: Học sinh trường THCS Phú Đa đầu vào chất lượng
chưa cao. Các em chưa hiểu rõ vị trí, tầm quan trọng của môn Ngữ văn trong nhà trường, thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, chưa thực sự yêu thích văn học.
Qua việc học tập, nghiên cứu tại các lớp bồi dưỡng giáo viên, qua thực tế giảng dạy, qua thăm lớp dự giờ và trao đổi ở tổ chuyên môn, tôi xin đưa ra một số ý kiến đóng góp một phần nhỏ trong giảng dạy văn bản nhật dụng.
7.3 BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
7.3.1 Hệ thống các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn THCS
Lớp Tên văn bản Đề tài nhật dụng của văn bản
- Hội nhập với thế giới và bảo
vệ, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Trang 6là những vấn đề gần gũi, quen thuộc, bức thiết đối với con người và cộng đồng xã hội hiện đại. Song cùng với sự phát triển về tâm lý và nhận thức của học sinh thì các vấn đề đựơc đề cập trong các văn bản nhật dụng cũng ngày một phức tạp hơn.
7.3.2 Một số đặc điểm về nội dung và hình thức của các văn bản nhật dụng.
a) Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 6.
“Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử” là tác phẩm mở đầu cho cụm bài
văn bản nhật dụng được dạy ở bậc Trung học cơ sở. Đây là bài viết giới thiệu cây cầu Long Biên- một công trình giao thông ở thủ đô Hà Nội bắc qua sông Hồng với vai trò là "chứng nhân lịch sử" chứng kiến cuộc sống đau thương
mà anh dũng của dân tộc ta trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Bằng các sự kiện, các tư liệu chính xác về cây cầu, lồng trong các hình ảnh nhuần thấm cảm xúc suy tư của tác giả, cầu Long Biên đã hiện lên như một hình tượng sống động và chân thực, vừa gần gũi vừa thiêng liêng trong cảm nhận của mỗi người đọc Việt Nam thuộc nhiều thế hệ, nhất là thế
hệ trẻ.
Qua văn bản này, tác giả giúp người đọc, người nghe tăng thêm hiểu biết và tình yêu đối với cầu Long Biên và các cây cầu có ý nghĩa làm nhân chứng khác trên đất nước và ở mỗi vùng miền. Từ đó nâng cao, làm phong phú thêm tâm hồn, tình cảm đối với quê hương, đất nước, đối với các di tích lịch sử Với lối văn thuyết minh đan cài tư liệu với hình ảnh và cảm xúc của người viết, sử dụng phép so sánh, nhân hóa tài tình, bài văn cho thấy ý nghĩa lịch sử trọng đại của cầu Long Biên. Từ đó, người đọc dễ dàng cảm nhận được tình yêu sâu nặng của tác giả với cây cầu này cũng như đối với thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến.
“Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” là tiếng nói đầy tình cảm và trách nhiệm
đối với thiên nhiên, môi trường sống của thủ lĩnh Xi-at-tơn. Tác phẩm đựơc xem là một trong những văn bản hay nhất về thiên nhiên và môi trường. Nhìn dưới góc độ phương thức biểu đạt thì đây là văn bản biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự. Văn bản đã toát lên một ý nghĩa sâu sắc: Con người phải sống hoà hợp với thiên nhiên, phải chăm lo bảo vệ môi trường và thiên nhiên như bảo vệ chính mạng sống của mình. Đây là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa thiết thực và tính thời sự lâu dài.
Trang 7“Động Phong Nha” là bài giới thiệu về “Đệ nhất kì quan” của tỉnh
Quảng Bình với bảy cái nhất: hang động dài nhất, cửa hang cao và rộng nhất, bãi cát, bãi đá rộng và đẹp nhất, có những hồ ngầm đẹp nhất, hang khô rộng
và đẹp nhất, thạch nhũ tráng lệ và đẹp nhất, sông ngầm dài nhất. Phương thức biểu đạt thuyết minh kết hợp với miêu tả và biểu cảm không chỉ cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết tỉ mỉ về danh thắng Phong Nha mà còn gợi tưởng tượng và ham muốn khám phá một không gian thiên tạo kì thú đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà thám hiểm, khách du lịch trong và ngoài nước. Tác phẩm là một văn bản nhật dụng đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường, danh lam thắng cảnh.
b) Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 7.
“Cổng trường mở ra” là một văn bản được trích từ báo Yêu trẻ ghi lại
tâm trạng của một người mẹ trong đêm chuẩn bị cho con trước ngày khai trường để vào lớp Một. Cả một chuỗi cảm xúc nối tiếp nhau lần lượt được diễn tả dưới dạng lời tâm sự của người mẹ: hồi hộp, lo lắng, thao thức, tin tưởng, hi vọng
Văn bản đã kết hợp hài hòa giữa chất tự sự ( ghi lại sự việc) và chất trữ tình (bộc lộ thái độ, cảm xúc), giúp tác giả làm nổi bật vẻ đẹp trong tình cảm
và tấm lòng của người mẹ yêu con.
Văn bản nhật dụng này có tính thời sự nóng hổi. Nó cho ta thấy giáo dục
có vai trò to lớn đối với sự phát triển của xã hội. Ở Việt Nam ngày nay, giáo dục đã trở thành sự nghiệp của toàn xã hội. "Cổng trường mở ra" đề cập tới những mối quan hệ sâu sắc giữa gia đình, nhà trường và trẻ em.
“Mẹ tôi” là một văn bản trích trong " Những tấm lòng cao cả" của nhà
văn Et-môn-đô đơ A-mi-xi. Qua bức thư của một người cha gửi cho đứa con mắc lỗi với mẹ, người đọc hiểu người mẹ có vai trò vô cùng quan trọng trong gia đình và tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng đối với mỗi người. Những bậc làm cha, làm mẹ cũng có thêm một phương pháp giáo dục con nhẹ nhàng mà hiệu quả. Những người làm con cũng có dịp nhìn nhận lại chính mình để sống hiếu thảo hơn với bố mẹ. Tóm lại, đến với tác phẩm, mỗi người cần rút ra cho riêng mình những bài học về cách ứng xử trong cuộc sống gia đình cũng như trong nhà trường và ngoài xã hội. Đó cũng là nội dung cập nhật của văn bản này.
“Cuộc chia tay của những con búp bê” là một văn bản nhật dụng viết
theo kiểu văn bản tự sự. Thành công của văn bản này là sự kết hợp nhuần nhuyễn của phương thức biểu đạt tự sự với miêu tả và biểu cảm. Truyện viết
về nỗi đau tinh thần tuổi thơ sống thiếu tình cảm của cha mẹ. Nhưng chính từ
bi kịch ấy, những đứa trẻ vẫn giữ được tâm hồn trong sáng vị tha, tình cảm anh em càng thêm gắn bó. Đằng sau câu chuyện về tình anh em gắn bó trong
Trang 8đe doạ trong một xã hội hiện đại đang cần đến sự quan tâm của mọi người Trong xã hội ngày nay, tình trạng các cặp vợ chồng li hôn là một thực tế đau lòng mà nạn nhân đáng thương là những đứa trẻ. Các em là vô tội và hơn lúc nào hết cần sự yêu thương, bao bọc, chở che của bố mẹ. Vậy mà Bài văn như một hồi chuông cảnh tỉnh tới tất cả chúng ta. Trẻ em cần được sống trong mái ấm gia đình. Mỗi người cần phải biết giữ gìn hạnh phúc. Không nên vì bất cứ lí do gì làm tổn hại đến tình cảm thiêng liêng, cao quý đó. Tính thời sự của tác phẩm luôn làm nhức nhối bao trái tim độc giả.
“Ca Huế trên sông Hương” là một bút kí, ghi chép lại một sinh hoạt
văn hóa nhằm giới thiệu sản phẩm văn hóa đặc sắc của một địa danh nổi tiếng gắn liền dòng sông Hương thơ mộng: ca Huế. Đây là nét đẹp trong văn hoá cổ truyền xứ Huế. Đặc sắc của dân ca Huế không chỉ là sự phong phú của các điệu hò, điệu lí, không chỉ là sự hoà nhập của hai dòng nhạc dân gian và nhạc cung đình mà còn là cách sinh hoạt độc đáo của nó: thời gian ban đêm, không gian trên sông Hương, người đàn, người hát và nghe cùng ngồi trên thuyền.
Đọc bài văn này, học sinh hiểu thêm rằng cố đô Huế không chỉ có các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng mà còn nổi tiếng bởi các làn điệu dân ca và âm nhạc cung đình. Ca Huế là một sản phẩm tinh thần đáng trân trọng và tự hào cần được bảo tồn và phát triển. Từ đó học sinh có nhu cầu
mở rộng hiểu biết dân ca các vùng miền đất nước và củng cố thêm tình yêu đối với truyền thống văn hoá dân tộc.
c) Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 8.
“Thông tin về ngày trái đất năm 2000” là văn bản được soạn thảo
dựa trên bức thông điệp của 13 cơ quan nhà nước và tổ chức phi chính phủ phát đi ngày 22 tháng 4 năm 2000 nhân lần đầu nước ta tham gia Ngày Trái Đất. Nội dung của văn bản tập trung thuyết minh trình bày về hàng loạt tác hại của bao bì ni lông đối với môi trường và sức khoẻ con người.
Văn bản được kết thúc bằng lời kêu gọi và động viên. Với việc sử dụng điệp từ
"hãy" lời kêu gọi cứ tăng dần từ ý thức đến hành động cụ thể thiết thực: quan tâm tới Trái Đất, bảo vệ Trái Đất bằng hành động “Một ngày không dùng bao
bì ni lông”. Thông điệp này chính là nội dung nhật dụng của văn bản “Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000”. Từ đó giúp chúng ta ý thức được cách sử dụng bao bì ni lông gắn liền với việc bảo vệ môi trường, làm cho Trái Đất- ngôi nhà chung của chúng ta ngày một xanh- sạch- đẹp.
“Ôn dịch, thuốc lá” được trích trong "Từ thuốc lá đến ma túy- Bệnh
nghiện" của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Đây là một bài thuyết minh cung cấp cho bạn đọc những tri thức khách quan về tác hại to lớn và nhiều mặt của
Trang 9thuốc lá đối với sức khoẻ đạo đức, giống nòi con người. Không dừng ở đó văn bản này còn thể hiện tinh thần trách nhiệm của người viết đối với sức khoẻ cộng đồng khi ông trực tiếp bày tỏ thái độ đối với thuốc lá mà ông gọi là một thứ “ôn dịch”, và kiến nghị “Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này”.
Tác giả đã sử dụng thủ pháp thuyết minh quen thuộc như: liệt kê, so sánh, lời văn vẫn sử dụng các thuật ngữ khoa học nhưng dễ hiểu do được giải thích cụ thể, kết hợp trong đó là lời bình luận mang sắc thái biểu cảm rõ rệt Tất cả được viết bằng tri thức và tâm huyết của của một nhà y học nổi tiếng,
và điều đó làm nên sức thuyết phục của bài văn này.
Ý nghĩa nhật dụng của văn bản này không chỉ là cảnh báo cho mỗi người về một nạn dịch có sức tàn phá sức khoẻ cộng đồng, gây thành tệ nạn
xã hội mà còn góp phần cổ động cho chiến dịch truyền thông chống hút thuốc
lá đang diễn ra rộng khắp hiện nay. Từ tính cấp bách của vấn đề, tác giả kêu gọi mọi người kiên quyết chống lại tệ hút thuốc lá.
“Bài toán dân số” được trích từ báo "Giáo dục và Thời đại Chủ nhật"
của tác giả Thái An. Từ câu chuyện vui về một bài toán cổ liên hệ sang chuyện không vui về việc gia tăng dân số trên trái đất bằng một tính toán lôgic sau: Một bàn cờ có 64 ô, nếu số thóc trong mỗi ô tăng theo cấp số nhân công bội là
2 thì tổng số thóc nhiều tới mức có thể phủ kín bề mặt trái đất => trái đất lúc đầu chỉ có 2 người, nếu loài người cũng tăng theo cấp số nhân ấy thì tổng dân số sẽ đạt ô thứ 30 (năm1995) và ô thứ 31 (năm 2015) => nếu cứ để dân
số tăng như thế thì đến một ngày 64 ô của bàn cờ sẽ bị lấp kín và khi đó mỗi người chỉ còn một chỗ ở với diện tích như một hạt thóc trên trái đất.
Mục đích của sự tính toán này là báo động về nguy cơ bùng nổ và gia tăng dân số của thế giới. Vì thế “Bài toán dân số” được xem là một văn bản nhật dụng phục vụ cho chủ đề “dân số và tương lai của nhân loại”. Bài toán này càng có ý nghĩa thời sự đối với các nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam.
Sức thuyết phục của văn bản này trước hết là ở cách lập luận hấp dẫn Hấp dẫn bởi có tiền đề vững chắc, sự so sánh hợp lí, bất ngờ và độc đáo; các luận điểm cứ nối nhau tăng dần về mức độ và tính chất. Số liệu được nêu trong văn bản cụ thể, rõ ràng, có căn cứ đáng tin cậy buộc người đọc phải liên tưởng và suy ngẫm về sự gia tăng dân số đáng lo ngại trên thế giới hiện nay. Chỉ khi nào dân trí được nâng cao, kinh tế, văn hóa, giáo dục phát triển, người dân- nhất là phụ nữ- mới tự giác hạn chế sinh đẻ, làm giảm sự bùng nổ
và gia tăng dân số. Đó chính là đáp án của Bài toán dân số.
d) Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 9:
Trang 10“Phong cách Hồ Chí Minh” là một phần bài viết "Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị" của tác giả Lê Anh Trà Bài viết nhằm
trình bày cho bạn đọc thấy được vẻ đẹp trong phong cách Bác Hồ là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, thanh cao và giản dị. Bài văn có hai phần nội dung: Phần thứ nhất nói về vẻ đẹp trong phong cách văn hoá của Bác, đó là sự kết hợp hài hoà giữa phẩm chất dân tộc và tính nhân loại trong tiếp nhận văn hoá. Phần thứ hai nói về vẻ đẹp trong phong cách sinh hoạt của Bác. Đó là sự kết hợp hài hoà giữa bình dị và hiện đại trong nếp sống.
Để làm sáng tỏ luận điểm này, tác giả đã vận dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ, với những dẫn chứng xác thực, giàu sức thuyết phục về quá trình hoạt động cách mạng, khả năng sử dụng ngôn ngữ và sự giản dị, thanh cao trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của Bác.
Từ nội dung trên, chủ đề nhật dụng cần được khai thác đó là: Vấn đề quan hệ giữa hội nhập thế giới và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc- một vấn đề không chỉ có ý nghĩa cập nhật mà còn có ý nghĩa lâu dài thường xuyên của các thế hệ, nhất là lớp trẻ nước ta trong học tập rèn luyện theo phong cách Bác Hồ.
Bài văn nghị luận này giúp chúng ta hiểu sâu thêm về phong cách của Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa của thế giới.
“Đấu tranh cho một thế giới hoà
bình” là bài viết của nhà văn Cô-lôm-bi-a G. G.Mác-két – người đã từng đoạt giải Nô-ben văn học. Ở đây, phương thức lập luận với hệ thống lập luận sắc sảo, chứng cớ xác thực, cách
so sánh tương phản đã giúp tác giả luận giải một cách thuyết phục và rõ ràng về hiểm hoạ hạt nhân đối với nhân loại. Sự tốn kém và tính phi lý của cuộc chạy đua chiến tranh hạt nhân, từ đó kêu gọi hành động để ngăn chặn chiến tranh hạt nhân vì một thế giới hoà bình.
Chiến tranh và hòa bình luôn là những vấn đề được quan tâm hàng đầu của nhân loại, vì nó quan hệ đến cuộc sống và sinh mệnh của hàng triệu người. Qua văn bản này, G.Mác-két muốn nói đến một vấn đề vô cùng cấp thiết và nóng hổi trong đời sống chính trị của nhân loại và của mỗi dân tộc, mỗi con người. Đó là nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn bộ sự sống trên trái đất; nhiệm vụ cấp bách của toàn thể nhân loại là ngăn chặn nguy cơ đó, là đấu tranh cho một thế giới hòa bình.
“Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em” được trích từ Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em
của tổ chức Liên hợp quốc ngày 30/9/1990, in trong cuốn "Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em"
Trang 11Bản tuyên bố cho ta thấy được phần nào thực trạng bất hạnh của cuộc sống trẻ em trên thế giới hiện nay, về khả năng có thể cải thiện được cuộc sống của chúng, cùng các giải pháp cụ thể. Đồng thời hiểu được tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em cũng như sự quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế với vấn đề này.
Với những ý kiến hết sức ngắn gon, được trình bày rõ ràng, dễ hiểu, bản Tuyên bố này không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi người, mỗi thành viên trong cộng đồng quốc tế mà còn có tác dụng kêu gọi, tập hợp mọi người, mọi quốc gia cùng hành động vì cuộc sống và sự phát triển của tre em, vì tương lai của chính loài người.
Các nội dung được thảo trong bản tuyên bố đã toát lên điểm tích cực và nhân đạo của cộng đồng quốc tế (trong đó có Việt Nam) về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em. Đó là ý nghĩa thời sự lâu dài của văn bản này.
7.3.3 Một số kinh nghiệm cụ thể
Trước những thực trạng và nguyên nhân trên tôi xin đề xuất một số kinh nghiệm cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy như sau:
a) Xác định mục tiêu đặc thù của bài học văn bản nhật dụng
Nhấn mạnh vào hai khía cạnh chính: Trang bị kiến thức và trau dồi tư tưởng, tình cảm thái độ cho học sinh. Nghĩa là qua văn bản, giáo viên cung cấp và
mở rộng hiểu biết cho học sinh về những vấn đề gần gũi, bức thiết đang diễn
ra trong đời sống xã hội hiện đại. Từ đó tăng cường ý thức công dân đối với cộng đồng.
VD: Với văn bản “Ca Huế trên sông Hương”, mục tiêu bài học được xác định như sau:
Học sinh hiểu từ văn bản “Ca Huế trên sông Hương”:
- Ca Huế với sự phong phú về nội dung, giàu có về làn điệu, tinh tế trong biểu diễn và thưởng thức là một nét đẹp của văn hoá cố đô Huế, cần được giữ gìn và phát triển.
- Từ đó mở rộng vốn hiểu biết về văn hoá Huế và âm nhạc dân gian các vùng miền, bồi đắp tình yêu đối với xứ Huế và các giá trị văn hoá dân tộc.
- Văn bản nhật dụng có thể được viết ở dạng thuyết minh kết hợp với nghị luận, miêu tả, bộc lộ cảm xúc.
b) Chuẩn bị bài dạy
* Về kiến thức:
Trang 12GV không chỉ xác dịnh đúng mục tiêu kiến thức của văn bản mà còn phải trang bị thêm cho mình những kiến thức mở rộng, hỗ trợ cho bài giảng như thu thập các tư liệu có liên quan đến bài giảng trên các nguồn thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, mạng Internet, báo chí, sách vở, tranh ảnh,
âm nhạc )
VD: Khi dạy bài “Ca Huế trên sông Hương”, GV còn phải tạo thêm nguồn
tư liệu bổ sung cho bài học trên các kênh âm nhạc dân gian các vùng miền, các bài hát về Huế, các bài báo và tranh ảnh về Huế. Đồng thời giao cho học sinh sưu tầm tư liệu có liên quan đến nội dung văn bản .
* Về phương tiện dạy học:
Các phương tiện dạy học truyền thống như: SGK, bảng đen, phấn trắng chưa thể đáp ứng đựơc hết yêu cầu dạy học văn bản nhật dụng. Giaó viên có thể chuẩn bị thêm các tư liệu khác như: đĩa nhạc CD, phim ảnh và nếu được thu thập, thiết kế và trình chiếu trên các phương tiện dạy học điện tử sẽ khiến các em hào hứng hơn trong giờ học.
VD: Khi thiết kế bài học “Động Phong Nha” được cài đặt thêm các hình ảnh hoặc các đoạn phim ghi hình những đặc sắc của hang động này trên nền nhạc
êm ả, mở rộng tới hình ảnh hang động nổi tiếng của Quảng Ninh (như động Thiên Cung - Hạ Long) thì sẽ thu hút sự chú ý của học sinh.
- Khi thiết kế bài “Ca Huế trên sông Hương” giáo viên cần chuẩn bị đĩa nhạc
CD về tiếng hát của các làn điệu dân ca Huế và các làn điệu dân ca đặc sắc trên các miền đất nước (như chèo, dân ca Nam Bộ, dân ca quan họ).
- Khi dạy bài "Phong cách Hồ Chí Minh" giáo viên có thể gợi lên hình ảnh Bác
từ những cuộc tham quan nơi ở và làm việc của Người ở thủ đô Hà Nội hoặc phim ảnh về Người để học sinh hiểu sâu sắc hơn bài học.
=> Có thể nói khi dạy học văn bản nhật dụng, giáo viên có nhiều cơ hội hơn cho đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, nhờ đó mà các bài học văn bản nhật dụng sẽ khắc phục được tính thông tin tẻ nhạt đơn điệu.
Từ đó, hiệu quả dạy học văn bản nhật dụng sẽ tăng lên.
c) Phương pháp dạy học
* Dạy học phù hợp với phương thức biểu đạt của mỗi văn bản
Trong dạy học văn bản, không thể hiểu sâu sắcnội dung tư tưởng văn bản nếu không đọc từ các dấu hiệu hình thức của chúng. Nên dạy học văn bản nhật dụng cũng phải theo nguyên tắc đi từ dấu hiệu hình thức tới khám phá mục đích giao tiếp trong hình thức ấy.
- VD: Văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê” được tạo theo phương thức biểu đạt tự sự thì hoạt động dạy học sẽ được tiến hành theo các