1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo "Mối quan hệ giữa các quy định về chủ quyền sử dụng đất trong bộ luật dân sự với các quy định của pháp luật đất đai " pptx

8 726 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 267,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với cỏc quy định về chuyển quyền sử dụng đất được ghi nhận tại phần V của Bộ luật dõn sự, cú tỏc giả đề nghị huỷ toàn bộ cỏc chương này chuyển giao nú cho luật đất đai và cỏc văn bản

Trang 1

ThS Trần Quang Huy *

iện nay có nhiều ý kiến khỏc nhau của

cỏc chuyờn gia trong nước và nước

ngoài về việc cần thiết phải sửa đổi, bổ sung

Bộ luật dõn sự Đối với cỏc quy định về

chuyển quyền sử dụng đất được ghi nhận tại

phần V của Bộ luật dõn sự, cú tỏc giả đề nghị

huỷ toàn bộ cỏc chương này chuyển giao nú

cho luật đất đai và cỏc văn bản phỏp luật cú

liờn quan đến đất đai.(1) Mặt khỏc, cú tỏc giả

cho rằng trờn cơ sở chế độ sở hữu toàn dõn

về đất đai, việc Nhà nước mở rộng quyền cho

người sử dụng đất thỡ quyền sử dụng đất (tài

sản đặc biệt) chớnh là đối tượng của luật dõn

sự Vỡ thế khụng cần tranh cói là nờn hay

khụng nờn đưa cỏc quy định về chuyển quyền

sử dụng đất vào Bộ luật dõn sự mà quan

trọng là vạch ra phương hướng để sửa đổi, bổ

sung Bộ luật dõn sự.(2)

Trong bài viết này chỳng tụi trỡnh bày một số quan điểm cỏ nhõn

và hướng sửa đổi cỏc quy định về chuyển

quyền sử dụng đất trong Bộ luật dõn sự trong

tương quan hiện tại với cỏc quy định của

phỏp luật đất đai hiện hành

I Các vấn đề mang tính nguyên tắc

Bộ luật dõn sự cú vai trũ là nền tảng trong

hệ thống luật tư điều chỉnh cỏc quan hệ xó

hội về nhõn thõn và tài sản được xỏc lập trờn

cơ sở tự do ý chớ, bỡnh đẳng và tự chịu trỏch

nhiệm của cỏc chủ thể Vỡ vậy, Bộ luật dõn

sự được ỏp dụng trong trường hợp cỏc luật chuyờn ngành cú liờn quan khụng quy định

cụ thể Cho nờn, đối với cỏc quy định về chuyển quyền sử dụng đất, phạm vi và mức

độ tỏc động tới cỏc giao dịch dõn sự về đất đai cần phải xỏc định rừ ràng, trỏnh tỡnh trạng chồng chộo giữa cỏc quy định của Bộ luật dõn sự tới cỏc luật chuyờn ngành khỏc Trước khi cú Luật đất đai năm 1993, cỏc dự thảo dự

ỏn luật cũn nộ trỏnh việc quy định cỏc quyền của người sử dụng đất và cơ chế thực hiện cỏc quyền đú Luật đất đai năm 1993 lần đầu tiờn quy định 5 quyền của hộ gia đỡnh, cỏ nhõn trong nước, chưa chớnh thức luật hoỏ cỏc quyền của tổ chức trong nước, tổ chức và

cỏ nhõn nước ngoài Những quy định về cỏc quyền này mới mang tớnh nguyờn tắc, chưa xõy dựng cơ chế thực hiện Vỡ vậy, với sự ra đời của Bộ luật dõn sự năm 1995, việc thực hiện cỏc giao dịch dõn sự về đất đai được chớnh thức quy định

Trong quan hệ giữa Luật đất đai và Bộ luật dõn sự về vấn đề chuyển quyền sử dụng đất cú những điểm cần phải xem xét lại, đú là trong khi Luật đất đai đỏng lẽ phải quy định chi tiết trỡnh tự, thủ tục để thực hiện cỏc

H

* Giảng viờn chớnh Khoa phỏp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

quyền, điều kiện thực hiện cỏc quyền thỡ Bộ

luật dõn sự lại chi tiết hoỏ và cụ thể hoỏ cỏc

quy định về quyền của hộ gia đỡnh, cỏ nhõn

và cỏc giao dịch dõn sự về đất đai Đõy là sự

thống nhất theo quy trỡnh ngược, bởi phải coi

Bộ luật dõn sự là đạo luật chung chiếm vị trớ

cốt yếu trong hệ thống luật tư trong việc điều

chỉnh cỏc quan hệ tài sản, cỏc luật chuyờn

ngành phải chi tiết hoỏ và cụ thể hoỏ cỏc vấn

đề cũn mang tớnh nguyờn tắc trong Bộ luật

dõn sự.Tuy nhiờn, trong quỏ trỡnh xỏc lập cơ

chế phỏp lớ cho việc chuyển quyền sử dụng

đất của tổ chức, hộ gia đỡnh và cỏ nhõn trong

nước cũn nhiều lỳng tỳng, quan điểm chưa

thống nhất thỡ việc ban hành Bộ luật dõn sự

đó thực sự giải quyết một trong những vướng

mắc mà phỏp luật đất đai ở thời điểm đú chưa

giải quyết được

Với quỏ trỡnh phỏt triển, Luật đất đai sửa

đổi, bổ sung ngày 2/12/1998 đó chớnh thức

luật hoỏ cỏc quyền của tổ chức trong nước,

mở rộng thờm một số quyền cho hộ gia đỡnh

và cỏ nhõn đồng thời xỏc định rừ trỏch nhiệm

của Chớnh phủ trong việc ban hành văn bản

về trỡnh tự, thủ tục chuyển quyền sử dụng đất

của tổ chức, hộ gia đỡnh và cỏ nhõn trong

nước Theo đú, Nghị định số 17/1999/NĐ-CP

ngày 29/3/1999 của Chớnh phủ ra đời quy

định khỏ chi tiết trỡnh tự thực hiện cỏc quyền

của tổ chức, hộ gia đỡnh và cỏ nhõn trong

nước Tiếp theo đú, Luật đất đai sửa đổi, bổ

sung ngày 29/6/2001 ra đời cho phộp những

tổ chức, hộ gia đỡnh, cỏ nhõn trong nước

được thế chấp bằng giỏ trị quyền sử dụng đất

thỡ được quyền thế chấp hoặc bảo lónh để vay

tiền của mọi tổ chức tớn dụng hoạt động tại

Việt Nam Đõy là quyền năng mới và trỡnh tự

thực hiện chưa được quy định Vỡ vậy, ngày 1/11/2001, Chớnh phủ đó ban hành Nghị định

số 79/2001/NĐ-CP nhằm thực hiện cỏc giao dịch dõn sự về đất đai ngày một thụng thoỏng hơn và xỏc định trỡnh tự về bảo lónh bằng giỏ trị quyền sử dụng đất Với quỏ trỡnh như vậy, qua 7 năm thi hành Bộ luật dõn sự, cỏc quy định về chuyển quyền sử dụng đất trong Bộ luật dõn sự đó phần nào khập khiễng với thực

tế cuộc sống, đó lạc hậu hơn rất nhiều so với cỏc quy định của phỏp luật đất đai Cho nờn, việc sửa đổi, bổ sung cỏc quy định về chuyển quyền sử dụng đất trong Bộ luật dõn sự cho phự hợp với sự phỏt triển núi chung của phỏp luật là rất cần thiết

Tuy nhiờn, chỳng tụi khụng thống nhất với quan điểm của luật sư Muto cho rằng

“khụng nờn đưa phần chuyển quyền sử dụng đất vào trong Bộ luật dõn sự mà nờn để cho Luật đất đai và cỏc văn bản thi hành quy định là tốt hơn” và "đề nghị huỷ bỏ phần V của Bộ luật dõn sự và giao nú cho Luật đất đai và cỏc văn bản phỏp luật liờn quan về đất đai quy định”.(3)

Chỳng tụi rất ngạc nhiờn về

sự am hiểu uyờn thõm của học giả Nhật Bản nờu trờn về Bộ luật dõn sự của Việt Nam song vấn đề khụng phải là với quỏ trỡnh phỏt triển của phỏp luật đất đai, cỏc quy định của Bộ luật dõn sự về chuyển quyền sử dụng đất đó khụng cũn ý nghĩa Vấn đề về mặt phương phỏp luận

là khụng phải chuyển giao cỏc quy định về chuyển quyền sử dụng đất trong Bộ luật dõn

sự sang Luật đất đai mà là thiết kế lại cỏc quy định về chuyển quyền sử dụng đất trong Bộ luật dõn sự sao cho phự hợp với cỏc quy định hiện hành của cỏc luật chuyờn ngành

Mặt khỏc, chỳng tụi cũng khụng thống

Trang 3

nhất với nhóm tác giả khi cho rằng không

nên tranh luận lµ nên hay không nªn đưa các

quy định về chuyển quyền sử dụng đất vào

Bộ luật dân sự vì do đặc điểm chế độ kinh tế

của Việt Nam và nền tảng của chế độ sở hữu

toàn dân về đất đai.(4)

Các tranh luận khoa học luôn rất cần thiết, bởi các chính kiến về

khoa học mà bị áp đặt thì bản thân nó không

còn sức sống mãnh liệt của khoa học Vì vậy,

việc quy định trong Bộ luật dân sự các giao

dịch dân sự về đất đai là lẽ đương nhiên

nhưng phải thiết kế lại theo tinh thần sau:

1 Nhóm các quy định chung từ §iều 690

đến §iều 698 chỉ giữ lại một số điều mang

tính nguyên tắc nhất

2 Nhóm các điều từ 699 đến 744 chỉ giữ

lại các điều liên quan tới các khái niệm về

hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho

thuê, thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và

thừa kế quyền sử dụng đất, các điều liên quan

tới quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực

hiện các giao dịch dân sự về đất đai

3 Bổ sung nhóm các giao dịch dân sự về

đất đai của tổ chức trong nước được Nhà

nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển

quyền sử dụng đất từ người khác

4 Bổ sung nhóm các quy định về cho

thuê lại đất, bảo lãnh bằng giá trị quyền sử

dụng đất và tài sản có trên đất, góp vốn bằng

giá trị quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá

nhân trong nước

Trên cơ sở giữ lại các điều cần thiết và bổ

sung các nhóm vấn đề trên, chúng tôi cho

rằng phần quy định về chuyển quyền sử dụng

đất trong Bộ luật dân sự sẽ bao quát được đầy

đủ các giao dịch dân sự về đất đai của các

pháp nhân, hộ gia đình, cá nhân và các quy

định sẽ không còn tình trạng chồng chéo với các quy định chi tiết tại Luật đất đai và các văn bản thi hành Luật đất đai

II C¸C VÊN §Ò Cô THÓ

1 Phần các quy định chung

+ Theo chúng tôi, Điều 690 nói về căn cứ xác lập quyền sử dụng đất không còn thích hợp, bởi lẽ, khi xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lí thì

đó không phải là căn cứ mà là nguyên tắc xuyên suốt của quá trình quản lí và sử dụng đất của nhà nước Mặt khác, khoản 1 ®iều

1 của Luật đất đai sửa đổi, bổ sung ngày 2/12/1998 quy định còn rõ hơn rất nhiều khi xác định việc Nhà nước giao cho người

sử dụng đất sử dụng ổn định lâu dài với hình thức giao đất không thu tiền, có thu tiền Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất, nhận quyền sử dụng đất từ người khác

Vì vậy, §iều 690 cần sửa đổi cho phù hợp với quan niệm hiện tại trong Luật đất đai sửa đổi, bổ sung

+ Điều 691 cần xác định lại các hình thức chuyển quyền sử dụng đất theo các quyền hiện nay là chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất Các hợp đồng đó được xác lập trên cơ sở các quy định của pháp luật đất đai, có xác nhận của

uỷ ban nhân dân cấp xã đối với hộ gia đình,

cá nhân, có xác nhận của cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh trong trường hợp đối với tổ chức trong nước

+ Bỏ Điều 692 vì các thủ tục chuyển quyền

sử dụng đất đã quy định rất chi tiết tại Nghị

Trang 4

định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 và

Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 1/11/2001

của Chớnh phủ

+ Bỏ Điều 693 về điều kiện chuyển

quyền sử dụng đất Bởi vỡ, trong từng quyền

cụ thể cỏc nghị định của Chớnh phủ về vấn đề

này đó quy định chi tiết Cỏc quy định chung

ở đõy, theo chỳng tụi trở nờn khụng cần thiết

Mặt khỏc, việc quy định cỏc chủ thể phải cú

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong

mọi giao dịch dõn sự về đất đai là khụng phự

hợp với thực tiễn cuộc sống và trỏi với cỏc

quy định chi tiết trong cỏc luật chuyờn ngành

+ Sửa đổi Điều 694 về giỏ chuyển quyền

sử dụng đất Theo chỳng tụi, giỏ chuyển

quyền sử dụng đất trờn cơ sở khung giỏ của

Chớnh phủ khụng phự hợp với thực tế chuyển

nhượng tại cỏc địa phương Giỏ đất đ-ợc quy

định tại cỏc địa phương thấp hơn nhiều lần so

với giỏ thực tế, vớ dụ: Ở Nam Định giỏ đất

chuyển nhượng cao hơn từ 2,5 đến 5 lần, Hải

Dương từ 1,5 đến 4,28 lần, Bà Rịa - Vũng

Tàu 5 lần, Lạng Sơn 3 lần, An Giang theo giỏ

thoả thuận, Bến Tre cao gấp 15 lần.(5)

Vỡ vậy,

đó là giao dịch dõn sự trong đời sống, nờn

chăng khụng quy định một khung giỏ cứng từ

phớa Nhà nước mà thực hiện theo thoả thuận

của cỏc bờn

+ Điều 695 nờn giữ nguyờn

+ Về hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền

sử dụng đất được quy định tại Điều 696 Bộ

luật dõn sự sẽ phỏt sinh sau khi đăng kớ tại cơ

quan nhà nước cú thẩm quyền Trờn thực tế,

cỏc hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho

thuờ, cho thuờ lại, thế chấp, bảo lónh, gúp vốn

liờn doanh của hộ gia đỡnh, cỏ nhõn đều phải

đăng kớ tại uỷ ban nhõn dõn cấp xó Việc cho

phộp thực hiện cỏc hợp đồng chuyển quyền

sử dụng đất núi trờn là do uỷ ban nhõn dõn cấp huyện xỏc nhận Như vậy, điều gỡ sẽ xảy

ra nếu cơ quan nhà nước cú thẩm quyền cấp trờn đó cho phộp nhưng vỡ người sử dụng đất khụng đăng kớ quyền sử dụng đất tại cấp xó nên chưa phỏt sinh hiệu lực của hợp đồng?

Vỡ vậy, theo chỳng tụi khụng nờn nhầm lẫn giữa cụng việc quản lớ hợp đồng với trỏch nhiệm quản lớ đất đai của chớnh quyền cơ sở Bản thõn việc kờ khai, đăng kớ đất đai là trỏch nhiệm của người sử dụng đất, là cơ sở để sau này họ được chớnh quyền địa phương đề nghị cấp cú thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong khi đú, phần lớn các trường hợp chuyển quyền sử dụng đất người sử dụng đó cú giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất Cho nờn, quan điểm của chỳng tụi cho rằng với việc đăng kớ quyền sử dụng đất chưa được làm tốt như hiện nay thỡ nờn chăng thời điểm cú hiệu lực phỏp lớ của hợp đồng là thời điểm được uỷ ban nhõn dõn cấp huyện xỏc nhận cho phộp chuyển quyền sử dụng đất đối với hộ gia đỡnh, cỏ nhõn và thời điểm xỏc nhận của cơ quan quản lớ đất đai cấp tỉnh trong trường hợp là tổ chức sử dụng đất + Giữ nguyờn cỏc Điều 697 và Điều 698 của Bộ luật dân sự

2 Cỏc quy định từ chương II đến chương VI

2.1 Về hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất (từ Điều 699 đến Điều 704)

Cỏc quy định trong chương này nờn giữ lại cỏc điều 699, 701, 702 và 704 Đối với

Điều 700, cỏc quy định của phỏp luật đất đai đó quy định rất chi tiết cỏc điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đối với đất nụng nghiệp, lõm nghiệp, đất ở tại Nghị định số 17/1999/NĐ-CP

Trang 5

Vỡ vậy, Bộ luật dõn sự khụng cần thiết phải

quy định về vấn đề này Riờng về hỡnh thức

chuyển đổi quyền sử dụng đất được quy định

tại Điều 701, theo chỳng tụi nờn sửa lại là

“hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

phải lập thành văn bản theo mẫu thống nhất

do cơ quan nhà nước cú thẩm quyền ban

hành Thủ tục chuyển đổi và đăng kớ quyền

sử dụng đất thực hiện theo cỏc quy định của

phỏp luật đất đai”

Đối với khoản 5 Điều 703 của Bộ luật

dõn sự cần thống nhất quan điểm với khoản 4

Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất

ngày 21/12/1999 là miễn thuế chuyển quyền

sử dụng đất trong trường hợp chuyển đổi

quyền sử dụng đất Khoản 5 Điều 703 cần

sửa đổi cho phự hợp với luật chuyờn ngành

2.2 Về hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất (từ Điều 705 đến Điều 713)

Về chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa

Bộ luật dõn sự và cỏc quy định của phỏp luật

đất đai cú nhiều điểm khụng đồng bộ, đó là:

Thứ nhất, Bộ luật dõn sự quy định cỏc điều

kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất nụng

nghiệp, đất lõm nghiệp để trồng rừng, đất ở đối

với hộ gia đỡnh, cỏ nhõn tại khoản 1 và 2 Điều

706 là nhắc lại khoản 1 và 2 Điều 75 của Luật

đất đai là khụng cần thiết Thậm chớ tại Nghị

định số 17/1999/NĐ-CP cũn quy định chi tiết

hơn rất nhiều so với Bộ luật dõn sự.(6) Vỡ vậy,

chỳng tụi cho rằng nờn bỏ Điều 706

Thứ hai, Bộ luật dõn sự quy định việc

chuyển nhượng phải xin phộp cơ quan nhà

nước cú thẩm quyền Trong khi đú Điều 3

Luật đất đai quy định người được Nhà nước

giao đất cú quyền chuyển nhượng quyền sử

dụng đất Như vậy, vấn đề đặt ra là nếu người

sử dụng đất đỏp ứng đầy đủ điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất và làm đỳng thủ tục theo luật định thỡ họ khụng nhất thiết phải xin phộp bất cứ cơ quan nhà nước nào, cỏc thủ tục đú là đương nhiờn Hơn nữa, khụng cần thiết một thủ tục hành chớnh để cản trở giao dịch dõn sự đương nhiờn Vỡ vậy, Điều

707 cần xỏc định lại nội hàm của quy định cho chớnh xỏc

Thứ ba, khoản 1 Điều 709 bỏ phần nghĩa

vụ của người chuyển quyền sử dụng đất phải xin phộp cơ quan nhà nước cú thẩm quyền, đồng thời khoản 5 của điều này cũng xỏc định lại nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất cho phự hợp với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền

sử dụng đất ngày 21/12/1999 vỡ điểm 1 khoản 3 Điều 1 của Luật thuế chuyển quyền

sử dụng đất quy định: “Trong trường hợp

người nhận quyền sử dụng đất tự nguyện nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất thỡ người đú

cú trỏch nhiệm kờ khai, nộp thuế theo quy định tại Điều 10 của Luật thuế” Như vậy,

việc nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất khụng nhất thiết là nghĩa vụ riờng của người chuyển quyền sử dụng đất như quy định tại

Bộ luật dõn sự

Thứ tư, khoản 2 Điều 711 quy định điều

kiện cho bờn nhận quyền sử dụng đất là chưa

cú đất hoặc đang sử dụng dưới hạn mức, sau khi nhận chuyển nhượng cũng khụng được phộp vượt hạn mức quy định Quy định nờu trờn là chưa phự hợp với cỏch xử lớ đất vượt hạn mức được quy định tại Luật đất đai sửa đổi, bổ sung ngày 2/12/1998 và trỏi với quan điểm về phỏt triển kinh tế trang trại tại Nghị

Trang 6

quyết sè 02/NQ ngày 2/2/2000 của Chính phủ

2.3 Về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

(từ Điều 714 đến Điều 726)

Hiện nay, việc quy định về điều kiện cho

thuê quyền sử dụng đất đã quy định tại §iều

78 Luật đất đai và được chi tiết hoá tại §iều

15 của Nghị định sè 17/1999/NĐ-CP Vì vậy,

không cần thiết phải quy định điều này trong

Bộ luật dân sự

2.4 Về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng

đất (từ Điều 727 đến Điều 737)

Các quy định về thế chấp quyền sử dụng

đất trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp

luật về đất đai có nhiều điểm không thống

nhất §ã lµ các vấn đề sau:

Thứ nhất, các khái niệm “thế chấp quyền

sử dụng đất” và “thế chấp giá trị quyền sử

dụng đất” được sử dụng ở nhiều văn bản

pháp luật khác nhau, vậy nội hàm của các

khái niệm này là như nhau hay khác nhau th×

các văn bản l¹i quy định không thống nhất, ví

dụ, Bộ luật dân sự quy định tài sản gắn liền

với đất có thuộc tài sản thế chấp hay không là

do các bên thoả thuận, trong khi đó Nghị

định số 178/1999/NĐ-CP quy định khi thế

chấp tài sản gắn liền với đất phải thế chấp cả

giá trị quyền sử dụng đất Đương nhiên, về

hiệu lực pháp lí thì Bộ luật rõ ràng là cao hơn

nghị định song dưới góc độ thực tiễn thì Nghị

định số 178/1999/NĐ-CP đang được áp dụng

có hiệu quả

Thứ hai, tại Điều 77 của Luật đất đai đã

quy định điều kiện thế chấp quyền sử dụng đất

của hộ gia đình và cá nhân trong nước, cũng

với nội dung như vậy Bộ luật dân sự lại tách

thành 2 điều (Điều 729 và Điều 730) Như vậy

Bộ luật dân sự đã nhắc lại quy định này một cách không cần thiết, trong khi đó Điều 24 và

27 của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP quy định

về điều kiện thế chấp giá trị quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong nước còn cụ thể hơn rất nhiều so với Bộ luật dân sự

Thứ ba, Bộ luật dân sự quy định tại Điều

737 cách thức xử lí quyền sử dụng đất khi mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì quyền sử dụng đất được giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức bán đấu giá Đây là hình thức xử

lí duy nhất trong Bộ luật dân sự về thế chấp quyền sử dụng đất Trong khi đó, tại Nghị định

số 79/2001/ NĐ-CP ngày 1/11/2001 quy định 3 cách thức xử lí là chuyển nhượng, bán đấu giá

và khởi kiện tại toà án trong trường hợp không

xử lí được theo thoả thuận trong hợp đồng, được áp dụng chung cho mọi đối tượng thế chấp và nhận thế chấp.(7)

Với quy định trên đây, Bộ luật dân sự đã có nhiều điểm lạc hậu

so với thực tiễn cuộc sống Vì vậy, chúng tôi

đề nghị sửa đổi Điều 737 của Bộ luật dân sự cho phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật đất đai

Thứ tư, theo các quy định của pháp luật

về đầu tư, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền thế chấp giá trị quyền sử dụng đất để vay vốn của mọi tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng Để tạo ra sự bình đẳng giữa người sử dụng đất trong nước và nước ngoài, Luật đất đai sửa đổi, bổ sung ngày 29/6/2001 đã quy định tại Điều 78g cho phép tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong

Trang 7

nước nếu được thế chấp bằng giá trị quyền sử

dụng đất theo quy định của Luật đất đai thì

có quyền thế chấp hoặc bảo lãnh bằng giá trị

quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại

các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam

Với vấn đề trên, Bộ luật dân sự mới chỉ cho

phép hộ gia đình, cá nhân được thế chấp

quyền sử dụng đất để vay tiền của tổ chức tín

dụng trong nước là chưa phù hợp, chưa thể

hiện sự thông thoáng trong các giao dịch dân

sự về đất đai Cho nên chúng tôi đề nghị sửa

Điều 729 và Điều 730 cho phù hợp với thực

tế hiện nay

2.5 Về thừa kế quyền sử dụng đất (từ

Điều 738 đến Điều 744)

Các quy định về thừa kế quyền sử dụng

đất theo di chúc hoặc theo pháp luật đối với

đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản

của những người được quy định tại Điều 679

và Điều 680 phải gắn với điều kiện được quy

định tại Điều 740 của Bộ luật dân sự là quá

ngặt nghèo Mặt khác, Luật đất đai không

quy định hạn mức đất nông nghiệp đối với cá

nhân, vì thế việc quy định điều kiện thừa kế

đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm,

nuôi trồng thuỷ sản tại khoản 2 Điều 740 là

không chính xác Hơn nữa, cơ sở khoa học và

thực tiễn để xác định các điều kiện được thừa

kế đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng

năm, nuôi trồng thuỷ sản với việc thừa kế đất

nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm

nghiệp để trồng rừng, đất ở là không rõ ràng

Vì vậy, chúng tôi kiến nghị sửa đổi quy định

này trong Bộ luật dân sự theo hướng bỏ điều

kiện thừa kế tại Điều 740, coi việc thừa kế

đất nông nghiệp trồng cây hàng năm như việc

thừa kế đối với các loại đất có tài sản khác

3 Các quy định cần phải bổ sung trong

Bộ luật dân sự

Cho đến nay, lộ trình các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã tiến những bước dài trong các Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001 Từ 5 quyền được quy định trong Luật đất đai năm

1993, cho đến nay hộ gia đình, cá nhân có thêm quyền cho thuê lại đất, quyền góp vốn liên doanh với tổ chức, cá nhân trong nước, quyền bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình vay tiền của mọi tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam Như vậy, với các sửa đổi nhanh chóng của pháp luật đất đai cho phù hợp với thực tiễn của đời sống, các quy định trong Bộ luật dân sự đã thiếu vắng nhiều quy định quan trọng Cho nên, để sửa đổi Bộ luật dân sự cho phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội và đồng bộ với các luật chuyên ngành, chúng tôi thấy rằng, Bộ luật cần bổ sung các quy định sau:

+ Bổ sung các quy định về giao dịch dân

sự liên quan đến quyền cho thuê lại đất Đây

là quyền quan trọng của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất để sản xuất, kinh doanh được quy định tại Luật đất đai sửa đổi,

bổ sung ngày 2/12/1998 Như vậy, với thời hạn được Nhà nước cho thuê đất mà người sử dụng đất trả tiÒn thuê hàng năm, trả tiền cho

cả thời gian thuê, trả tiền thuê nhiều năm nếu thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất năm năm thì người sử dụng được bảo hộ các quyền năng khác nhau Các quyền đó đảm bảo cho hộ gia đình và cá nhân thực hiện khả năng kinh doanh của mình, thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai trong

Trang 8

thời hạn thuê đất Cho nên, trong Bộ luật dân

sự cần quy định về hợp đồng thuê lại quyền sử

dụng đất, hình thức, nội dung và quyền, nghĩa

vụ của các bên khi thực hiện hợp đồng Việc bổ

sung đó sẽ góp phần đồng bộ giữa các quy định

về quyền của người sử dụng đất trong Luật đất

đai với cơ chế thực hiện các giao dịch dân sự

về đất đai trong Bộ luật dân sự

+ Bổ sung các quy định về bảo lãnh bằng

giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với

đất để vay tiền của các tổ chức tín dụng hoạt

động tại Việt Nam Bộ luật dân sự cần xác

định rõ về hợp đồng bảo lãnh bằng giá trị

quyền sử dụng đất, hình thức, nội dung,

quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện

giao dịch dân sự về đất đai này

+ Bổ sung hình thức góp vốn bằng giá trị

quyền sử dụng đất của hộ gia đình và cá nhân

Suy cho cùng thì hình thức góp vốn bằng giá trị

quyền sử dụng đất cũng là sự hợp tác giữa

những người sử dụng đất Cho nên trong Bộ

luật dân sự cần chính thức xác định hình thức,

nội dung, quyền và nghĩa vụ của các bên khi

góp vốn liên doanh và trách nhiệm pháp lí của

các bên khi chấm dứt việc góp vốn, xử lí quyền

sử dụng đất khi chấm dứt việc góp vốn bằng

giá trị quyền sử dụng đất

+ Bổ sung các quy định về quyền sử dụng

đất của pháp nhân trong nước Bộ luật dân sự

hiện hành mới quy định về quyền sử dụng đất

của hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất, chưa

quy định các giao địch dân sự về đất đai của

tổ chức trong nước Nhưng nếu xem luật dân

sự là luật chung của luật tài sản thì theo

chúng tôi cần bổ sung phần quyền của tổ

chức trong nước Chúng tôi hiểu rằng khi Bộ

luật dân sự ra đời thì các quyền của tổ chức

trong nước chưa chính thức được luật hoá

trong Luật đất đai, cho nên qua 2 lần sửa đổi,

bổ sung vào năm 1998 và năm 2001 Luật đất đai đã quy định khá đầy đủ các quyền của tổ chức trong nước Vì vậy, đã đến lúc Bộ luật dân sự cần chính thức quy định các giao dịch dân sự về đất đai của tổ chức trong nước Theo chúng tôi, phần các quyền cụ thể sẽ sắp xếp thành 2 mục, mục về quyền của hộ gia đình và cá nhân, mục về quyền của tổ chức trong nước

Tóm lại, việc bổ sung thêm các quy định

mà chúng tôi nêu trên sẽ góp phần dân sự hoá một số các giao dịch về đất đai chưa được thể hiện trong Bộ luật dân sự, trong khi các quyền đó đã được bảo hộ trong Luật đất đai sửa đổi, bổ sung Từ đó, các quyền của người

sử dụng đất được quy định trong các văn bản pháp luật đất đai có sự thống nhất hài hoà trong các giao lưu dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự./

(1), (3).Xem: Muto trong bài viết “ý k iến về những điểm cần sửa đổi trong bộ luật dân sự Việt Nam” trong chuyên đề “Một số vấn đề về sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự Việt Nam”, Thông tin khoa học pháp lí, Viện

nghiên cứu khoa học pháp lí - Bộ tư pháp tr 299

(2), (4).Xem:“Tổng quan k ết quả nghiên cứu sửa đổi,

bổ sung Bộ luật dân sự Việt Nam”, trong chuyên đề

“Một số vấn đề về sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự Việt Nam”, Thông tin khoa học pháp lí, Viện nghiên cứu

khoa học pháp lí - Bộ tư pháp tr 86

(5) Số liệu lấy từ báo cáo của Ban kinh tế trung ương Đảng về tình hình thực hiện chính sách và pháp luật đất đai ngày 19/8/2002, tr 83

(6).Xem: Điều 8 và Điều 9 Nghị định sè 17/1999/NĐCP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về trình tự thủ tục chuyển quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước

(7).Xem: Khoản 18 §iều 1 của Nghị định sè 79/2001/ NĐ-CP ngày 1/11/2001 về sửa đổi một số quy định của Nghị định sè 17/1999/ NĐ-CP

Ngày đăng: 21/02/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w