Theo Serge Sur - giáo sư đại học Paris X, quan điểm phổ biến hiện nay về các nguồn của pháp luật quốc tế bao gồm điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật q
Trang 1PGS.TS Thái Vĩnh Thắng *
1 Toàn cầu hoá và tác động của nó
đối với mối quan hệ giữa pháp luật quốc
gia và pháp luật quốc tế
Toàn cầu hoá là khái niệm dùng để chỉ
những hiện tượng trước đây chưa có tính
toàn cầu nhưng hiện nay đang và sẽ là hiện
tượng toàn cầu nhờ sử dụng những thành tựu
mới của khoa học và công nghệ Theo nhà
nghiên cứu Phan Do2n Nam hiện nay chúng
ta có thể thấy các hiện tượng sau đây đ2
mang tính chất toàn cầu hoá:
- Mạng lưới thông tin toàn cầu (Global
information Village) Đây là hệ thống đường
thông tin siêu cao tốc qua hệ thống Internet
với mạng thông tin diện rộng toàn cầu
World Wide Web (W W W)
- Sản phẩm văn hoá toàn cầu (Global
cultural product) Đây là các sản phẩm văn
hoá như phim ảnh, tivi, radio, nhạc, tạp chí,
các trò chơi thể thao như bóng đá, bóng bàn,
bóng chuyền, tenic, đánh gôn…
- Hệ thống siêu thị toàn cầu (Global
shopping Mall) Đây là công cụ của các
công ti siêu quốc gia để toàn cầu hoá các
sản phẩm của họ Nhờ hệ thống này, nước
uống coca-cola của Mĩ, rượu vang Bordeaux
của Pháp, rượu Uytski của Scotland, phomát
Hà Lan và các đặc sản của các quốc gia
khác được tiêu thụ một cách rộng r2i khắp
nơi trên thế giới
- Trụ sở lao động toàn cầu (Global
Workplace) Đây là mạng lưới gồm các nhà máy, công xưởng, văn phòng luật sư, văn phòng kiến trúc sư, trung tâm nghiên cứu, công ti xuyên quốc gia Ngày nay, các công
ti bảo hiểm như Prudential, AIA có các chi nhánh khắp nơi trên thế giới 60% hàng hoá
Mĩ được sản xuất ở nước ngoài, ngược lại nhiều xưởng phim Hollywood là tài sản của công ti Nhật
- Mạng lưới tài chính toàn cầu (Global Financial Network) hoạt động 24/24h làm thay đổi cả chu chuyển tài chính trên thế giới Hàng ngàn tỉ đôla đ2 được chu chuyển trên khắp thế giới qua các thị trường hối
đoái với tốc độ tính bằng giây.(1)
- Ngoài những vấn đề mang tính toàn cầu trên đây chúng ta còn có thể thấy những hiện tượng mang tính toàn cầu khác như bảo
vệ môi trường, chống chiến tranh xâm lược, giải trừ vũ khí hạt nhân, chất độc hoá học, chống các tệ nạn x2 hội như ma tuý, bạo lực, m2i dâm, tham nhũng, xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền công dân và quyền con người…
Toàn cầu hoá làm cho các quan hệ quốc
tế phát triển và vì vậy làm cho hệ thống pháp luật quốc tế phát triển Toàn cầu hoá làm cho thế giới xích lại gần nhau, các hệ
* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2thống pháp luật khác nhau có dịp va chạm,
tiếp xúc nhiều hơn và vì vậy có sự ảnh
hưởng lẫn nhau nhiều hơn Toàn cầu hoá tạo
ra những sân chơi chung mà ở đó người ta
muốn không bị loại ra khỏi sân chơi thì phải
tuân thủ luật chơi chung Và vì vậy các quốc
gia khác nhau buộc phải giao lưu, hợp tác,
đấu tranh, thoả nhượng để cùng được xây
dựng luật chơi chung và tham dự vào sân
chơi chung mà không bị phụ thuộc Trong
vòng khoảng mười lăm năm kể từ thời kì đổi
mới, Việt Nam đ2 kí kết trên 70 hiệp định
thương mại song phương và có quan hệ
thương mại song phương với trên 150 quốc
gia, có trên 70 nước và khu vực, l2nh thổ
đầu tư vào Việt Nam, có 167 nước có quan
hệ ngoại giao với Việt Nam Việt Nam là
thành viên của ASEAN, AFTA, APEC và
của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu
vực.(2) Việt Nam đ2 kí kết hiệp định thương
mại với Hoa Kì và đang trên lộ trình gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Việt Nam đ2 sớm nhận thức được rằng:
"Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, lôi
cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh
vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép
cạnh tranh và tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế Quan hệ song phương, đa
phương giữa các quốc gia ngày càng sâu
rộng cả trong kinh tế, văn hoá và bảo vệ
môi trường phòng chống tội phạm, thiên tai
và các đại dịch".(3)
Cùng với quá trình toàn cầu hoá, pháp
luật Việt Nam từ chỗ chủ yếu là điều chỉnh
quan hệ quốc nội giờ đây phát triển nhanh
cả việc điều chỉnh quan hệ có tính quốc tế
Vị trí, vai trò của các công ước quốc tế, hiệp
ước quốc tế, hiệp định quốc tế, tập quán quốc tế ngày càng gia tăng trong đời sống x2 hội
2 Toàn cầu hoá và thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ở Việt Nam hiện nay Toàn cầu hoá làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam trở thành hệ thống pháp luật
mở Các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia cùng với các tập quán quốc tế mà Việt Nam thừa nhận trở thành một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam Thực tiễn đó buộc chúng ta phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các nguồn của pháp luật quốc tế và các nguồn của pháp luật quốc gia
Theo Serge Sur - giáo sư đại học Paris X, quan điểm phổ biến hiện nay về các nguồn của pháp luật quốc tế bao gồm điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế, các quyết định của toà án quốc tế, các học thuyết của các nhà luật học công pháp có uy tín được thừa nhận rộng r2i trên thế giới.(4)
Trong các nguồn trên của pháp luật quốc
tế thì ba nguồn đầu là nguồn chính, hai nguồn sau là nguồn phụ Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ muốn bàn về mối quan hệ giữa các nguồn chính của pháp luật quốc tế với các nguồn chính của pháp luật quốc gia
2.1 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế
Đó là các nguyên tắc sau đây:
- Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia
- Nguyên tắc không dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực trong các quan hệ quốc tế
Trang 3- Nguyên tắc hoà bình giải quyết các
tranh chấp quốc tế
- Nguyên tắc không can thiệp vào công
việc nội bộ của quốc gia khác
- Nguyên tắc tự nguyện thực hiện các
cam kết quốc tế
- Nguyên tắc dân tộc tự quyết
- Nguyên tắc các quốc gia có trách
nhiệm hợp tác với nhau
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
quốc tế là tư tưởng chỉ đạo bắt buộc các
quốc gia và các chủ thể khác khi tham gia
các quan hệ quốc tế phải thực hiện Các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế
cũng có thể được coi là các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật quốc gia, bởi hiến pháp
của các quốc gia thông thường được xây
dựng phù hợp với những nguyên tắc cơ bản
của pháp luật quốc tế Nếu quốc gia nào đó
có điều luật nào trong hiến pháp mâu thuẫn
với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật
quốc tế thì người ta chỉ có thể sửa đổi các
quy định đó cho phù hợp với các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật quốc tế chứ không thể
làm điều ngược lại Từ đây có thể đi đến kết
luận các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
quốc tế có vị trí cao hơn hiến pháp của các
quốc gia
2.2 Đối với điều ước quốc tế
Việc thực hiện các chức năng đối nội và
đối ngoại của Nhà nước cộng hoà XHCN
Việt Nam cũng như các nhà nước khác được
tiến hành trên cơ sở quy định của Hiến pháp
- đạo luật cơ bản của nhà nước Như vậy, khi
đàm phán và kí kết các điều ước quốc tế
trước hết các nhà chức trách phải xem xét
điều ước quốc tế đó có trái với quy định của
Hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật quốc tế không Vì vậy, chúng ta có thể suy ra vị trí của điều ước quốc tế mà Chủ tịch nước hay Chính phủ kí kết hoặc quyết
định tham gia phải có vị trí thấp hơn Hiến pháp của quốc gia Minh chứng vấn đề này chúng ta có thể lấy Điều 3 Pháp lệnh quy
định về nguyên tắc kí kết điều ước quốc tế
1998 làm ví dụ: "Điều ước quốc tế được kí kết trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền
và toàn vẹn lGnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình
đẳng và cùng có lợi, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và các quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà
xG hội chủ nghĩa Việt Nam"
Trong mối quan hệ với luật và văn bản dưới luật thì điều ước quốc tế có hiệu lực pháp lí cao hơn Ngoại trừ Hiến pháp, các văn bản luật và dưới luật đều có quy định chung trong trường hợp các văn bản đó mâu thuẫn với điều ước quốc tế thì áp dụng điều
ước quốc tế
Ví dụ: Khoản 4 Điều 15 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 quy định: "Bộ luật dân
sự cũng được áp dụng đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trừ trường hợp
điều ước quốc tế mà Cộng hoà xG hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia có quy
định khác" Điều 6 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 1990 quy định: "Nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc công nhận
có quy định khác với Bộ luật này thì áp dụng
điều ước quốc tế"
Khoản 2 Điều 5 Bộ luật hình sự năm
1999 quy định: "Đối với người nước ngoài phạm tội trên lGnh thổ nước Cộng hoà xG hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng
Trang 4được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao
hoặc quyền ưu đGi và miễn trừ về lGnh sự
theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước
quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia
hoặc theo tập quán quốc tế thì vấn đề trách
nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng
con đường ngoại giao" Điều 13 Luật quốc
tịch Việt Nam năm 1998 quy định: "Trong
trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam kí
kết hoặc tham gia có quy định khác với quy
định của Luật này thì áp dụng điều ước quốc
tế" Từ những quy định trên của pháp luật
Việt Nam có thể xác định các điều ước quốc
tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia có hiệu
lực thấp hơn Hiến pháp nhưng cao hơn các
văn bản luật, bộ luật và các văn bản pháp
luật khác và như vậy có thể xếp nó có vị trí
thứ 2 trong hệ thống các văn bản pháp luật
Việt Nam
2.3 Đối với tập quán quốc tế
Đối với các tập quán quốc tế thì việc xác
định vị trí của nó trong hệ thống các văn bản
quy phạm pháp luật Việt Nam hiện nay
không phải là công việc dễ dàng Lí do là có
rất ít văn bản quy phạm pháp luật đề cập
việc áp dụng tập quán quốc tế và các văn
bản đó lại quy định khác nhau Theo khoản
3, Điều 5 Bộ luật hình sự năm 1999 thì đối
với người nước ngoài phạm tội trên l2nh thổ
Việt Nam thuộc các đối tượng được hưởng
các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền
ưu đ2i và miễn trừ về l2nh sự theo pháp luật
Việt Nam việc áp dụng tập quán quốc tế sẽ
được thực hiện Như vậy, tập quán quốc tế
chiếm ưu thế so với quy định của Bộ luật
hình sự Việt Nam Theo quy định của Pháp
lệnh về quyền ưu đ2i miễn trừ dành cho cơ
quan đại diện ngoại giao, cơ quan l2nh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam ban hành năm 1993(5)
thì Pháp lệnh này bao gồm các quy định phù hợp với các
điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia và tập quán quốc tế Trong trường hợp này, tập quán quốc tế có vị trí cao hơn pháp lệnh Tuy nhiên trong những trường hợp khác thì tập quán quốc tế có vị trí thấp hơn pháp luật Việt Nam Ví dụ, khoản 3
Điều 4 Luật thương mại Việt Nam năm
1997 quy định: "Các bên trong hợp đồng
được thoả thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế, nếu tập quán thương mại quốc
tế không trái với pháp luật Việt Nam" Khoản 4, Điều 827 Bộ luật dân sự Việt Nam quy định: "Trong trường hợp quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xG hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà cộng hoà xG hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng tập quán quốc tế không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xG hội chủ nghĩa Việt Nam”
2.4 Thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và các nguồn chính của pháp luật quốc gia ở một số nước
Để thực hiện các điều ước quốc tế, nhiều quốc gia trên thế giới có cơ chế mềm dẻo nhưng rõ ràng và chặt chẽ đảm bảo cho điều
ước quốc tế được tôn trọng và thực hiện Hiến pháp năm 1958 của Cộng hoà Pháp tại
Điều 55 đ2 quy định: "Các hiệp ước hay hiệp định quốc tế đG được phê chuẩn theo
Trang 5thủ tục, sau khi công bố có hiệu lực cao hơn
luật và được thực hiện với điều kiện hiệp
ước hay hiệp định đó cũng được phía bên
kia thực hiện".(6) Cùng với quy định trên
đây, còn có quy định tại Điều 53, theo đó:
"Các hiệp định về hoà bình, về thương mại,
các hiệp ước hay hiệp định về tổ chức quốc
tế, về tài chính quốc gia, các hiệp ước hay
hiệp định liên quan đến việc phải sửa đổi
luật quốc gia, liên quan đến địa vị pháp lí
của con người và công dân, liên quan đến sự
chuyển nhượng, trao đổi hay mở mang lGnh
thổ chỉ có thể phê chuẩn bằng một đạo
luật".(7) Khoản 4 Điều 15 Hiến pháp Cộng
hòa liên bang Nga năm 1993 cũng quy định:
"Những nguyên tắc và quy phạm phổ biến
của luật quốc tế cũng như các hiệp ước quốc
tế của Liên bang Nga là một bộ phận của hệ
thống pháp luật Liên bang Nga Nếu các
điều ước quốc tế mà Cộng hoà liên bang
Nga kí kết hoặc tham gia có các quy định
khác với quy định của các luật Liên bang thì
áp dụng quy định của điều ước quốc tế"
Điều 25 Hiến pháp Cộng hoà liên bang Đức
năm 1949 quy định: "Các quy phạm pháp
luật chung của pháp luật quốc tế có ưu thế
hơn luật và trực tiếp tạo ra các quyền và
nghĩa vụ cho những người sống trên lGnh thổ
Liên bang".(8) Bằng các quy định trên Pháp,
Đức, Nga đ2 thực hiện chuyển hoá chung
các điều ước quốc tế Riêng đối với Pháp thì
một số điều ước quốc tế quan trọng (đ2 nêu
trên) phải thực hiện chuyển hoá bằng đạo
luật ở Việt Nam, trong Hiến pháp cũng như
trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật không có điều luật nào xác định vị trí
của điều ước quốc tế trong hệ thống pháp
luật quốc gia Trong một số văn bản luật khác (đ2 nêu ở mục 1) đ2 đề cập việc ưu tiên
áp dụng điều ước quốc tế so với văn bản quy phạm pháp luật trong nước Tuy nhiên, nếu không quy định trong Hiến pháp hay trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì việc quy định về vấn đề này sẽ lặp đi lặp lại trong các văn bản quy phạm pháp luật và không bao giờ bao quát hết các văn bản 2.5 Các biện pháp cần thiết để giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế
và pháp luật quốc gia ở Việt Nam hiện nay
- Việt Nam cần phải đổi mới quan điểm
từ trước đến nay nhìn nhận hệ thống pháp luật của mình chỉ có văn bản luật và văn bản dưới luật mà không kể đến các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia Cần phải bổ sung vào Hiến pháp và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều luật nói về điều ước quốc tế, trong đó quy định
rõ công ước, hiệp ước và hiệp định quốc tế
mà Chủ tịch nước và Chính phủ Việt Nam thay mặt Nhà nước và Chính phủ Việt Nam
kí kết hoặc tham gia và được Quốc hội phê chuẩn là bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, có hiệu lực dưới Hiến pháp và cao hơn các luật
- Tất cả các điều ước quốc tế mà Việt Nam đ2 kí kết hoặc tham gia cần phải được
đăng công báo, hệ thống hoá, phổ biến tuyên truyền và giải thích rộng r2i cho nhân dân biết
- Để đảm bảo tính minh bạch của pháp luật tất cả các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành buộc phải
đăng công báo và chỉ sau khi đăng công báo mới có hiệu lực pháp luật Vì vậy, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 5 Nghị định số 101/CP
Trang 6ngày 23/9/1997 của Chính phủ về Quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật theo
hướng không phải chỉ văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương
mà văn bản quy phạm pháp luật ở tất cả các
cơ quan nhà nước phải đăng công báo trong
thời hạn chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày
công bố hoặc kí ban hành Tất cả các văn
bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực sau
khi đ2 đăng công báo 15 ngày
- Công báo phải được phát hành rộng r2i
hơn nữa, sao cho mọi công dân có thể mua
công báo một cách dễ dàng
- Đề nghị sửa đổi Điều 7 Nghị định số
101/CP ngày 23/9/1997 của Chính phủ về
Quy định chi tiết một số điều của Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật theo
hướng Chính phủ chịu trách nhiệm về việc
dịch Hiến pháp, các luật tổ chức bộ máy nhà
nước và một số văn bản pháp luật cần thiết
ra tiếng nước ngoài Bản dịch văn bản quy
phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài phải
đảm bảo đúng nội dung văn bản quy phạm
pháp luật được dịch và khi đ2 có sự xác
nhận của cơ quan có thẩm quyền về tính
chính xác của bản dịch thì chúng có giá trị
như bản gốc (hiện nay bản dịch văn bản
quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài
theo quy định tại Điều 7 nói trên chỉ có
giá trị tham khảo)
- Cần nghiên cứu thành lập Toà án Hiến
pháp để xem xét và phán quyết về tính hợp
hiến của các luật và các điều ước quốc tế
Đối với các luật, Toà án Hiến pháp có thể
xem xét tính hợp hiến sau khi luật có hiệu
lực còn đối với điều ước quốc tế Toà án hiến
pháp phải xem xét tính hợp hiến trước khi Quốc hội phê chuẩn
- Để đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hội nhập quốc tế và khu vực, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp luật phù hợp với chuẩn mực của nhà nước pháp quyền, không những hoàn thiện khung pháp luật quản lí hoạt động kinh tế mà còn hoàn thiện các thiết chế dân chủ, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước như ban hành
đạo luật trưng cầu dân ý, x2 hội hoá hoạt
động báo chí, xuất bản, vô tuyến truyền hình… như đ2 x2 hội hoá giáo dục Cần khôi phục lại quyền tự do xuất bản của công dân đ2 được quy định trong Điều 10 Hiến pháp năm 1946 cho phù hợp với Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 và Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị 1966
mà Việt Nam đ2 tham gia ngày 24/9/1982./
(1).Xem: Phan Do2n Nam - “Toàn cầu hoá”, Tạp chí Cộng sản 8/1996
(2).Xem: Tài liệu hướng dẫn nghiên cứu Văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia 2000, tr.41
(3).Xem: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị quốc gia 2001, tr.157
(4).Xem: Droit international public par Hubert Thierry, Serge Sur, Jean Combacau, charles Vallee Editions Montchrestien 1986, tr.34
(5) Pháp lệnh này được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 23/8/1993
(6).Xem: Les constitutions de la France - Charles Debbasch et Jean - Marie Pontier, DALLOZ, Paris
1989, tr.290
(7) Sđd, tr.2
(8).Xem: Các hiến pháp nước ngoài, Nxb BEK Matxcơva, 1997, tr.165 (bản tiếng Nga)