1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ

30 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tái Sử Dụng Lốp Ô Tô Đã Thải Bỏ
Tác giả Bùi Tuấn Anh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoài Nam
Trường học Trường Đại Học Thủy Lợi
Chuyên ngành Tái Sử Dụng Chất Thải
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 5,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC TÁI SỬ DỤNG CHẤT THẢI ĐỀ TÀI TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ Giáo viên hướng dẫn Hà Nội, 052022 MỤC LỤC 2DANH MỤC HÌNH 2DANH MỤC BẢNG 3MỞ ĐẦU 31 Sự cần thiết của đề tài 32 Mục tiêu nghiên cứu 33 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Error Bookmark not defined 4 Phương pháp nghiên cứu 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ TH.

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC TÁI SỬ DỤNG CHẤT THẢI

ĐỀ TÀI: TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ

Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Hoài Nam

Học viên thực hiện: Bùi Tuấn Anh

Hà Nội, 05/2022

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH 2

DANH MỤC BẢNG 2

MỞ ĐẦU 3

1 Sự cần thiết của đề tài 3

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ THẢI BỎ LỐP XE 5 1.1 Giới thiệu lịch sử, Thành phần và cấu tạo của lốp xe 5

1.1.1 Lịch sử ngành săm lốp thế giới 5

1.1.2 Lịch sử ngành ngành săm lốp tại Việt Nam 10

1.1.3 Thành phần và cấu tạo của lốp xe 11

1.2 Quy trình sản xuất lốp ô tô 13

1.3 Hiện trạng sử dụng và thải bỏ lốp xe 14

1.4 Ảnh hưởng của lốp xe thải bỏ đến môi trường14

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ 17 2.1 Ý nghĩa thực tiễn của việc tận dụng lốp phế thải 17

2.2 Các phương pháp xử lý hiện đang sử dụng 17

2.2.1 Phục hồi cao su lốp lại lốp cũ đã sử dụng 17

Trang 3

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Quy trình sản xuất lốp oto 13

Hình 2.1 Hình ảnh lốp oto làm bàn ghế 21

Hình 2.2 Hình ảnh lốp oto làm ghế xích đu 21

Hình 2.3 Hình ảnh lốp oto làm dép 22

Hình 2.4 Hình ảnh lốp oto làm dây thắt lưng 22

Hình 2.5 Sơ đồ dây chuyền công nghệ của hệ thống xử lý nhiệt phân 24

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Yếu tố đầu vào và đầu ra khi nhiệt phân 26

Bảng 2.2 So sánh chất lượng dầu FO-R với Diesel 27

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Lượng xe ô tô và xe máy đang ngày càng tăng nhanh đồng nghĩa với lượng lốp

xe thải ngày càng tăng dần theo xu thế phát triển Hầu hết các loại cao su phế thải đềurất khó phân hủy, phải mất vài chục năm thì mới phân hủy được vào đất Lốp xe thảithực sự trở thành một thách thức lớn khi các thành phố còn đang tìm hướng quy hoạchnhững bãi chôn lấp hợp vệ sinh cho rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp

Hiện nay, Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang gặp nhiều vấn đềkhó khăn trong việc giải quyết ô nhiễm môi trường do lốp ôtô cũ phế thải gây ra Lốpôtô cũ thải bỏ vẫn còn độ bền môi trường rất cao, khả năng phân huỷ trong tự nhiên rấtlâu đến hàng trăm năm, vì vậy nó có khả năng gây ô nhiễm tiềm tàng cho môi trườngsống của con người Trên thế giới, các nghiên cứu về tình hình sản xuất, sử dụng vàthải bỏ lốp xe phế thải đã được quan tâm từ đầu thập niên 90 và cũng đang tiếp tụcđược nghiên cứu ở các nước phát triển như Mỹ,

Canada, và một số nước châu Á Ở nước ta hiện nay, lốp xe phế thải cũng đangđược thu gom, tái sử dụng và tái chế với nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, cáchoạt động tái chế lốp cao su phế thải còn tự phát, chưa được hỗ trợ quản lý hợp lý.Các nghiên cứu khoa học về vấn đề sản xuất, sử dụng, thải bỏ lốp xe, các tác động môitrường, cũng như các giải pháp về xử lý, tái chế còn hạn chế trong các công bố trongnước và quốc tế

Việc nghiên cứu tận dụng lốp ôtô cũ phế thải này để sản xuất loại vật liệu mới

sẽ đem lại hiệu quả kinh tế và đồng thời đem lại hiệu quả to lớn về mặt xã hội đó làgiảm thiểu ô nhiễm môi trường do lốp ôtô cũ phế thải gây ra

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tầm quan trọng của việc nghiên cứu những biện pháp nhằm xử lý lốp

ô tô thải bỏ

Đưa ra các biện pháp xử lý, tái chế, tái sử dụng lốp xe ô tô thải bỏ thích hợpnhằm tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, bảo vệ môi trường

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Lốp xe oto cũ loại bỏ

Phạm vi nghiên cứu: Lãnh thổ Việt Nam

3

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ THẢI BỎ LỐP XE 1.1 Giới thiệu lịch sử, thành phần và cấu tạo của lốp xe

1.1.1 Lịch sử ngành săm lốp thế giới

Lốp xe là bộ phận duy nhất trên mỗi chiếc xe tiếp xúc trực tiếp với mặt đường

và chịu toàn bộ tải trọng của xe Ngoài chức năng chính là chuyền lực kéo của động cơxuống mặt đường giúp xe di chuyển, thì lốp xe còn có tác dụng mang lại sự linh hoạtcho chuyển động của xe và giảm các rung chấn truyền ngược lại từ mặt đường Do đó,chất lượng của lốp xe ảnh hưởng rất lớn tới khả năng vận hành, tính an toàn, độ tiêuhao nhiên liệu của xe, đồng thời ảnh hưởng tới cảm giác lái, sự thoải mái của người lái

và người ngồi trong xe Những chiếc lốp xe đầu tiên Ngành công nghiệp sản xuất lốp

xe thế giới đã trải qua 200 năm lịch sử với rất nhiều giai đoạn phát triển Những chiếclốp xe đầu tiên là những dải da hoặc sắt, được bọc xung quanh vành bánh xe bằng gỗnhằm bảo vệ bánh xe khỏi những vật cản trên đường, tuy nhiên không giúp giảm chấn,giảm sóc cho xe Dù đã được tìm ra bởi Charles Macintosh vào những thập niên đầuthế kỷ 19, cao su tự nhiên chưa có những đặc tính phù hợp để được sử dụng làm lốp

xe, do nó dễ chảy và dính khi gặp nhiệt độ cao nhưng lại dễ cứng lại khi gặp nhiệt độthấp; tính đàn hồi, tính chịu lực cũng như tính bền, tính kháng thời tiết thấp Chỉ chođến khi Charles Goodyear phát minh thành công cao su lưu hoá vào năm 1839, vớitính đàn hồi, tính bền và kháng thời tiết vượt trội so với cao su chưa lưu hoá, nhữngchiếc lốp xe cao su đã ra đời và thay thế cho những chiếc lốp da, lốp sắt Ở giai đoạnnày, lốp xe vẫn là những dải cao su đặc dẹt bọc quanh vành bánh xe Đến năm 1845,Robert William Thomson là người đầu tiên phát minh ra lốp xe bơm khí nén, đượcthiết kế với nhiều ống cao su nhỏ chứa khí nén được ghép lại với nhau và bọc trongmột lớp da, giúp giảm sóc cho xe Tuy nhiên do còn nhiều hạn chế, những chiếc lốp xevới thiết kế này chưa từng được sản xuất đại trà, và những chiếc lốp cao su kiểu cũ vẫnđược sử dụng

Năm 1888, những chiếc lốp xe bơm khí nén đầu tiên được sản xuất với quy môcông nghiệp, sau khi John Boyd Dunlop thử nghiệm thành công loại lốp này trênnhững chiếc ô tô ba bánh Giai đoạn cuối thế kỷ 19, ô tô ba bánh ngày càng được sửdụng nhiều hơn, giúp cho lốp xe bơm khí nén trở nên rất phổ biến và đã được sử dụngcho giải đua xe ô tô từ Paris đến Bordeaux Do vậy, đây có thể được coi là cột mốc đầutiên đánh dấu sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất săm lốp

 Lốp Bias

Trong suốt 50 năm tiếp theo, công nghệ sản xuất lốp xe đã đạt được nhữngbước cải tiến vượt bậc dựa trên xương sống là thiết kế lốp dạng bias Những cải tiến cóthể kể đến như thiết kế lại vành bánh xe để việc thay thế lốp dễ dàng hơn; hoa lốp giúpcải thiện độ bám đường và bảo vệ lốp khỏi những vật cản; sử dụng carbon đen (muộithan) để tăng tính kháng thời tiết, tăng độ bền cho lốp; phát minh lốp không săm Đặc

5

Trang 7

biệt với việc Du Pont sản xuất thành công cao su tổng hợp với quy mô công nghiệpvào năm 1931, ngành công nghiệp sản xuất săm lốp đã có thêm nguồn cung nguyênliệu đầu vào mới, bớt phụ thuộc vào cao su thiên nhiên và có điều kiện nâng cao chấtlượng, sản lượng lốp xe.

Riêng với dòng lốp không săm, năm 1952 có thể được coi là thời điểm đầu tiênloại lốp này được sản xuất với quy mô công nghiệp bởi công ty BF Goodrich Vớinhiều ưu điểm vợt trội so với lốp có săm, nó đã được sử dụng ngày càng rộng rãi vàdẫn tới việc loại bỏ săm trên ô tô Cho tới nay, ngành săm lốp đã không còn xuất hiệntrên các mẫu xe ô tô hiện đại, mà chỉ còn được sử dụng trên những dòng xe cổ, xetrưng bày, và trên xe máy, xe đạp

Lốp BIAS có các rãnh đan chéo nhau khi chúng nằm chồng lên nhau Vì vậy,một lớp sẽ nằm theo một đường chéo (từ 30- 40 độ so với hướng di chuyển) trong khilớp kia sẽ nằm theo hướng ngược lại và sẽ tạo ra dấu "X" Ta cũng có thể nhận thấy rõviệc có nhiều lớp trong một lốp bias là điều bình thường, thường là 4, 6, 8, hoặc thậmchí 10 lớp

- Cấu trúc lốp đơn giản hơn khiến giá thành hạ hơn lốp Radial

- Nó có thể kéo hướng tâm làm cho độ uốn các thành bên có độ bền hơn

- Khả năng chống cắt, thủng cao hơn do làm từu nhiều cao su

Nhược điểm:

- Sự mài mòn lốp diễn ra nhanh hơn;

- Lực cản lăn lớn, điều này sẽ làm tăng tiêu hao nhiên liệu;

- Dưới sự tác dụng của lắc ngang sẽ có thể làm giảm khả năng kéo của bánh xekhi quay vòng (ảnh hưởng cũng từ việc lốp làm nhièu cao su)

 Lốp Radial

Sự ra đời của lốp Radial đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ tiếp theo củangành công nghiệp săm lốp thế giới Mặc dù đã được nghiên cứu và phát triển bởingười Anh từ năm 1913, lốp radial chưa được sản xuất với quy mô công nghiệp và sửdụng phổ biến cho tới năm 1948, khi Michelin lần đầu giới thiệu loại lốp này ra thịtrường châu Âu Nhờ những ưu điểm về khả năng vận hành, tiết kiệm nhiên liệu, độ

Trang 8

bền so với lốp bias mà lốp radial đã được sử dụng rộng rãi và dần thay thế lốp bias, trởthành lốp xe tiêu chuẩn cho mỗi chiếc xe ô tô xuất xưởng trong suốt 20 năm sau đó ởnhững thị trường ngoài Mỹ Do cấu tạo phức tạp hơn, tính trung bình, chi phí sản xuấtmỗi chiếc lốp radial cao hơn khoảng 45% so với lốp bias; đồng thời chi phí để đổi mớidây chuyền sản xuất lốp, chi phí thay đổi thiết kế và cải tiến kỹ thuật sản xuất ô tô (do

ô tô với thiết kế cũ không phù hợp để sử dụng lốp radial) đã khiến cho những nhà sảnxuất ô tô và săm lốp ở Mỹ không sẵn sàng cho xu thế mới Cho tới năm 1967,Goodyear – nhà sản xuất lốp xe Mỹ và cũng là nhà sản xuất lốp xe lớn nhất thế giới tạithời điểm đó, đã tiếp nhận xu hướng lốp radial bằng một loại lốp bias cải tiến, có thiết

kế kết hợp hai loại lốp này, giúp nó có độ bền khoảng 30,000 dặm (so với 23,000 dặmcủa lốp bias thông thường, và 40,000 dặm của lốp radial), trong khi vẫn có thể đượcsản xuất bằng các dây chuyền công nghệ hiện có đồng thời phù hợp để sử dụng cho ô

tô có thiết kế cũ Chỉ sau vài năm đưa ra thị trường, loại lốp này đã chiếm tới 87% thịtrường lốp OEM ở Mỹ (từ 2% năm 1968) Cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973

đã dẫn tới giá nhiên liệu tăng mạnh và người dân Mỹ có nhu cầu lớn hơn đối vớinhững dòng xe tiết kiệm nhiên liệu Số lượng xe ô tô được nhập khẩu vào Mỹ tăngnhanh chóng (từ mức chiếm 15% sản lượng tiêu thụ xe ở Mỹ năm 1973 lên 28% vàođầu thập niên 80) Những dòng xe nhập khẩu này được lắp sẵn lốp radial, và có thiết

kế phù hợp với dòng lốp này Nhờ vậy, người Mỹ đã nhận ra hiệu quả kinh tế lâu dài

mà dòng lốp radial mang lại Cho tới năm 1983, tất cả xe ô tô sản xuất mới ở Mỹ đượclắp sẵn lốp radial, và các nhà sản xuất lốp xe Mỹ cũng chuyển trọng tâm sang dòng lốpnày Từ đó tới nay, công nghệ sản xuất lốp xe tiếp tục được nghiên cứu, cải tiến vớimối quan tâm về mức độ an toàn, hiệu năng vận hành của lốp xe, và bảo vệ môitrường Các công nghệ mới có thể kể đến như lốp xe run-flat: trong trường hợp bịthủng lốp vẫn có thể giúp xe tiếp tục di chuyển với tốc độ lên tới 80km/h trong mộtkhoảng thời gian nhất định, tránh những tai nạn do sự cố thủng lốp bất ngờ Các loạilốp xe hiệu năng cao/siêu cao (Ultra High Performance tyre – UHP) được thiết kế chonhững dòng xe sang, xe thể thao, hướng tới những khách hàng có thu nhập cao, quantâm tới khả năng vận hành cao của xe Bên cạnh đó, với sự quan tâm ngày càng lớnđến các vấn đề về môi trường, những loại lốp xe thân thiện với môi trường như lốpdành cho xe chạy nguyên liệu hydrogen, xe ô tô điện hay lốp xe giúp giảm tiêu haonhiên liệu ngày càng được sản xuất và sử dụng rộng rãi hơn Như vậy, kết cấu lốp xeradial đang ngày càng trở nên phổ biến hơn so với kết cấu lốp bias trên phạm vi toàncầu Trong tương lai gần, các nhà sản xuất lốp xe tiếp tục tập trung nghiên cứu, pháttriển các công nghệ sản xuất lốp có tiêu chuẩn an toàn cao hơn, khả năng tiết kiệmnhiên liệu tốt hơn và thân thiện với môi trường hơn Bên cạnh đó, một số công nghệmới ví dụ như lốp xe không hơi cũng đang được nghiên cứu và phát triển, có thể manglại những thay đổi cho ngành săm lốp thế giới trong tương lai

Ưu điểm:

- Lốp thoát nhiệt tốt khi chạy ở tốc độ cao với trạng thái có tải nên bền hơn;

7

Trang 9

- Lớp sợi giúp cấu trúc xương của lốp cứng hơn, khả năng chống bị đâm thủng lốp caohơn;

- Mặt lốp tiếp xúc đều với mặt đường hơn khiến khả năng bám tốt hơn, hoa lốp mònđều hơn;

- Mặt lốp rộng (do sử dụng ít cao su) khiến vết bánh xe lớn hơn, tính điều khiển tốthơn và xe chạy ổn định hơn (đặc biệt ở tốc độ cao)

- Lốp cho lực cản lăn thấp do vậy tiết kiệm nhiên liệu hơn

- Đối với đường địa hình, lốp radial cung cấp độ uốn dẻo tốt hơn và bám nhiều hơntrên đá và cát so với lốp Bias

 Nhược điểm:

- Cấu trúc lớp sợi kim loại khiến lốp có khối lượng nặng hơn, cứng hơn, kém êm dịu;

- Khả năng bảo vệ thành bên của lốp kém;

- Lốp cứng nên ồn hơn

Trang 11

1.1.2 Lịch sử ngành ngành săm lốp tại Việt Nam

Với cơ sở hạ tầng kém phát triển sau một khoảng thời gian dài khắc phục hậuquả nặng nề của chiến tranh, ngành công nghiệp sản xuất lốp xe của Việt Nam hiệnkhá non trẻ so với thế giới Bắt đầu từ năm 1960, nhà máy sản xuất lốp ô tô bias đầutiên được đưa vào hoạt động nhờ sự viện trợ từ Trung Quốc, với công suất 50,000 lốpmột năm Cùng thời gian đó, nhà máy sản xuất lốp xe đạp của

Michelin và một số nhà máy sản xuất lốp xe hơi, xe tải nhẹ khác như Châu Bá,

Lê Văn Hậu, nhà máy cao su Sao Vàng (nay là Công ty Cổ phần Cao su Sao Vàng)cũng được xây dựng và đưa vào hoạt động Tháng 12/1975, nhà máy cao su Đà Nẵng

ra đời (sau này là Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng), tiền thân là một xưởng đắp lốp

xe của quân đội chính quyền Sài Gòn trước 30/4/1975 Năm 1976, Công ty côngnghiệp cao su Miền Nam được thành lập, nay là Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao suMiền Nam Tuy nhiên, giai đoạn 1960 – 1990 là giai đoạn chiến tranh và khắc phụchậu quả, ngành săm lốp Việt Nam không có bước phát triển nào đáng kể

Việc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam (được Tổngthống Hoa Kỳ Bill Clinton thông báo vào ngày 3/2/1994) đã mở ra cánh cửa chonhững dòng vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam Cùng với sự đầu tư mạnh mẽ từnhững nguồn lực trong nước, cơ sở hạ tầng của Việt Nam đã đạt được những bước tiến

bộ nhanh chóng, giúp cho ngành công nghiệp sản xuất săm lốp phát triển vượt bậctrong giai đoạn 1990 – 2000 Trong giai đoạn này, ba doanh nghiệp sản xuất lốp xe nộiđịa lớn nhất là Casumina, Đà Nẵng và Sao Vàng đã mở rộng quy mô sản xuất, nângtổng sản lượng hàng năm lên 3 triệu lốp xe ô tô và 8 triệu lốp xe máy Bên cạnh đó, vớilợi thế nguồn nguyên liệu cao su tự nhiên dồi dào và nhân công giá rẻ, Việt Nam đã

Trang 12

thu hút một số thương hiệu săm lốp hàng đầu thế giới như Bridgestone, Michelin,Kumho hay Yokohama Những doanh nghiệp này, với tiềm lực tài chính mạnh mẽ và

bề dày kinh nghiệm, đã đóng góp đáng kể vào chất lượng, tổng công suất và giá trịxuất khẩu săm lốp của Việt Nam

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Cao su Việt Nam, tính đến năm 2013, cảnước có 830 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành săm lốp, trong đó có 30 doanhnghiệp sản xuất (bao gồm cả các doanh nghiệp FDI), 170 doanh nghiệp thương mại,

170 nhà xuất khẩu và 460 nhà nhập khẩu lớn nhỏ Nhà sản xuất lốp nội địa Casuminađược xếp hạng 68 trong danh sách những doanh nghiệp sản xuất lốp lớn nhất thế giớitheo thống kê năm 2015 của Tire Business

Các dự án đầu tư lớn có thể kể đến như nhà máy sản xuất lốp của Kumho vớivốn đầu tư 200 triệu USD cho công suất hơn 3 triệu lốp một năm; nhà máy sản xuấtlốp xe ô tô con của Bridgestone với tổng vốn đầu tư 1.2 tỉ USD và tổng công suất dựkiến sẽ đạt tới 49,000 lốp/ngày từ nửa đầu năm 2017 (ước tính trên 10 triệu lốp/năm)phục vụ hoàn toàn cho xuất khẩu

1.1.3 Thành phần và cấu tạo của lốp xe

Lốp xe là sản phẩm phức tạp, kết hợp bởi các thành tố công nghệ cao, bao gồm:hơn 200 nguyên liệu thô khác nhau

Hình 1.1 Cấu tạo các lớp của oto

11

Trang 13

Hình 1.2 Mặt cắt ngang của lốp

Tất cả mọi loại vỏ lốp đều có những yếu tố chung trong thành phần cấu tạo như sau:Bead (vành trong): Là vòng dây thép chạy quanh chu vi nhỏ của lốp, để giữ cho vỏgắn vào niền bánh xe, đồng thời giúp cho vỏ cứng cáp hơn

Casing: Là phần dây gai nằm bên trong, giúp tạo hình cho lốp khi được bơm đầykhông khí

Belts: Là phần sợi thép chạy quanh lốp xe Trước đây, belts được làm bằng dây gai(cotton), dần dần được thay bằng các chất liệu khác - như sợi thuỷ tinh, nilon vàpolyester - để tăng cường độ bền cho lốp, nhưng nay đã được thay cả bằng sợi thép(steel), chính vì thế chúng ta thường thấy chữ “steel-belted” ghi trên thành lốp Phầnlớn do cấu tạo của lớp này mà người ta đặt tên lốp là loại nào, và đồng thời, xác địnhgiá cả của lốp

Treads: Bề mặt bên ngoài, có những đường ren xiên ngang tiếp xúc với mặt đường.Cấu hình đường xiên là để tăng cường độ bám đường Nhờ đó, xe có thể lướt đi antoàn trong nhiều điều kiện đường sá - khi bẻ cua, hoặc chạy trên mặt đường trơn ướt

Vì tiếp xúc trực tiếp với mặt đường, nên Treads là phần lốp mau mòn nhất Ðây làchuyện không thể tránh được Tuy nhiên, có những cách giúp chúng ta điều chỉnh đểlốp mòn đều, và nhờ đó gia tăng tuổi thọ của lốp

Trang 14

1.2 Quy trình sản xuất lốp ô tô

Hình 1.3 Quy trình sản xuất lốp oto

 Qui trình pha trộn

Nguyên liệu gồm có chất nhuộm, hoá chất, và có đến 30 loại cao su khác nhau đượctrộn trong những máy trộn khổng lồ gọi là máy Banbury, hoạt động ở nhiệt độ và ápsuất rất cao Máy sẽ trộn các thành phần này thành một phức hợp màu đen quánh đặc

và sẽ được nghiền cán qua nhiều lần để đạt độ mịn

 Qui trình cán

Cao su sau khi nguội được xử lý thành từng tấm và chuyển qua máy cắt Tại đây,những thành phần phức hợp khác được chuẩn bị để đưa vào, ở đó cao su được cắt rathành từng dải để tạo hình sườn hông, mặt lốp và những phần khác của sản phẩm Mộtlớp cao su đặc biệt phủ bọc lên lớp vải bố sẽ hình thành thân lốp Nhà chế tạo sử dụngnhiều loại sợi bố khác nhau, có thể là sợi polyester, tơ nhân tạo (rayon) hoặc sợi ni-lông

 Vành lốp (Ta-lông)

Phần đai gờ mép trong của lốp có dạng vòng được gọi là vành lốp Khi gắn vào mâmbánh nó sẽ ôm chặt vào viền mâm Bố lốp Đây là phần sợi chịu lực, gồm hai lớp bố, ănliền với các dải đệm (chafer) gia cường đễ chịu lực và bảo vệ sườn lốp khi ráp lênmâm bánh xe

 Mặt gai lốp

Một lớp bố thép được thêm vào để bảo vệ lốp khó bị vật nhọn xuyên thủng và giữ lốpcứng chắc trên mặt đường Mặt gai lốp là phần trên sau cùng của lốp Sau khi các trụccán tự động ép tất cả thành phần lại với nhau, lốp xe, ở giai đoạn này, gọi là lốp xanh

13

Trang 15

(green tyre), sẵn sàng được đưa qua gia cố nhiệt định hình (curing) và kiểm tra kỹthuật.

 Gia cố định hình (curing)

Với khuôn ép định hình, quá trình xử lý nhiệt sẽ định hình hoàn chỉnh biên dạng vàkiểu gai mặt lốp Khuôn nóng sẽ định dạng và lưu hoá cao su lốp Khuôn ép bao gồmthiết kế kiểu dạng gai, các mã hiệu trên sườn lốp của nhà sản xuất và các qui cách kháctheo luật định Lốp được xử lý lưu hoá ở nhiệt độ trên 300o độ trong khoảng từ 12 đến

25 phút, tuỳ theo kích cỡ lốp

 Kiểm tra chất lượng

Nếu lốp có bất kỳ khuyết điểm nào – hoặc nghi ngờ có khuyết điểm, cho dù là khuyếttật nhỏ nhất - lốp sẽ bị loại ngay Một số lỗi được chuyên viên kiểm tra chất lượng lànhnghề phát hiện bằng mắt hoặc bằng tay; những lỗi khác được kiểm tra bằng máychuyên dụng Việc xét soát không dừng ở bề mặt Một vài lốp được lấy ra từ dâychuyền sản xuất và đưa qua máy X-quang để phát hiện những khuyết tật tiềm ẩn hoặcnhững hư hỏng bên trong Ngoài ra, kỹ sư kiểm tra chất lượng thường xuyên cắt một

số lốp chọn ngẫu nhiên thành mảnh nhỏ để nghiên cứu từng mỗi chi tiết của cấu cấutạo có thể ảnh hưởng đến việc vận hành và chạy xe an toàn

1.3 Hiện trạng sử dụng và thải bỏ lốp xe

Năm 2016, Theo ước tính, mỗi năm nước ta thải ra khoảng 400.000 tấn cao suphế liệu (tương đương với 30.000 tấn/tháng) Chính vì vậy, việc xử lý rác thải từ lốpcao su luôn là vấn đề nan giải, bởi đặc thù của cao su là rất khó phân huỷ, phải mất vàichục năm thì cao su mới phân hủy được vào đất Từ trước đến nay, hầu hết các nơi đều

xử lý rác thải từ lốp cao su bằng các đốt hoặc ép ra thành dầu đốt, tuy nhiên cả 2 cáchnày đều khiến môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng” Mỗi năm nước ta thải rakhoảng 400.000 tấn cao su phế liệu (tương đương với 30.000 tấn/tháng)

Cũng theo nghiên cứu của nhà máy Sagama Việt Nam, hiện nay có tới 50% sốlốp rác thải bị vứt trên mặt đất (số lượng này sẽ mất rất lâu để phân huỷ vào đất), 40%lốp rác thải được tiêu huỷ bằng các đốt (số này khiến mỗi trường bị ảnh hưởng rấtnhiều) và chỉ có 10% được tái sử dụng bởi các cách phổ thông, thô sơ Chính vì đó,nhà máy sản xuất hạt cao su, gạch và thảm cao su từ lốp xe ô tô phế thải được xâydựng nhằm đáp ứng lượng lớn lốp xe ô tô phế liệu bỏ đi Với công nghệ sản xuất chủyếu là xén thật nhỏ các loại rác phế thải từ cao su thành những hạt cao su nhỏ sau đó

ép thành các đồ dung thường ngày hoặc làm sân cỏ nhân tạo nên việc ảnh hưởng đếnmôi trường do đun, đốt là không có

1.4 Ảnh hưởng của lốp xe thải bỏ đến môi trường

Ở hầu hết các nước phát triển đều có nhà máy tái chế lốp xe cũ bằng công nghệnhiệt phân, cho ra sản phẩm là dầu chất lượng thấp có thể dùng làm nhựa đường hoặcdầu nhiên liệu Tuy nhiên, việc xử lý chất thải sinh ra từ quá trình này lại rất tốn kém

Ngày đăng: 17/05/2022, 16:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu tạo các lớp của oto - TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ
Hình 1.1. Cấu tạo các lớp của oto (Trang 12)
Hình 1.2. Mặt cắt ngang của lốp - TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ
Hình 1.2. Mặt cắt ngang của lốp (Trang 13)
Hình 1.3. Quy trình sản xuất lốp oto - TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ
Hình 1.3. Quy trình sản xuất lốp oto (Trang 14)
Hình 2.1. Hình ảnh lốp oto làm bàn ghế - TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ
Hình 2.1. Hình ảnh lốp oto làm bàn ghế (Trang 22)
Hình 2.2. Hình ảnh lốp oto làm ghế xích đu - TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ
Hình 2.2. Hình ảnh lốp oto làm ghế xích đu (Trang 22)
Hình 2.4. Hình ảnh lốp oto làm dây thắt lưng - TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ
Hình 2.4. Hình ảnh lốp oto làm dây thắt lưng (Trang 23)
Hình 2.3. Hình ảnh lốp oto làm dép - TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ
Hình 2.3. Hình ảnh lốp oto làm dép (Trang 23)
Hình 2.5. Sơ đồ dây chuyền công nghệ của hệ thống xử lý nhiệt phân - TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ
Hình 2.5. Sơ đồ dây chuyền công nghệ của hệ thống xử lý nhiệt phân (Trang 25)
Bảng 2.1. Yếu tố đầu vào và đầu ra khi nhiệt phân - TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ
Bảng 2.1. Yếu tố đầu vào và đầu ra khi nhiệt phân (Trang 27)
Bảng 2.2. So sánh chất lượng dầu FO-R với Diesel - TIỂU LUẬN TÁI SỬ DỤNG LỐP Ô TÔ ĐÃ THẢI BỎ
Bảng 2.2. So sánh chất lượng dầu FO-R với Diesel (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w