1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển khu du lịch sinh thái bồ bồ điện bàn quảng nam

92 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 765,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu để phát triển loại hình du lịch này có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động thực tiễn du lịch, nhằm phát huy tối đa việc khai thác tài nguyên tự nhiên và nhân văn một cách

Trang 1

NG

ẠI HỌC SƢ PHẠM KHOA LỊCH SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ẠI HỌC

Thực trạng và giải pháp phát triển khu du lịch sinh thái

Bồ Bồ, iện Bàn, Quảng Nam

Trang 2

tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô!

Em cũng xin được cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử đã quan tâm

và tạo điều kiện để em hoàn thành khóa luận này

Đồng thời tôi cũng mong muốn được gởi lời cảm ơn tới tất cả bạn đồng môn của tôi – những người đã ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm khóa luận

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Hồ Quý Cường

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3.1 Mục đích nghiên cứu 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8

5.1 Nguồn tư liệu 8

5.2 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của đề tài 9

7 Bố cục của đề tài 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10

1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 10

1.1.1 Khái niệm du lịch 10

1.1.2 Khái niệm du lịch sinh thái 10

1.1.3 Khái niệm khách du lịch 11

1.1.4 Khái niệm thời vụ du lịch 11

1.1.5 Khái niệm kinh doanh du lịch 12

1.2 Các loại hình du lịch phổ biến 12

1.2.1 Du lịch văn hoá 12

1.2.2 Du lịch nghỉ dưỡng 13

1.2.3 Du lịch MICE 14

1.2.4 Du lịch thể thao 15

1.2.5 Du lịch tâm linh 15

1.2.6 Du lịch mùa hè 16

1.2.7 Du lịch TeamBuilding 17

1.3 Các loại hệ sinh thái tự nhiên phổ biến ở Việt Nam 19

1.4 Du lịch sinh thái và vai trò của du lịch sinh thái trong nền kinh tế 20

1.4.1 Khái quát về du lịch sinh thái 20

1.4.2 Vai trò của du lịch sinh thái trong nền kinh tế thế giới và ở Việt Nam 22

Trang 4

1.4.3 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến kinh tế tỉnh Quảng Nam 24

1.5 Những yếu tố tác động đến sự phát triển du lịch sinh thái 26

1.5.1 Tài nguyên du lịch 26

1.5.2 Nguồn nhân lực 26

1.5.3 Chính sách đối với ngành du lịch 27

1.5.4 Cơ sở vật chất – kĩ thuật 28

1.5.5 Sự đầu tư 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI BỒ BỒ , IỆN BÀN, QUẢNG NAM 29

2.1 Khái quát về huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam 29

2.1.1 Lịch sử hình thành 29

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 31

2.1.3 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 32

2.1.4 Tiềm năng du lịch văn hoá 34

2.1.4.1 Văn hoá sa huỳnh 34

2.1.4.2 Văn hoá Chămpa 36

2.1.4.3 Di tích lịch sử 37

2.1.5 Tài nguyên du lịch sinh thái 49

2.1.6 Vùng đất và con người 50

2.2 Điều kiện để phát triển du lịch sinh thái tại Bồ Bồ 53

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 53

2.2.2 Điều kiện văn hóa - xã hội 55

2.2.3 Điều kiện về kinh tế - chính trị 57

2.3 Thực trạng khai thác du lịch sinh thái tại Bồ Bồ 58

2.3.1 Hoạt động du lịch sinh thái tại Bồ Bồ trong những năm gần đây 58

2.3.2 Tình hình đầu tư cho khu vực Bồ Bồ 58

2.3.3 Công tác nghiên cứu và khảo sát đề án du lịch sinh thái tại Bồ Bồ trong thời gian qua 62

2.4 Đánh giá thực trạng du lịch sinh thái tại Bồ Bồ trong thời gian qua 63

2.5 Cơ hội và thách thức trong phát triển du lịch sinh thái tại Bồ Bồ 64

2.5.1 Cơ hội 64

2.5.2 Thách thức 65

Trang 5

CHƯƠNG 3: ỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH

SINH THÁI BỒ BỒ, IỆN BÀN, QUẢNG NAM 67

3.1 Định hướng phát triển du lịch sinh thái tại Bồ Bồ trong thời gian đến 67

3.1.1 Cơ sở định hướng 67

3.1.1.1 Dựa vào bản chất của du lịch sinh thái tại Bồ Bồ 67

3.1.1.2 Dựa vào mục tiêu và chính sách phát triển du lịch của tỉnh Quảng Nam 69

3.1.1.3 Dựa vào tiềm năng du lịch sinh thái tại khu vực Bồ Bồ 71

3.1.2 Những định hướng và giải pháp chung 71

3.1.2.1 Cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật 71

3.1.2.2 Công tác an ninh du lịch 73

3.1.2.3 Bảo vệ tài nguyên du lịch 74

3.1.3 Định hướng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Bồ Bồ 74

3.2 Giải pháp phát triển khu du lịch sinh thái Bồ Bồ - Điện Bàn, Quảng Nam 75

3.2.1 Giải pháp bảo vệ môi trường 75

3.2.2 Giải pháp bảo tồn các giá trị văn hoá tại vùng đất Bồ Bồ 77

3.2.3 Giải pháp quy hoạch quản lý, phát triển nguồn nhân lực 77

3.2.4 Giải pháp về xã hội 79

3.3 Xây dựng mô hình khu du lịch sinh thái Bồ Bồ theo hướng bền vững 79

3.3.1 Bản quy hoạch phân khu chi tiết 80

3.3.2 Xây dựng sản phẩm đặc trưng 84

3.4 Chiến lược phát triển khu du lịch sinh thái Bồ Bồ - Điện Bàn, Quảng Nam 85

3.4.1 Chiến lược marketting 85

3.4.1.1 Chiến lược tiếp thị: 85

3.4.1.2 Chiến lược bán hàng 86

3.4.2 Liên kết các sản phẩm du lịch trong vùng 86

3.4.3 Hợp tác với các công ty lữ hành 87

3.5 Kiến nghị đề xuất 88

KẾT LUẬN 90

Trang 6

MỞ ẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây trên thế giới, hình thái du lịch sinh thái và bảo tồn

có nhiều bước phát triển mạnh mẽ, trong đó quan trọng nhất là du lịch sinh thái, không chỉ tồn tại như một khái niệm hay một đề tài để suy ngẫm, mà đã trở thành

xu thế của toàn cầu Ở nhiều nước, vấn đề du lịch sinh thái được chú trọng và quan tâm bởi du lịch sinh thái mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững

Vùng đất Quảng Nam là nơi giao hòa của những sắc thái văn hóa Những công trình kiến trúc, các làng nghề truyền thống được hình thành và phát triển từ bao đời nay Nổi bật là Phố cổ Hội An và Khu di tích Mỹ Sơn được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới Không chỉ vậy nơi đây còn được biết đến bởi sự hòa hợp thiên nhiên - phong cảnh sơn thủy hữu tình, trong đó khu du lịch sinh thái Bồ

Bồ là một điểm dừng chân đầy thú vị Bồ Bồ là khu vực có thắng cảnh đẹp với những di tích lịch sử, hệ sinh thái đặc trưng cùng cánh rừng thông caribe bạt ngàn Tuy nhiên Bồ Bồ đang ngủ quên trong tiềm thức của người dân nơi đây hay nói đúng hơn Bồ Bồ ít được du khách biết đến

Mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé cho du lịch địa phương, thúc đẩy hoạt động du lịch sinh thái ở nơi đây, đồng thời đưa Bồ Bồ trở thành điểm du lịch

sinh thái thật hấp dẫn nên chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển khu du lịch sinh thái Bồ Bồ, Điện Bàn, Quảng Nam ” làm khóa luận tốt

nghiệp

Trang 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch hấp dẫn và đang phát triển ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng Việc nghiên cứu để phát triển loại hình du lịch này có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động thực tiễn du lịch, nhằm phát huy tối

đa việc khai thác tài nguyên tự nhiên và nhân văn một cách hợp lý, phục vụ nhu cầu tham quan nghỉ ngơi, tận hưởng từ thiên nhiên và thân thiện với môi trường của du khách; đồng thời giữ gìn, bảo tồn và phát triển bền vững những tài nguyên du lịch

tự nhiên của địa phương

Đề tài du lịch sinh thái miền Trung nói chung và Quảng Nam nói riêng cũng

có những công trình nghiên cứu, những bài báo được thực hiện và công bố rộng rãi

mang lại những giá trị to lớn tiêu biểu như cuốn sách “Quảng Nam Đà Nẵng - Di

tích thắng cảnh du lịch” của Trương Văn Tâm, cuốn sách này nêu lên những địa

danh nổi tiếng, những người anh hùng, những làng nghề, truyền thống văn hóa tốt đẹp của vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng, trong đó có đề cập đến vùng đất Điện Bàn và nhắc đến đồi Bồ Bồ như một địa danh Hay công trình nghiên cứu khoa học

“Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái vùng hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam” của

nhóm tác giả Nguyễn Phú, Huỳnh Thị Kim Ngân, Phan Thị Hồng Diên, Bùi Văn Quyết, Lớp 09SDL, Khoa Địa Lý, Trường Đại Học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng, công trình nghiên cứu này đã đề cập đến tiềm năng du lịch sinh thái cũng như khái quát về du lịch sinh thái tại tỉnh Quảng Nam Trong tháng 7 năm 2011, tác giả Mỹ

Linh đã có một bài viết trên báo Người Quảng Nam (nguoiquangnam.com.vn) về

“Tiềm năng và lợi thế phát triển du lịch Điện Bàn”, bài viết này đã nói lên được

tiềm năng du lịch sinh thái Bồ Bồ một cách khái quát và ấn tượng giúp người đọc muốn khám phá vùng đất thú vị này

Như vậy có thể thấy, cũng đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến du lịch Bồ Bồ, Điện Bàn, Quảng Nam song chưa hề có công trình nghiên cứu nào tìm

hiểu về “Thực trạng và giải pháp phát triển khu du lịch sinh thái Bồ Bồ, Điện Bàn, Quảng Nam” Vì vậy, thông qua đề tài này chúng tôi muốn nghiên cứu, tìm

hiểu một cách quy mô, và hệ thống nhất về khu du lịch sinh thái đầy tiềm năng này,

Trang 8

để từ đó có cái nhìn xác thực và đưa ra giải pháp phát triển hiệu quả nhất cho khu

du lịch sinh thái Bồ Bồ trong thời gian đến

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khắc họa được bức tranh tổng thể về du lịch sinh thái của tỉnh Quảng Nam nói chung, khu du lịch sinh thái Bồ Bồ nói riêng để từ đó đưa ra giải pháp cụ thể nhằm phát triển loại hình du lịch sinh thái của tỉnh và khu du lịch Bồ Bồ Đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch thu hút khách trong thời gian đến, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Quảng Nam trong tương lai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát, tìm hiểu, đánh giá các tiềm năng phục vụ phát triển du lịch sinh thái tại khu vực đồi Bồ Bồ, và các vùng lân cận trong địa phận huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam

- Nghiên cứu thực trạng khai thác du lịch sinh thái tại Bồ Bồ và tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua, đồng thời tìm ra những giải pháp thiết yếu cho việc phát triển khu du lịch sinh thái Bồ Bồ trong những năm tới

- Đưa ra những kiến nghị đề xuất để góp phần phát triển bền vững mô hình khu du lịch sinh thái Bồ Bồ - Điện Bàn Quảng Nam

4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến du lịch sinh thái tại khu vực

Bồ Bồ và các vùng lân cận tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Phạm vi nghiên cứu: Du lịch sinh thái tại khu vực Bồ Bồ

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi tiếp cận các nguồn tư liệu sau: Tư liệu thành văn: sách chuyên ngành, báo, tạp chí, internet, các văn bản ban hành, khóa luận tốt nghiệp, các công trình nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực du lich và phạm vi của đề tài Tư liệu điền giã: nguồn tư liệu thu thập thực tế tại điểm, phỏng vấn cán bộ chuyên môn, cán bộ Sở Văn hóa Thông tin Thể thao và Du lịch, khách

du lịch và cộng đồng địa phương

Trang 9

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để việc thực hiện đề tài nghiên cứu du lịch sinh thái tại Bồ Bồ thành công, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến như: Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu, phương pháp thực địa và phương pháp phỏng vấn

6 óng góp của đề tài

Là sinh viên liên thông với chuyên ngành Văn hóa du lịch, định hướng nghề nghiệp trong tương lai gắn bó với ngành du lịch, nên mong muốn của chúng tôi là góp phần vào việc nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tại Điện Bàn, Quảng Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng, từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp tối ưu để phát triển hiệu quả về loại hình du lịch sinh thái của tiểu vùng du lịch mới Quảng Nam - Đà Nẵng; cũng như tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng

trong việc gìn giữ và bảo phát triển bền vững loại hình du lịch sinh thái

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Thực trạng du lịch sinh thái tại Bồ Bồ, Điện Bàn, Quảng Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển khu du lịch sinh thái Bồ Bồ, Điện Bàn, Quảng Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm du lịch

Theo luật du lịch Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/1/2006: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Du lịch là hành động rời khỏi nơi

thường trú để đi đến một nơi khác, một môi trường khác trong một thời gian ngắn nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng”

Theo UNWTO: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du

hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”

Như vậy, về cơ bản du lịch là hoạt động rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi khác với mục đích tham quan, giải trí và các hoạt động bổ trợ liên quan có giới hạn thời gian xác định

1.1.2 Khái niệm du lịch sinh thái

Hector Ceballos-Lascurain - một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh

thái, đã đưa ra khái niệm này lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Du lịch sinh thái

là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động

- thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này" [3: 82]

Năm 1991, một khái niệm về du lịch sinh thái của Boo, nhà môi trường học

cho rằng "Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh

Trang 11

thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hoá hiện hữu" [34: 63]

Nhưng gần đây, người ta cho rằng nội dung căn bản của du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường Quan điểm thụ động cho rằng du lịch sinh thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do

du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm

mỹ Quan điểm chủ động cho rằng du lịch sinh thái còn phải đóng góp vào quản lý bền vững môi trường lãnh thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân dân địa phương Do đó, người ta đã đưa ra một khái niệm mới tương đối đầy đủ hơn:

"Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương"

Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái “Du lịch

sinh thái là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững” [3: 82 ]

Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh

thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”

Như vậy qua tìm hiểu một vài khái niệm trên có thể thấy rằng, khái niệm về du lịch sinh thái của tổng cục du lịch là đầy đủ, ngắn gọn và nổi bật lên giá trị của du lịch sinh thái, đồng thời giúp người đọc dễ hiểu và dễ cảm nhận hơn

1.1.3 Khái niệm khách du lịch

Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến

1.1.4 Khái niệm thời vụ du lịch

Thời vụ du lịch được hiểu là những biến động lặp đi lặp lại hàng năm của cung

và cầu các dịch vụ và hàng hóa du lịch, dưới tác động của một số nhân tố xác định

Trang 12

1.1.5 Khái niệm kinh doanh du lịch

Kinh doanh du lịch là loại hình kinh doanh tổng hợp, dựa trên các yếu tố cấu thành của ngành du lịch mà từ khâu sản xuất đến tiêu dùng đều gắn liền với thị trường du lịch, hoạt động kinh doanh này giúp ngành du lịch và các ngành liên quan khác phát triển, mục đích cuối là mang về lợi nhuận cho người kinh doanh

1.2 Các loại hình du lịch phổ biến

1.2.1 Du lịch văn hoá

Du lịch văn hóa là xu hướng của các nước đang phát triển vì đem lại giá trị lớn cho cộng đồng xã hội Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục , gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch

có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ

Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội, văn hóa và đậm đà bản sắc dân tộc Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương

Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch nhưng, lại đóng góp đáng

kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội Những quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ

Trang 13

Du lịch văn hóa là xu hướng của nhiều nước Loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia,

vì vậy phải được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam

Những năm gần đây, các tours, tuyến du lịch về văn hóa được hình thành và đi vào hoạt động, các lễ hội hay festival được diễn ra thu hút đông đảo du khách trong

và ngoài nước Hiện nay trên cả nước nhiều hoạt động du lịch văn hóa được diễn ra sôi nổi dựa trên những đặc điểm của vùng miền Chương trình Lễ hội Đất Phương Nam (Lễ hội văn hóa dân gian vùng Đồng bằng Nam bộ), Du lịch Điện Biên (Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với sự kiện chính trị chiến thắng Điện Biên Phủ), Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận) là những hoạt động của du lịch văn hóa, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước

Trong số đó, Festival Huế được xem là hoạt động du lịch văn hóa đặc sắc nhất Việt Nam Lễ hội được tổ chức thường xuyên 2 năm một lần, với sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp Festival Huế là dịp giới thiệu với du khách về lễ hội dân gian của miền Trung, đặc biệt là Nhã nhạc cung đình Huế - một di sản phi vật thể được UNESCO cộng nhận; và Lễ tế đàn Nam Giao - một lễ hội vương triều thất truyền từ hàng chục năm nay

Như vậy có thể thấy du lịch văn hóa, và các hoạt động bộ trợ của nó đã mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho địa phương nơi có các tài nguyên du lịch văn hóa Đồng thời thúc đẩy kinh tế du lịch của đất nước phát triển

1.2.2 Du lịch nghỉ dưỡng

Du lịch nghỉ dưỡng là loại hình du lịch giúp cho con người phục hồi sức khoẻ

và lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi, những căng thẳng thường xuyên xảy ra trong cuộc sống

Trước đây, chúng ta thường quan niệm rằng: du lịch chỉ đồng nghĩa với việc tham quan thưởng ngoạn những đất nước xa xôi, những danh lam thắng cảnh, hay tiếp xúc với những con người có phong tục tập quán, văn hóa khác với mình Điều

đó cũng đã đem lại vô vàn thú vị và hạnh phúc, khiến bao nhiêu người làm lụng chỉ cốt dành tiền đi du lịch cho biết đó đây Nhưng thời gian gần đây khái niệm về “du

Trang 14

lịch nghỉ dưỡng” đã bước vào đời sống hiện đại Đó là việc kết hợp giữa du lịch với

bồi bổ sức khỏe hoặc chữa bệnh Những hình thức này đã được nhiều người ở

những nước kinh tế phát triển rất ưa chuộng

Loại hình du lịch nghỉ dưỡng ở Việt Nam cũng được manh nha từ sớm điển hình như Tam Đảo hay Đà Lạt…; khách du lịch đến đây ngoài việc tham quan còn

để tịnh dưỡng nghỉ ngơi Hay việc phát hiện ra Bạch Mã, Bà Nà trước đây của người Pháp cũng không nằm ngoài mục đích này

Ngày nay khi đời sống ngày càng phát triển, việc phục hồi sức khỏe là nhu cầu thiết yếu đối với mọi người, vậy nên du lịch nghỉ dưỡng được chú trọng phát triển Các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng được diễn ra chủ yếu tại những vùng có khí hậu mát mẽ hay những nơi có biển trong xanh, suối nước khoáng, những vùng có thảo dược quý… Trên cả nước các khu vực diễn ra hoạt độngdu lịch nghỉ dưỡng này như Sapa, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu…

Nhìn chung, có thể nhận xét ngắn gọn rằng du lịch nghỉ dưỡng là hoạt động du lịch cao cấp và đang dần phổ biến

1.2.3 Du lịch MICE

MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác MICE - viết tắt của Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm) Tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event Bởi vậy các đoàn khách MICE thường rất đông (vài trăm khách), và đặc biệt mức chi tiêu cao hơn khách đi tour bình thường (do Ban tổ chức các hội nghị quốc

tế bao giờ cũng đặt phòng cho khách ở khách sạn 4 - 5 sao, dịch vụ cao, tours sau hội nghị phải thiết kế chuyên biệt theo yêu cầu…) MICE hiện là loại hình du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho ngành du lịch ở các nước

Đối với Việt Nam loại hình du lịch này đã được các công ty trong ngành du lịch khai thác từ nhiều năm nay, bước đầu đã có kết quả khả quan Khai thác thị trường MICE là một trong những mục tiêu của chiến lược phát triển của ngành du lịch Việt Nam

Đánh giá về tiềm năng phát triển MICE, đoàn chuyên gia WTO cho rằng: VN

có tiềm năng rất lớn và nếu phát triển MICE sẽ là đối thủ đáng ngại của Singapore

Trang 15

(trung tâm thu hút MICE lớn nhất Đông Nam Á hiện nay) Cảnh quan thiên nhiên

ưu đãi, nhiều di sản văn hóa, thiên nhiên thuộc hàng kỳ quan thế giới, bãi biển đẹp,

hệ thống khách sạn, resort phát triển… Tuy nhiên theo WTO để MICE phát triển Việt Nam nên thành lập MICE Bureau (tổ chức xúc tiến phát triển MICE), xây dựng chiến lược marketing, cải thiện ngay hạ tầng phục vụ khách MICE như visa, sân bay, hệ thống khách sạn, trong đó, việc xác định vị trí xây dựng trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế rất quan trọng: nó phải gần sân bay, khách sạn, thuận tiện đi lại, giao dịch Các giải pháp khác phải hướng vào việc phân tích số liệu thông tin thị trường, thiết lập chiến lược thông tin quảng bá MICE và xây dựng website, phát triển thương mại điện tử, mở các lớp đào tạo nguồn nhân lực trong và ngoài nước Như vậy, có thể thấy rằng đối với loại hình du lịch MICE hiện nay, thành phố

Đà Nẵng gần hư đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí của WTO đề ra và cũng là một trong ba thành phố đứng đầu cả nước về loại hình du lịch này chỉ sau Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

1.2.4 Du lịch thể thao

Du lịch thể thao là loại hình du lịch gắn liền với các hoạt động thể chất, các sự kiện liên quan đến văn hóa thể thao nhằm mang lại sức khỏe cho du khách Du lịch thể thao gắn với địa hình tạo ra sản phẩm du lịch thể thao mạo hiểm xu hướng du lịch chung cho giới trẻ hiện nay

Vùng núi phía Bắc là nơi phân bố chủ yếu địa hình karst ở Việt Nam với nhiều hang động và các ngọn núi cao, hệ thống sông suối khá phát triển Đây là những điều kiện và tiềm năng to lớn để phát triển loại hình du lịch thể thao - mạo hiểm vốn đang rất được khách du lịch ưa chuộng

Một số nơi trên đất nước hoạt động du lịch thể thao, du lịch thể thao mạo hiểm đang phát triển như: Sapa, Hạ Long, Quảng Bình và một số thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…

Về cơ bản, du lịch thể thao ngày càng thu hút đông đảo du khách tham gia Du lịch thể thao cũng là một trong những loại hình du lịch khá phổ biến hiện nay

1.2.5 Du lịch tâm linh

Trang 16

Du lịch tâm linh là kết hợp việc tham quan du lịch với “tín ngưỡng” Đó là hai nhu cầu cần thiết trong đời sống con người, nhằm mang lại nét đẹp cho cuộc sống đi đôi với sự thăng hoa trong tâm hồn

Du lịch tâm linh gần đây đã hình thành và đang phát triển ở những quốc gia châu Á, đặc biệt những quốc gia theo Phật giáo như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan Hằng năm, các cơ quan tôn giáo Nhật Bản kết hợp với các công ty lữ hành tổ chức tour cho trên vài ngàn khách hành hương từ Nhật Bản đến các thánh tích Phật giáo ở Ấn Độ Thái Lan, Myanmar Châu Âu hàng năm cũng đã tổ chức nhiều đoàn du khách tham gia các lễ hội tôn giáo, các khóa tìm hiểu và nghiên cứu tôn giáo, các khóa tu thiền tại các quốc gia châu Á từng in dấu chân của Phật Thích

Ca Mâu Ni lúc sinh thời

Thế nhưng, việc đến các thánh tích tôn giáo của du khách trong loại hình du lịch tâm linh không chỉ đơn giản là vãn cảnh, hay tìm hiểu một nền văn hóa khác Với họ, các thánh tích, Phật tích là những nơi giác ngộ, nơi có thể trao tặng cho họ các thông điệp tuyệt vời, chứa đựng minh triết giác ngộ, sự hòa hợp giữa con người với thế giới, nơi mà qua khoá tu thiền tại chỗ, họ có thể giải mã ít nhiều bản thế cá nhân bí ẩn của kiếp nghiệp chính mình,…

Cựu Tổng thống Ấn Độ, tiến sĩ A.P.J Abdul Kalam phân biệt rạch ròi rằng:

“Du lịch tâm linh hoàn toàn khác với việc tham quan các địa danh và ngắm nhìn các chiều kích vật lý Du lịch tâm linh có nghĩa là thăm viếng trái tim và tâm trí của những bậc hiền triết

Khi đời sống vật chất ngày càng được nâng cao, xã hội càng hiện đại thì con người ta lại càng có nhu cầu nâng cao hơn nữa đời sống tinh thần Cho nên sự phát triển của du lịch tâm linh trong tương lai không xa là nhu cầu tất yếu, nhất là đối với quốc gia có nền văn hóa Phật giáo như Việt Nam

Tóm lại, Du lịch tâm linh ở Việt Nam trong thời gian qua khá phát triển nhìn thấy được điều này bởi các tour du lịch văn hóa thiên về tâm linh nhiều hơn Các khu vực trên khắp cả nước diễn ra loại hình du lịch như: Phú Thọ, Bắc Ninh, Tây Ninh và gần đây là Quảng Trị

1.2.6 Du lịch mùa hè

Trang 17

Du lịch mùa hè là loại hình du lịch mang đậm tính mùa vụ đặc trưng theo kiểu thời tiết khu vực Đông Nam Á, trong đó các hoạt động du lịch diễn ra gắn liền với yếu tố biển và cảnh quan tự nhiên

Du lịch mùa hè là loại hình du lịch phát triển mạnh trên các đất nước có nguồn tài nguyên biển dồi dào Xét trên khu vực Đông Nam Á các quốc gia phát triển mạnh loại hình du lịch này như Thái Lan, Philippines, Inđônêxia… Một số thành phố hay các đảo trên các đất nước này du lịch mùa hè là thế mạnh chính cho phát triển du lịch Có thể nhắc đến như Phuket Thái Lan, Manila Philippines hay Bali của Inđônêxia

Việt Nam với hơn 3260 km đường bờ biển với các thành phố biển xinh đẹp như Nha Trang, Vũng Tàu hay Đà Nẵng… mà ở đây loại hình du lịch mùa hè cũng đang được diễn ra Tiêu biểu khu vục phía Nam là Thành Phố biển Vũng Tàu, vào mùa hè du lịch ở đây thật sôi nổi thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước

Đà Nẵng thành phố biển xinh đẹp được tạp chí Fobes của Mỹ bình chọn là 1 trong 7 bãi biển đẹp nhất hành tinh vậy nên du lịch mùa hè tại đây cũng có xu hướng phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây

Như vậy, có thể nói du lịch mùa hè là loại hình du lịch khá mới nhưng có sức hút đáng kể Tương lai không xa du lịch mùa hè sẽ có chỗ đứng vững chắc trên thị trường du lịch

1.2.7 Du lịch TeamBuilding

Du lịch Teambuilding chính thức được các công ty du lịch khai thác từ năm

1960 với mục địch gắn kết tinh thần và tạo ra các tour du lịch mang tính đoàn kết cao Sự tương tác giữa cá nhân với tập thể, những chương trình game mang tính đồng đội cao đã tạo ra sức hút độc đáo vào du khách Trải qua một lịch sử phát triển, tới nay du lịch TeamBuilding đã trở thành giải pháp cho các doanh nghiệp, tổ chức muốn tạo ra sức mạnh gắn kết tập thể của mình Câu hỏi và giải pháp cho tính đồng đội được rèn luyện chính tại du lịch team

Từ thập niên 1980 – 1990, Hoa Kỳ đưa mô hình làm việc nhóm và biểu dương thành tích tập thể vào hoạt động doanh nghiệp, trong giai đoạn kinh tế giảm phát tăng và nợ công nhiều

Trang 18

Từ 1990 trở lại đây là thời đại hưng thịnh của làm việc nhóm - teamwork và xây dựng nhóm - team building Hiện tại, các công ty Hoa Kỳ tốn hàng triệu USD/năm nhằm nâng cao khả năng làm việc nhóm của nhân viên Theo đó, họ tin dùng team building tour như công cụ chơi mà học hiệu quả để cố kết những thành viên có sở trường và nhiệm vụ khác nhau thành nhóm cùng đồng lòng hoàn thành mục tiêu chung

Gần đây, bên cạnh các tour du lịch lữ hành thuần tuý, thị trường du lịch thường nhắc tới hình thức du lịch mới là “team building tour” (du lịch xây dựng đội hình)

Thực chất, “team building” là tour kết hợp dã ngoại với các trò chơi vận động mang tính tập thể nhằm giúp các thành viên trong công ty xích lại gần nhau Tùy theo số lượng khách, tour “team building” thường chia thành 3 hoặc 4 đội, các đội mặc trang phục riêng do công ty cung cấp, chuẩn bị cờ hiệu và một số dụng cụ trò chơi

Để tổ chức những trò chơi phối hợp nhiều hình thức vận động từ chạy bộ, trườn, bò đến bơi lội hoặc chèo thuyền, tour “team building” thường tổ chức ở những nơi có địa hình phức tạp, tại khu vực có núi, biển hay suối như : núi Tà Cú, suối Hồng, núi

đá ở Hòn Rơm (Phan Thiết); Hòn Tằm (Nha Trang); núi Langbiang, Madagui (Lâm Đồng)… Các trò chơi trong “team building” được thiết kế sao cho nhiều người cùng tham gia với tinh thần hỗ trợ nhau Mỗi trò chơi ngoài yếu tố trí tuệ thường thiên về tính vận động nên mỗi đội luôn nghĩ ra nhiều cách khác nhau để vượt qua thử thách,

do đó mỗi thành viên sẽ bộc lộ tính cách mà bình thường họ ít bộc lộ ở công ty Chi phí tour “team building” thường cao hơn tour lữ hành vì chi phí thiết kế trò chơi khá lớn gồm nhiều khoản chi cho dụng cụ thực hiện trò chơi, mời huấn luyện viên hướng dẫn khách chơi…

Bên cạnh đó, tour “team building” có thể giúp các nhân viên cũ hoà hợp với nhau, giải toả mâu thuẫn trong nội bộ và tạo ra chất keo dính giữa họ khiến họ tươi trẻ hơn khi trở lại công việc”

Tóm lại, Du lịch Teambuilding ngày càng được phát triển trên cả nước Xu hướng đón đầu trong tương lai nhiều nhà làm du lịch lựa chọn loại hình du lịch Teambuilding là sản phẩm chiến lược của mình

Trang 19

1.3 Các loại hệ sinh thái tự nhiên phổ biến ở Việt Nam

Hệ sinh thái là một hệ thống mở hoàn chỉnh, bao gồm tập hợp các quần xã

sinh vật và khu vực sống của sinh vật còn được gọi là sinh cảnh

Hệ sinh thái có thể hiểu là sự bao gồm quần xã sinh vật (động vật, thực vật, vi sinh vật) và môi trường vô sinh (ánh sáng, nhiệt độ, chất vô cơ )

Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15

độ vĩ tuyến với 3/4 là địa hình đồi núi và cao nguyên, với 3260 km đường bờ biển, hàng ngàn hòn đảo…, và trên lãnh thổ đó là nơi sinh sống của cộng đồng nhiều dân tộc với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, đấu tranh giữ nước với nhiều truyền thống có những nét đặc trưng riêng, nhiều di tích văn hóa lịch sử nên Việt Nam có nhiều điều kiện phát triển du lịch sinh thái

Về các tiềm năng tự nhiên cho phát triển du lịch sinh thái, nét thể hiện rõ nhất

là ở Việt Nam có sự đa dạng sinh học khá cao, cũng như các hệ sinh thái đặc trưng Cùng với các loài động thực vật tự nhiên, Việt Nam còn là một trung tâm của cây trồng nhân tạo Trên thế giới có 8 trung tâm cây trồng thì 3 trung tâm tập trung

ở Đông Nam Á (Nam Trung Hoa - Hymalaya; Ấn Độ - Miến Điện; Đông Dương - Indonexia) với khoảng 270 loài cây nông nghiệp, riêng ở Việt Nam đã có hơn 200 loài cây trồng, trong đó có tới 90% cây trồng thuộc Trung tâm Nam Trung Hoa, 70% cây trồng thuộc trung tâm Ấn, Miến Đây là tiền đề cho tổ chức du lịch sinh thái canh nông

Về các hệ sinh thái tự nhiên, Việt Nam có một số hệ sinh thái đặc trưng gồm:

Hệ sinh thái san hô ở Việt Nam khá giàu về thành phần loài, tương đương với

các khu vực giàu san hô khác ở Tây Thái Bình Dương, trong đó ở khu vực ven bờ phía Bắc có 95 loài, ở khu vực ven bờ phía Nam có 255 loài Trong các rạn san hô quần tụ nhiều loài sinh vật khác nhau, nhiều loài có màu sặc sỡ và có giá trị kinh tế cao

Hệ sinh thái đất ngập nước ở các vùng có những đặc thù riêng, trong đó nổi

bật là các hệ sinh thái ngập mặn ven biển trải dài dọc bờ biển từ Móng Cái (Quảng

Ninh) đến Mũi Nai (Kiên Giang) Tiêu biểu nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long

phân bố một diện tích lớn các hệ sinh thái đất ngập nước, chủ yếu là các hệ sinh thái

Trang 20

ngập mặn và các hệ sinh thái đất ngập phèn Trong các hệ sinh thái ngập mặn thì các hệ sinh thái rừng ngập mặn châu thổ sông Cửu Long nuôi dưỡng một số lớn Diệc, Cò, Cò lớn, Cò quăm Tại đây có các sân chim lớn Rừng ngập mặn là nơi sinh sản, cư trú của nhiều hải sản, chim nước, chim di cư và các loài động vật có ý nghĩa kinh tế lớn như Khỉ, Lợn rừng, Kỳ đà, Chồn, Trăn Một dạng hệ sinh thái đất ngập nước điển hình khác là các đầm lầy nội địa hoặc đầm phá ven bờ, trong đó có các hệ sinh thái rừng tràm U Minh, tứ giác Long Xuyên là nổi tiếng Các hệ sinh thái đầm lầy nội địa kết hợp với các vùng sình lầy cửa sông tạo nên các vùng đất ngập nước lớn ở hai châu thổ, nơi có số lượng lớn chim cư trú và chim di cư hàng năm cùng với nguồn lợi quý là mật ong rừng

Hệ sinh thái vùng cát ven biển của nước ta đa dạng với 60 vạn ha, tập trung

chủ yếu ở ven biển miền Trung (30% tổng diện tích) Các nhóm hệ sinh thái cát hình thành trên các loại cát khác nhau: hệ sinh thái vùng cồn cát trắng vàng; hệ sinh thái vùng đất cát biển; hệ sinh thái vùng đất cát đỏ Đặc biệt lớn là khối cát đỏ ở Tây Bắc Phan Thiết với các cồn di động (do gió tạo nên) vừa có sức hấp dẫn lớn với du khách, vừa có thể phục vụ sản xuất nông nghiệp (trồng hoa màu, dưa hấu, đào lộn hột )

Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới với nét đặc trưng là hệ thống các khu rừng

đặc dụng là nơi lưu trữ các nguồn gen quý của nước ta phân bố ở khắp từ Nam ra Bắc, từ đất liền tới các hải đảo Tính đến năm 2004, cả nước đã có 107 khu rừng đặc dụng trong đó có 28 vườn quốc gia, 43 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa - lịch sử - môi trường với tổng diện tích là 2.092.466 ha [33]

Như vậy, qua việc tìm hiểu một số hệ sinh thái đặc trưng tại Việt Nam nhận thấy: Việt Nam là quốc gia có sự đa dạng về sinh học, tiêu biểu là các hệ sinh thái rất đa dạng về chủng loại sinh vật lại phân bố khắp cả nước Đây là nguồn tài nguyên du lịch quý giá bởi các giá trị mang lại từ các hệ sinh thái này Trong tương lai, xu hướng du lịch sinh thái được ưu tiên phát triển vậy nên, đây là tiềm năng

“vàng” cho việc phát triển du lịch sinh thái Việt Nam

1.4 Du lịch sinh thái và vai trò của du lịch sinh thái trong nền kinh tế

1.4.1 Khái quát về du lịch sinh thái

Trang 21

Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch mới phát triển một vài thập kỷ gần đây

Du lịch sinh thái đang trở thành một xu hướng tích cực để đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững gắn liền với việc bảo tồn thiên nhiên và môi trường, các giá trị nhân văn giàu bản sắc văn hóa của mọi dân tộc, thông qua việc giáo dục nhận thức của xã hội, của cộng đồng

Việt Nam là một nước có điều kiện và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái với những ưu thế của thiên nhiên nhiệt đới ẩm, địa hình, cảnh quan đa dạng với nhiều hệ sinh thái điển hình khác nhau từ vùng núi cao nguyên đến vùng đồng bằng ven biển và hải đảo Trên những khu vực cảnh quan này là địa bàn cư trú của hàng chục các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam với những phong tục tập quán, nền văn nghệ dân gian đặc sắc

Mặc dù có tiềm năng phát triển, song du lịch sinh thái ở Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu Đối với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, du lịch sinh thái còn là loại hình du lịch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý và khai thác sử dụng tài nguyên phục vụ cho mục đích du lịch Công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản

và quy hoạch phát triển du lịch sinh thái còn hạn chế Nhiều địa phương, nhiều công

ty lữ hành đã cố gắng xây dựng một số chương trình, tuyến du lịch mang sắc thái của du lịch sinh thái đã được xây dựng song quy mô và hình thức còn đơn điệu, mờ nhạt, sản phẩm và đối tượng thị trường còn chưa rõ nên ít có khả năng thu hút khách Mặt khác việc đào tạo nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ điều hành quản lý, hướng dẫn viên du lịch sinh thái còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển

Tuy là loại hình du lịch khá mới ở nước ta, nhưng trước nhu cầu của thị trường

và khả năng đáp ứng của các tiềm năng du lịch sinh thái của Việt Nam, tại một số nơi hoạt động du lịch sinh thái cũng đã hình thành dưới các hình thức khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên khác nhau như du lịch tham quan, nghiên cứu ở một số khu vườn quốc gia (Cát Bà, Cúc Phương, Ba Bể, Nam Cát Tiên, Tam Nông,

U Minh ); du lịch thám hiểm, nghiên cứu vùng núi cao như Phanxipăng; du lịch tham quan miệt vườn, sông nước đồng bằng sông Cửu Long; du lịch lặn biển (Hạ Long - Cát Bà, Nha Trang), thám hiểm hang động (Phong Nha) Thị trường khách của loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam còn rất hạn chế Phần lớn khách du lịch

Trang 22

quốc tế đến các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên là từ các nước Tây Âu, Bắc

Mỹ và Úc, còn khách nội địa là sinh viên, học sinh và cán bộ nghiên cứu

Để đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch nói riêng và công cuộc phát triển kinh tế xã hội của nước ta nói chung, du lịch sinh thái là loại hình cần được đẩy mạnh phát triển trên cơ sở khai thác hợp lý các thế mạnh tiềm năng của tài nguyên du lịch Việt Nam Để đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái đòi hỏi phải có

sự chỉ đạo, phối kết hợp đồng bộ thể hiện ở ba lĩnh vực chủ yếu: chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước, sự quản lý điều hành của chính quyền các cấp và sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương

Trong tương lai không xa, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn ngành dưới sự đạo của Tổng cục Du lịch theo định hướng mà Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ, chắc chắn

du lịch sinh thái sẽ là tiền đề để phát triển du lịch bền vững, góp phần đáng kể vào

sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.4.2 Vai trò của du lịch sinh thái trong nền kinh tế thế giới và ở Việt Nam

Du lịch sinh thái đã nắm giữ rất nhiều cơ hội để tạo nguồn thu và công ăn việc làm tại các khu vực khá là nguyên sơ bằng những nỗ lực phát triển truyền thống, và

để sinh ra những lợi ích kinh tế hữu hình từ các khu vực thiên nhiên

Trong những năm qua, du lịch sinh thái đã và đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới và ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch và nghỉ ngơi

Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng; sự phát triển du lịch sinh thái đã và đang mang lại những nguồn lợi kinh

tế to lớn, tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho quốc gia cũng như cộng đồng người dân các địa phương, nhất là người dân ở các vùng sâu, vùng xa - nơi có các khu bảo tồn tự nhiên và các cảnh quan hấp dẫn Ngoài ra, du lịch sinh thái còn góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khỏe cộng đồng thông qua các hoạt động giáo dục môi trường, văn hóa lịch sử và nghỉ ngơi giải trí Chính vì vậy ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, bên cạnh các lợi ích về kinh tế, du lịch sinh thái còn được xem như một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 23

thông qua quá trình làm giảm sức ép khai thác nguồn lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của khách du lịch, của người dân địa phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch

Trên thế giới du lịch sinh thái đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững Cụ thể một ví dụ điển hình: một số chủ trang trại chăn nuôi đã bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng và do bảo vệ rừng mà

họ đã biến những nơi đó thành điểm du lịch sinh thái hoạt động tốt, giúp bảo vệ các

hệ sinh thái tự nhiên đồng thời tạo ra công ăn việc làm mới cho dân địa phương Loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam là một trong những loại hình du lịch đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế Khi loại hình du lịch sinh thái đi vào hoạt động có hiệu quả sẽ đóng góp nguồn lợi cho ngành du lịch thông qua đây đóng góp một phần cho nền kinh tế quốc gia Đồng thời khi du lịch sinh thái phát triển sẽ cải thiện được đời sống của người dân, trình độ dân trí cũng được nâng lên thông qua việc bảo vệ môi trường và công tác làm du lịch

Du lịch sinh thái được xem như một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường sinh thái hướng tới sự phát triển bền vững thông qua quá trình làm giảm sức ép khai thác nguồn lợi tự nhiên, phục vụ nhu cầu của du khách của người dân địa phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch sinh thái

Như vậy, có thể nhận định rằng, du lịch sinh thái là loại hình du lịch góp phần tạo ra sản phẩm du lịch mới lạ, hợp với tiêu chí du lịch chung trên toàn thế giới Phát triển du lịch sinh thái đồng nghĩa với bảo vệ môi trường sống cho các loài sinh vật đang có nguy cơ tiệt chủng Các vườn quốc gia, các khu bảo tồn, các khu dự trữ sinh quyển ở Việt Nam một mặt được bảo vệ, mặt khác nâng cao giá trị “sống” cho các sinh vật tại nơi đây Qua đó con người ngày càng tự quý trọng thiên nhiên hơn Đồng thời Việt Nam đóng góp một phần nhỏ bé của mình trong công cuộc bảo vệ trái đất tránh sự nóng lên của toàn cầu qua việc phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững

Tại Việt Nam du lịch sinh thái còn mang trong mình những nhiệm vụ: Bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên; Bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của

Trang 24

môi trường tự nhiên mà họ đang chiêm ngưỡng; Thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng địa phương, người dân bản địa trong việc quản lý và bảo vệ, phát triển

du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm du lịch, khu du lịch…

Như vậy du lịch sinh thái có tầm quan trọng rất lớn đối với Việt Nam trong việc phát triển du lịch, phát triển kinh tế cũng như bảo vệ môi trường hướng đến sự bền vững

1.4.3 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến kinh tế tỉnh Quảng Nam

Du lịch sinh thái đem lại nguồn lợi cho nghành du lịch nói chung và kinh tế Quảng Nam nói riêng Đơn cử thành phố Hội An làm minh chứng: Có thể khẳng định, trong nhiều năm qua Hội An đã đi lên chính từ đô thị cổ - di sản văn hóa thế giới, thông qua sự phát triển du lịch, dịch vụ từ những giá trị và “vẻ đẹp không trùng lắp” Nhưng phải nói thêm rằng, Hội An bắt đầu giàu lên, hấp dẫn lôi cuốn du khách hơn nhờ đã biết kết hợp khai thác hợp lý nguồn tài nguyên sinh thái và tận dụng các lợi thế Khu biển đảo Cù Lao Chàm như “một nàng tiên cá” ngủ quên giữa lòng biển cả suốt một thời gian dài bỗng bừng tỉnh giấc sau khi được công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới (tháng 6.2009) Với những ưu thế nổi trội về môi trường sinh thái, về sự kết nối giữa văn hoá với sinh quyển, Khu dự trữ sinh quyển

Cù Lao Chàm - Hội An trở thành viên ngọc quý giá Trong năm 2012, mặc dù Hội

An chỉ đón 1,375 triệu lượt du khách, giảm 6% so với năm 2011 nhưng riêng lượng khách đến tham quan Cù Lao Chàm lại tăng đột biến với hơn 100.000 lượt, tăng hơn 41% so với cùng kỳ Ông Nguyễn Văn Dũng – Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hội An đánh giá: “Điều đó cho thấy chủ trương chuyển dịch, phát triển các loại hình tham quan du lịch ngoài phố cổ, nhất là du lịch sông nước, biển đảo là đúng hướng và ngày càng có sức thu hút đối với du khách” [ 28 ]

Du khách đến Hội An không chỉ để chiêm ngưỡng quần thể kiến trúc với hơn 1.000 di tích nghệ thuật; tìm hiểu, thưởng lãm những giá trị văn hóa phi vật thể, văn hóa nhân văn biểu hiện qua lối sống, phép ứng xử của con người Hội An Du khách cũng có thể hòa mình vào các lễ hội dân gian, sinh hoạt cộng đồng ở phố cổ, và khám phá một vùng biển đảo thơ mộng, kỳ thú; những bãi biển dài, cát trắng, còn nguyên nét hoang sơ như An Bàng (một trong 50 bãi biển đẹp trên thế giới), lộng

Trang 25

gió thoáng đãng như Cửa Đại Ngược dòng Thu Bồn, du khách trải nghiệm theo những chuyến đò dọc hay dã ngoại sông nước nơi rừng dừa Bảy Mẫu…

Thông qua các hoạt động dịch vụ, người dân ở các địa phương tham gia dù trực tiếp hay gián tiếp đều tìm kiếm được nguồn thu nhập tương đối ổn định, cải thiện đời sống Ông Nguyễn Văn An - Chủ tịch ban nhân dân xã đảo Tân Hiệp cho biết, khách đến tham quan Cù Lao Chàm ngày càng đông khiến cho các dịch vụ du lịch phát triển mạnh Hiện trên đảo có 80 hộ làm dịch vụ du lịch, 46 hộ tham gia dịch vụ lưu trú, tăng hơn nhiều so với trước Phần lớn điều kiện kinh tế của các hộ này đã khá lên trông thấy Một số lao động chuyển từ nghề biển bấp bênh sang làm dịch vụ xe, thuyền đưa đón khách du lịch cũng tăng thu nhập

Tại Cẩm Thanh, vùng quê phát triển du lịch sinh thái đặc thù theo định hướng của hội đồng nhân dân thành phố Hội An, tuy người dân mới làm quen với các dịch

vụ mang tính cộng đồng (như đưa khách tham quan rừng dừa, bơi thuyền thúng câu

cá, chài lưới trên sông lạch… thông qua hợp tác với một số doanh nghiệp, khách sạn) nhưng bước đầu cũng có nguồn thu ổn định “Hiện đã có 2 gia đình đầu tư xây dựng xong cơ sở lưu trú để mở dịch vụ homestay, địa phương cũng đã thành lập được 2 tổ du lịch cộng đồng và đưa vào khai thác tour tham quan 6 địa điểm sinh thái bằng xe đạp trong năm 2013”, ông Lê Thanh - Chủ tịch ban nhân dân xã Cẩm Thanh cho biết

Song, để phát triển du lịch sinh thái một cách bền vững, trong thời gian tới chính quyền thành phố cần chú trọng giải quyết hài hòa, thỏa đáng lợi ích giữa các bên tham gia hoạt động, quan tâm đến lợi ích của cộng đồng dân cư Ông Nguyễn

Sự nhìn nhận: “Yếu tố cộng đồng, vai trò sáng tạo của chủ thể người dân cần được coi trọng trong hành trình phát triển du lịch sinh thái ở Hội An Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch là chiều sâu, mở địa bàn hoạt động dịch vụ ra vùng ven là chiều rộng Phải tạo sự lan tỏa rộng ra các vùng để mọi người dân Hội An đều biết làm và khá lên từ du lịch”

Tại một số huyện khác ở Quảng Nam du lịch sinh thái bước đầu cũng đi vào hoạt động mang lại hiệu quả tích cực cho kinh tế địa phương

Trang 26

Cái được nhất ở đây là khi phát triển du lịch sinh thái môi trường được cải thiện rõ rệt, các khu rừng được bảo tồn, ý thức người dân được nâng cao là tín hiệu vui để hướng đến sự phát triển bền vững trong tương lai

Bên cạnh đó sự phát triển du lịch sinh thái không đồng bộ, làm chưa đến nơi đến chốn tại một số địa phương, đã làm du lịch sinh thái mất đi cái giá trị đích thực của nó Ý nghĩa của du lịch sinh thái bị hiểu méo mó theo mục đích kinh tế là chính

Sự liên kết giữa các nhà làm du lịch sinh thái và lãnh đạo Tỉnh chưa đạt hiệu quả Các yếu tố này gây ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch sinh thái về sau rất nhiều bởi tài nguyên con người và đặc biệt là môi trường sẽ bị tác động bất lợi

Như vậy, có thể thấy du lịch sinh thái tác động tích cực đến kinh tế Quảng Nam, góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo, thu hút đầu tư và có được định hướng phát triển lâu dài cho nền kinh tế Tỉnh

1.5 Những yếu tố tác động đến sự phát triển du lịch sinh thái

Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch của một địa phương Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức

độ kết hợp các loại tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển du lịch Vì vậy, sức hấp dẫn du lịch của một địa phương phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên du lịch của địa phương đó

1.5.2 Nguồn nhân lực

Trang 27

Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Liên Hợp

Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng

lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”

Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao

gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân” Như vậy, ở đây

nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Theo tổ chức lao động quốc tế thì: “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn

bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”

Nguồn nhân lực trong du lịch bao gồm tất cả những người lao động trực tiếp

và gián tiếp liên quan đến lĩnh vực du lịch

Như vậy, nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong việc phát triển bất cừ một ngành nghề nào Trong du lịch nguồn nhân lực là người trực tiếp bán, hướng dẫn, phục vụ cho khách mua, sử dụng sản phẩm du lịch, là thành phần quang trọng không thể thiếu khi phát triển du lịch

1.5.3 Chính sách đối với ngành du lịch

Trang 28

Chính sách đối với ngành du lịch là bao gồm toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực du lịch trong đó luật du lịch có vai trò quyết định

Chính sách du lịch càng được cải thiện thì du lịch ngày càng phát triển mang lại hiệu quả trong kinh doanh khi áp dụng đúng chính sách

Sự ra đời của một chính sách du lịch nào cũng ảnh hưởng đến phát triển du lịch bởi du lịch mang tính nhạy cảm và vô hình Một đất nước có nền kinh tế du lịch phát triển đất nước đó có những chính sách du lịch đúng đắn và để làm được điều ngược lại cần cộng sinh thêm nhiều yếu tố

Chính sách du lịch vừa áp dụng vào ngành du lịch đưa du lịch phát triển theo đúng khuôn mẫu và đồng thời là cơ sở để bảo vệ quyền lợi giữa các bên tham gia

1.5.4 Cơ sở vật chất – kĩ thuật

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo

ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng

du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật

Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Do vậy cơ sở vất chất kỹ thuật du lịch gồm nhiều thành phần khác nhau Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hoá du lịch đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ sở, công trình đặc biệt… Tài nguyên du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng của khách du lịch Việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống các công trình Căn cứ vào các đặc điểm trên có thể hiểu cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đóng góp mọi nhu cầu của khách du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân tham gia phục vụ

du lịch: thương nghiệp, dịch vụ… cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và tài nguyên du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tài nguyên du lịch ảnh hưởng tới công suất, thể loại, thứ hạng của hầu hết các thành phần cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Khả

Trang 29

năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch là cơ sở xây dựng công suất các công trình phục vụ du lịch Sức hấp dẫn của chúng có ảnh hưởng đến thứ hạng của các cơ sở này

Sự kết hợp hài hoà giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch giúp cho cơ sở phục vụ du lịch có hiệu quả, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm Vị trí của tài nguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lý cơ sở vật chất kỹ thuật trên các vùng lãnh thổ của đất nước và là tiền đề cơ bản để hình thành các trung tâm

du lịch Sự phụ thuộc của cơ sở vật chất kỹ thuật vào tài nguyên du lịch không chỉ diễn ra theo một chiều, mà về phía mình các công trình, cơ sở phục vụ du lịch cũng

có tác động nhất định tới mức độ sử dụng tài nguyên du lịch và việc gìn giữ bảo vệ chúng

1.5.5 Sự đầu tư

Là hoạt động thu hút các nguồn lực (vốn, con người) trong một thời gian nhất định để phát triển kinh tế hoặc lợi ích xã hội Sự đầu tư ảnh hưởng lớn đến phát triển du lịch bởi nguồn lực là “máu” nuôi sống cả một ngành Khi có vốn thì các hoạt khác mới có thể hoạt động được Sự đầu tư trong du lịch là sự chọn lựa đúng

và hợp thời Đầu tư quyết định đến chất lượng, quy mô của một sản phẩm du lịch Như vậy, thông qua việc tìm hiểu những khái niệm có liên quan, những nội dung cơ bản, phục vụ cho đề tài trong chương cơ sở lí luận phần nào đã mang lại sự hiểu biết chung của đề tài Đồng thời thông qua đây, tạo nền tảng để triển khai một cách khoa học và hiểu quả các vấn đề cụ thể trong đề tài khóa luận

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI BỒ BỒ,

IỆN BÀN, QUẢNG NAM 2.1 Khái quát về huyện iện Bàn tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Lịch sử hình thành

Trang 30

Điện Bàn là huyện đồng bằng ven biển phía bắc của tỉnh Quảng Nam Địa bàn huyện Điện Bàn trải từ 15050' đến 15057' vĩ độ Bắc và từ 1080

đến 108020’ kinh độ Đông, cách tỉnh lỵ Tam Kỳ 48 km về phía bắc, cách thành phố Đà Nẵng 25 km về phía nam Phía bắc giáp huyện Hòa Vang và quận Ngũ Hành Sơn (thành phố Đà Nẵng), phía nam giáp huyện Duy Xuyên, phía đông nam giáp thành phố Hội An và biển Đông, phía tây giáp huyện Đại Lộc

Vùng đất Điện Bàn xưa thuộc đất Việt Thường Thị của vua Hùng Từ năm

214 đến năm 205 TCN, thời nhà Tần, thuộc Tượng Quận Từ năm 206 TCN đến năm 192 SCN, thời nhà Hán, thuộc quận Tượng Lâm và từ năm 192 đến năm 1306 thuộc vương quốc Chăm Pa

Sau cuộc hôn nhân huyền thoại của công chúa Trần Huyền Trân vào năm

1306, vua Chăm là Chế Mân đã dâng hai châu Ô và Lý cho nhà Trần để làm sính lễ Năm 1307, hai châu Ô và Lý được đổi thành Thuận Châu, Hóa Châu Vùng đất Điện Bàn thuộc phần đất phía nam của Hóa Châu

Năm 1435, địa danh Điện Bàn được Nguyễn Trãi ghi vào “Dư địa chí” gồm 95

xã thuộc phủ Triệu Phong của lộ Thuận Hóa

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thành lập đạo thừa tuyên Quảng Nam Năm

1520, vua Lê Chiêu Tông đổi thành trấn Quảng Nam Điện Bàn bấy giờ là một huyện thuộc phủ Triệu Phong của trấn Thuận Hóa

Năm 1602, Nguyễn Hoàng đổi thành dinh Quảng Nam và năm 1604 tách huyện Điện Bàn ra khỏi trấn Thuận Hóa, thăng lên thành phủ và nhập về Quảng Nam Dinh trấn Quảng Nam đóng tại xã Thanh Chiêm, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, do các công tử của Chúa Nguyễn lần lượt đến trấn thủ

Năm 1803, vua Gia Long lập dinh Quảng Nam gồm 2 phủ: Thăng Hoa và Điện Bàn Phủ Điện Bàn gồm 2 huyện: Diên Phước và Hòa Vang Năm 1806, dinh Quảng Nam đổi thành trực lệ Quảng Nam dinh thuộc Kinh Sư Năm 1827, vua Minh Mạng cho đổi thành trấn Quảng Nam Năm 1832, đổi trấn Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam Năm 1833, tỉnh đường Quảng Nam được xây dựng tại làng La Qua Năm 1899, Điện Bàn có thêm huyện Đại Lộc Sang đầu thế kỷ XX, khi huyện,

Trang 31

phủ thành những đơn vị hành chính riêng thì huyện Điện Bàn hôm nay chính là phần đất của huyện Diên Phước trước đây

Có thể nói vùng đất Điện Bàn là vùng đất có bề dày lịch sử và văn hóa, cội nguồn dân tộc được bắt đầu từ đây Vậy nên mảnh đất Điện Bàn được ghi dấu nhờ những con người, bởi những chiến công, tạo lập, xây dựng và bảo vệ đất nước

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên

Điện Bàn là một huyện nằm trong tỉnh Quảng Nam, với diện tích đất tự nhiên

là 214,28 km2 Dễ dàng nhận thấy điều kiện tự nhiên của Điện Bàn là đồng dạng với điều kiện tự nhiên Quảng Nam Vùng đất quanh năm nắng lắm mưa nhiều Nhiệt độ trung bình 25,5C0; độ ẩm trung bình 82,3%; lượng mưa bình quân năm 2000-2500

mm, tập trung các tháng 9, 10, 11 Kết hợp với kiểu địa hình trải dài từ Tây sang Đông, bắt đầu từ dãy Trường Sơn lan ra tới biển Đông Tất cả đã tạo cho khu vực này có địa hình cùng với hệ sinh vật tương đối đa dạng và phong phú

Về mặt địa hình đất đai bao gồm vùng đồi và đồi trước núi, cồn cát, vùng đồng bằng, vùng biển thêm vào đó một phần nhỏ nằm sâu trong khu vực rừng là thung lũng Loại đất ở khu vực này chủ yếu là đất đỏ bazan, feralít và phù sa… Điện bàn tuy không có các dãy núi lớn nhưng vẫn hưởng lợi từ kiểu địa hình này Bởi Điện Bàn nằm trong khu vực che chắn bởi dãy Trường Sơn Rừng ở khu vực này hầu hết

là rừng phòng hộ đầu nguồn có giá trị cao Vùng đồi và đồi trước núi chiếm không nhiều khoảng 15% nhưng tạo ra sự đa dạng về địa hình đây là nhũng khu vực có địa thế quan trong trong công tác bảo vệ phòng thủ cũng như là bàn đạp tấn công trong chiến tranh, tiêu biểu đó là đồi Bồ Bồ Ngoài ra khu vực này còn có sự đa dạng về các loại sinh vật mang lại giá trị cao cho nghiên cứu, khai thác tiềm năng du lịch Trong phần địa hình vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích của huyện Khu vực này với lượng đất phù sa rất lớn được tích tụ và bồi đắp qua nhiều năm Đồng bằng có vai trò cao trong việc phân bố dân cư, cơ sở hạ tầng và quan trọng hơn cả là khu vực trồng trọt cung cấp lương thực cho khu vực Các loại cây chủ yếu là lúa, đậu, sắn và dưa hấu cùng một số cây lương thực ngắn ngày

Trang 32

Vùng biển tại đây với khoảng 10km đường bờ biển giá trị mang về không nhỏ trong việc khai thác tiềm năng du lịch biển, giá trị kinh tế cao trong việc khai thác nuôi trồng thủy hải sản

Hệ thống sông ngoài ở Điện Bàn được phân bố khá dày đặc Sông ngoài ở đây ngắn và dốc nổi bậc lên là hệ thống sông Vu Gia, Thu Bồn, sông Vĩnh Điện, Sông

Tứ Câu, sông Yên, sông Thanh Quýt, sông Cổ Cò… Hệ thống sông khu vực này có vai trò quang trọng trong việc cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho cây trồng, mang phù sa bồi đắp vùng đồng bằng Sông ngoài đem lại các loại cá tôm, kinh tế cũng được cải thiện bởi nghề nuôi và đánh bắt thủy sản tên các khu vực sông này

Qua các đợt nghiên cứu, các bài viết được tăng tải trên báo chí cũng như những loạt phóng sự do VTV thực hiện nhận thấy rõ rằng tiềm năng du lịch sông nước kết hợp sinh thái trên trên các dòng sông ở Điện Bàn là vô cùng to lớn Có thể nói đây là hướng mở cho ngành du lịch của huyện Trong tương lai đây là nguồn lợi lớn nếu biết khai thác và bảo vệ hợp lí nguồn tài nguyên này

2.1.3 Đặc điểm về kinh tế - xã hội

Với diện tích là 214,28 km2, dân số (theo thống kê ngày 1/4/2009) là 195.048 người Điện Bàn là một trong 16 huyện của tỉnh Quảng Nam Điện Bàn có 1 thị trấn Vĩnh Điện và 19 xã gồm : Điện Dương, Điện Nam Đông, Điện Nam Trung, Điện Nam Bắc, Điện Ngọc, Điện Hòa, Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung, Điện Thắng Nam, Điện An, Điện Phước, Điện Thọ, Điện Hồng, Điện Tiến, Điện Minh, Điện Phương, Điện Trung, Điện Quang và Điện Phong Điện Bàn có đường Hồ Chí Minh, 1A, 14B, 14D, 14E đi qua Đặc biệt, trong đó có 2 tuyến quốc lộ chính là quốc lộ 1A huyết mạch của đất nước và quốc lộ 14 là tuyến thông suốt với nước Lào qua cửa khẩu Đắc Ốc (huyện Nam Giang) Tất cả những đặc điểm này mang lại điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của vùng đất này

Điện Bàn là huyện phát triển nhất hiện nay của tỉnh Quảng Nam, với khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc hiện đại, với khu thị trấn Vĩnh Điện sầm uất Trong những năm trở lại đây, kinh tế - xã hội Điện Bàn đã có những bước phát triển mạnh

và vững chắc Vì vậy, việc xây dựng Điện Bàn trở thành một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa lớn với các chức năng cơ bản là một trung tâm công nghiệp,

Trang 33

thương mại, du lịch và dịch vụ của Bắc Quảng Nam; Trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục - đào tạo của khu vực là tất yếu khách quan nhằm tranh thủ thời cơ và khai thác lợi thế vốn có của huyện Dự định vào năm 2015 Điện Bàn sẽ được nâng cấp thành thị xã, với trung tâm là thị trấn Vĩnh Điện và khu đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc

Huyện Điện Bàn có nhiều làng nghề nổi tiếng Xã Điện Phương có nghề đúc đồng Phước Kiều, gỗ mỹ nghệ truyền thống Nguyễn Văn Tiếp; bánh tráng Phú Triêm ( hay Phú Chiêm)… Nghề trồng dâu nuôi tằm cùng với việc trồng thuốc lá, dưa hấu ở các xã thuộc khu vực Gò Nổi vì đất bồi rất phì nhiêu do lũ lụt đem đến Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ 2007-2009, Điện Bàn đã phát triển khá cao ở ngành công nghiệp và dịch vụ, làm cơ cấu kinh tế chuyển đổi nhanh theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp (74 - 17 - 9%) Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn bình quân hằng năm lên đến hàng ngàn tỷ đồng phục vụ công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư Riêng vốn ngân sách huyện đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn 2006 - 2009 đã là 255 tỷ đồng Nhiều khu đô thị mới như: Điện Nam - Điện Ngọc, Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, thị trấn Vĩnh Điện và các thị tứ được đầu tư đúng mức

Đặc biệt Điện Bàn đã phát triển được 10 cụm công nghiệp, thương mại và dịch

vụ (Cụm công nghiệp Trảng Nhật 1 và 2, Cẩm Sơn, An Lưu, Thương Tín 1 và 2, Nam Dương, Bồ Mưng, Vân Ly, Bích Bắc) Hiện nay, hạ tầng kỹ thuật tại các cụm công nghiệp Trảng Nhật 2, An Lưu cơ bản hoàn thành Tính đến nay, đã có 50 doanh nghiệp đăng ký và hoạt động sản xuất kinh doanh với tổng mức vốn đầu tư hơn 650 tỷ đồng, trong đó 30 đơn vị đã đi vào sản xuất giải quyết được hơn 3.000 lao động tại địa phương có công ăn việc làm ổn định Cùng với tuyến đường ĐT603A đã hoàn thành, các khu du lịch ven biển Điện Dương - Điện Ngọc, khu du lịch sinh thái Bồ Bồ, bãi tắm Hà My đã có 15 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn đăng ký đầu tư là 550 tỷ đồng và 1.132 triệu USD [ 27 ]

Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của huyện còn thấp, lao động được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ nhỏ trong các doanh nghiệp Đặc biệt là môi trường tự nhiên ngày càng ô nhiễm bởi rác thải từ các khu công nghiệp, du lịch, dân cư chưa được

Trang 34

giải quyết triệt để Cùng với đó là nạn khai thác trái phép cát lòng sông và tàn phá rừng đầu nguồn; tình trạng sạt lở, cuốn trôi, bồi cát tại khu vực ven sông làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân các xã Điện Hồng, Điện Phước, Điện Thọ, Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong Kinh tế hộ sản xuất nhỏ, manh mún, không thích ứng được với sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường

Như vậy, trong xu thế phát triển chung tuy có nhiều khó khăn thách thức nhưng với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nguồn lực, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội thuận lợi, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, tình hình an ninh chính trị

và trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững, cho nên Điện Bàn vẫn tiếp tục giữ vai trò động lực của khu vực Bắc Quảng Nam

2.1.4 Tiềm năng du lịch văn hoá

Hơn 700 năm kể từ khi chính thức sát nhập vào Đại Việt (1306), vùng đất Điện Bàn không ngừng phát triển, trở thành một địa danh được cả nước biết đến với những giá trị văn hóa sâu sắc

Văn hóa Điện Bàn là sự kết tinh của văn hóa dân tộc Việt, có sự giao thoa, cộng hưởng với nền văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm Pa, đã chắt lọc, lưu giữ và phát triển thành những đặc tính mang đậm bản sắc vùng đất và con người nơi đây Qua những cứ liệu lịch sử, những kết quả nghiên cứu cùng các di chỉ, di tích, chân dung nhân vật, có thể khẳng định rằng, Điện Bàn là một vùng văn hóa giàu bản sắc

2.1.4.1 Văn hoá sa huỳnh

Văn hóa Sa Huỳnh là một trong ba nền văn hóa khảo cổ đã hình thành nên

“tam giác văn hóa” trong buổi bình minh của lịch sử Việt Nam Đó là Văn hóa Đông Sơn,Văn hóa Sa Huỳnh và Văn hóa Óc Eo

Văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1909 bởi một nhà khảo cổ học người Pháp M Vinet Nơi dầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam được tìm thấy vết tích nền văn hóa Sa Huỳnh là đầm An Khê, một đầm nước ngọt ở Sa Huỳnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi Trải qua hàng chục năm, với nhiều cuộc tìm kiếm khai quật đã tìm thấy nhiều hiện vật quý giá chứng minh được một nền văn hóa rực

Trang 35

rỡ đã tồn tại dọc mãnh đất miền Trung từ Quảng Nam đến Bình Thuận đó chính là nền văn hóa Sa Huỳnh

Tại vùng đất Quảng Nam được xem là trung tâm của văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chămpa Trong nhiều di tích tại vùng đất này các nhà khảo cổ đã tìm thấy những mảnh gốm mang đặc điểm của gốm Sa Huỳnh Có hơn năm chục di tích văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Nam đã được phát hiện, nghiên cứu, phần lớn tập trung ở lưu vực sông Thu Bồn và Vu Gia Từ những năm sau 1985, Viện Khảo cổ học Việt Nam kết hợp với bảo tàng tỉnh Quảng Nam đã đưa lên từ trong lòng đất những kho tàng khảo cổ có liên quan đến nền văn hóa này, và hầu hết đó là những khu mộ chum chôn vùi trong lòng đất, chứa nhiều hiện vật tùy táng với các loại công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức… khác nhau, phản ánh sinh động đời sống kinh tế, xã hội cũng như trình độ kỹ thuật của lớp cư dân cổ nhất ở nơi đây

Trong nhiều năm gần đây, các cuộc khai quật ở những di tích văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An, Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Nam Giang… đã thu thập khá nhiều hiện vật đem lại giá trị cao cho việc khảo cổ và tham quan du lịch

Trong các khu vực trên địa bàn Quảng Nam việc khai quật các di chỉ về nền văn hóa Sa Huỳnh được diễn ra khắp nơi Trong đó vùng đất Điện Bàn cũng nằm trong công cuộc này Việc khai quật các di chỉ khảo cổ tại khu vực Điện Bàn đã nói lên được rằng vùng đất này có bề dày về văn hóa, góp phần nâng cao giá trị lịch sử trong việc hình thành cũng như nguồn gốc của vùng đất này Văn hoá Sa Huỳnh đã

để lại những giá trị lớn lao trong đó nông nghiệp là minh chứng rõ ràng nhất Vùng đất Điện Bàn khu vực trồng cây nông nghiệp chủ yếu là lúa nước Cho đến ngày nay cây lúa Chiêm do người Sa Huỳnh cổ và người Chàm vẫn còn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay Thứ hai việc trồng dâu nuôi tằm gắn liền với vùng đất Gò Nổi là minh chứng sáng giá nhất khẳng định rằng vùng đất Điện Bàn được kế thừa

từ nền văn hóa nông nghiệp của người Sa Huỳnh

Trên vùng đất Điện Bàn khu vực tìm thấy vết tích của nền văn hóa Sa Huỳnh

là Lai Nghi Việc tìm ra vùng Lai Nghi là cơ sở chứng minh rằng nơi đây vùng đất Điện Bàn từng tồn tại nền văn hóa rực rỡ và còn lưu dấu đến tận ngày nay Có thể

Trang 36

nói,Văn hóa Sa Huỳnh mang lại cho người dân Điện Bàn nói chung và Quảng Nam nói riêng một tập quán sống, một nền văn hóa nông nghiệp và cao hơn là giá trị tinh thần trong cái hồn dân tộc về cội nguồn của mình

Như vậy, qua tìm hiểu về di chỉ Lai Nghi và những di chỉ có liên quan khác trên địa bàn Quảng Nam nhận thấy rằng vùng đất Điện Bàn có bề dày về lịch sử, văn hóa Nơi đây đã từng tồn tại một nền văn hóa rực rỡ - nền văn hóa Sa Huỳnh Giá trị của nền văn hóa này để lại vô cùng to lớn, không chỉ trước kia mà cho đến bây giờ sức ảnh hưởng của nền văn hóa này vô cùng lớn lao Nền văn hóa Sa Huỳnh ảnh hưởng tích cực đến đời sống văn hóa của Điện Bàn Khi tìm ra những vết tích hay di chỉ tại vùng đất này, thứ nhất là chứng cứ xác thực khẳng định rằng vùng đất này là nơi đã từng tồn tại một nền văn hóa cổ Sa Huỳnh, thứ hai khi các vết tích hay di chỉ khảo cổ được tìm thấy tại Điện Bàn góp phần tạo ra tìm năng du lịch cho địa phương, thứ ba khi các cổ vật được khai quật góp phần tạo nên chuỗi

bộ sưu tập đa dạng và độc đáo về nền văn hóa Sa Huỳnh đồng thời các cổ vật là nguồn tài liệu quý giá trong việc nghiên cứu giá trị lịch sử và khảo cổ, thứ tư thông qua các di chỉ vết tích và các cổ vật được tìm thấy, góp phần nâng cao ý thức cho cộng đồng dân cư về nguồn gốc văn hóa, đồng thời góp phần gìn giữ và bảo tồn những giá trị vốn có của nền văn hóa Sa Huỳnh này

2.1.4.2 Văn hoá Chămpa

Ở khu vực miền Trung Việt Nam, từ khoảng thế kỷ V đến thế kỷ XV đã từng tồn tại một vương quốc có tên gọi là Chămpa, theo như ghi trên văn bia, còn gọi là Chiêm Thành, theo cách ghi trong sử Việt và sử Tàu Một nghìn năm văn hóa Chămpa đã có những phát triển rực rỡ và còn lưu lại những dấu ấn cho đến ngày nay

Quảng Nam là khu vực cư trú của người Chăm trước đây, trải qua hàng trăm năm lịch sử người Chăm đã để lại trên vùng đất Quảng Nam này biết bao công trình kiến trúc tiêu biểu trong số đó là khu di tích Mỹ Sơn - trung tâm văn hóa lớn của người Chăm Ngày nay di tích Mỹ Sơn vẫn còn đó như một biểu tượng văn hóa của dân tộc Chăm, được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1999 Di tích

Mỹ Sơn thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế đến tham quan và nghiên

Trang 37

cứu Kế đến là kinh đô Trà Kiệu, một kinh đô của vương quốc Chăm còn tồn tại cho đến ngày nay, đây cũng là một điểm du lịch rất hút khách

Qua các cứ liệu lịch sử, từ nguồn gốc hình thành vùng đất cho đến các giá trị khảo cổ được tìm thấy tại vùng đất Quảng Nam chứng minh rằng nối tiếp văn hóa

Sa Huỳnh cổ là nền văn hóa Chămpa

Cũng qua những chứng cứ lịch sử cho thấy, Điện Bàn là vùng đất đã từng tồn tại một nền văn hóa Chăm độc đáo Vùng đất Điện bàn, nơi đây còn có các công trình kiến trúc của người Chăm điển hình như tháp Bằng An, một công trình kiến trúc Chăm đặc sắc, tiêu biểu cho sự hiện diện của nền văn hóa Chăm tại vùng đất này Hay các văn bia cổ của người Chăm được tìm thấy ở vùng Điện Bàn tất cả đã nói lên được nơi đây trước kia chính là nơi sinh sống của người Chăm Ngày nay về Điện Bàn du khách vẫn còn được tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của tháp Bằng An, thưởng thức đặc sản được làm từ lúa Chiêm - một loại cây lương thực của người Chăm vẫn còn tồn tại và phát triển cho đến tận ngày nay Đâu đó vẫn còn nhìn thấy nếp ăn, cách ở của người Chăm thấp thoáng trong chiếc khăn vấn quanh đầu của những bác nông dân hay những đôi chân trần của người đàn ông quanh năm lam lủ ngoài ruộng Ngày nay văn hóa Việt, Chăm được hòa vào nhau tạo ra sự giao thoa văn hóa giúp người dân Điện Bàn có cuộc sống ấm no và tốt đẹp hơn kể cả vật chất lẫn tinh thần

Dẫu biết rằng vương quốc Chămpa không còn nữa nhưng văn hóa Chămpa có sức sống lâu bền Trải qua những biến đổi thăng trầm nhưng những gì mà nền văn hóa này để lại cho vùng đất Điện Bàn vô cùng lớn lao Dù không hiện hữu rõ ràng nhưng sự giao thoa, tiếp biến của văn hóa Việt từ văn hóa Chămpa đang tồn tại trong đất, trong trời, trong cách ăn nếp ở của người dân Điện Bàn

Như vậy có thể nói văn hóa Chămpa tồn tại trên vùng đất Quảng Nam nói chung và Điện Bàn nói riêng là một tài sản quý giá Những thành tựu về văn hóa vật chất và tinh thần mà người Chămpa để lại sẽ là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, góp phần tạo ra sản phẩm du lịch cho địa phương

2.1.4.3 Di tích lịch sử

Trang 38

Vùng đất Điện Bàn có bề dày về lịch sử văn hóa, có thể nói nơi đây là mãnh đất địa linh nhân kiệt, vùng đất của những di tích Trải qua thời gian biết bao nhiêu biến đổi, Điện Bàn còn lưu giữ trong mình nhiều di tích văn hóa lịch sử mang tầm quốc gia thu hút được du khách gần xa

Đến nay cả Điện Bàn có 41 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có 4 di tích cấp quốc gia (Lăng mộ Hoàng Diệu, tháp Bằng An, lăng mộ Trần Quý Cáp, Giếng Nhà Nhì - nơi chiến đấu của Bảy dũng sĩ Điện Ngọc) và 37 di tích cấp tỉnh

Lăng mộ Hoàng Diệu:

Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã có những câu thơ viết về Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương được nhiều người biết:

“Nước ta nhiều kẻ tôi trung, Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tiết sương

Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương Cùng thành còn mất làm gương để đời.”

Cụ Hoàng Diệu (1829-1882) là người làng Xuân Đài huyện Diên Phước, nay

là thôn Xuân Đài xã Điện Quang huyện Điện Bàn Xuất thân trong một gia đình có truyền thống nho học, ngay từ đầu hồi còn niên thiếu cụ đã nổi tiếng là một người

có văn tài, năm 20 tuổi đỗ cử nhân, năm 25 tuổi đỗ Phó bảng

Cụ là một bậc đại Khoa của đất Quảng, một vị quan nổi tiếng thanh liêm, khẳng khái, đã cống hiến trọn cuộc đời cho dân, cho nước Cụ tuẩn tiết khi chống thực Dân Pháp giữ thành Hà Nội năm 1882

Năm (canh Thìn) 1880 Cụ làm tổng Đốc Thành Hà Ninh (Hà Nội - Bắc Ninh) lãnh chức hàm thượng thư bộ binh gồm coi việc thương chánh để giao thiệp với người nước ngoài

Đầu năm (nhâm Ngọ) 1882 do bất bình với âm mưu của Thực Dân Pháp sau khi đưa ra tối hậu thư, nên cụ chuẩn bị đề phòng và sẵn sàng đối phó với mọi bất trắc

Qủa đúng như vậy Thực Dân Pháp bắt đầu tấn công vào thành, trước hỏa lực quá mạnh của quân cướp nước Hoàng Diệu kiên quyết đối phó, quyết sống chết giữ

Trang 39

thành Quân Pháp càng ngày càng bắt đại bác giữ dội Cụ vẫn đem máu nóng, lòng son phơi cùng tổ Quốc mặc dù biết quân ta không chống nổi giặc Pháp

Hoàng Diệu lúc bấy giờ muốn nêu cao gương tiết nghĩa cho hậu bối bèn vào văn miếu viết tờ biểu tạ tội với Triều đình vì không giữ nổi thành Rồi rút chiếc khen bịt đầu buộc lên cành cây táo trong sân Võ Miếu tự ải lúc ấy đúng 11giờ đêm, ngày mồng 8 tháng 3 năm nhâm Ngọ tức ngày 25/4/1882, khi tuổi đời vừa 54 nhưng nghĩa khí đã cùng non sông trường tồn mãi mãi

Các nhân sĩ Bắc Hà họp nhau tống táng nhà anh hùng tại vườn Hàng Bông, sau ba tháng hai người con trai của cụ từ quê nhà ra đưa di hài về an táng tại quê nhà thôn Xuân Đài xã Điện Quang huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam

Mộ cụ được gia tộc và nhân dân địa phương xây dựng bề thế khang trang, nhưng phần do chiến tranh bom đạn tàn phá, phần do thiên tai sau nhiều năm phần

mộ cụ Hoàng Diệu bị hư hại nặng nề (Ảnh phần mộ Cụ Hoàng Diệu lúc chưa được Nhà nước trùng tu xây dựng.)

Năm 1982 nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của cụ Sở văn hóa thông tin tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cùng nhân dân, dòng tộc đã xây dựng trùng tu, tôn tạo lại phần lăng mộ cụ Hoàng Diệu

Lăng mộ cụ Hoàng Diệu là một trong những khu lăng mộ bề thế, là chốn tôn nghiêm đồng thời là điểm thăm quan của nhiều du khách khi đến với Điện Bàn Xung quanh là tường rào cao 1,2m, bao bọc cổng vào ở góc tường phía tây, ngay trụ cổng có tấm bia đá khắc dòng chữ: “ Lăng mộ Binh bộ thượng thư Hà Ninh tổng đốc Hoàng Diệu”

Bên trong là lăng mộ gồm hai trụ cổng, lăng cao 2,4m, kế đến là nhà bia cao 3m, phía tron g nhà bia có đặt một tấm bia bằng đá cẩm thạch rộng 0,64m, cao 1,1m, dày 0,2m

Phần trên đỉnh có chạm rồng chầu nguyệt, phần giữa bia ghi: nhà yêu nước Hoàng Diệu (1829-1882) Xuân Đài, Điện Quang, Điện Bàn đã tuẩn tiết trong cuộc đấu tranh bảo vệ thành Hà Nội 1882 Sau nhà bia là phần mộ của cụ xoay về hướng bắc cao 0,54m, dài hơn 2m được bao bọc bởi một vòng thành nhỏ cao 2,3m chạm rồng phượng Toàn bộ lăng mộ được tô bằng đá mài

Trang 40

Lăng mộ cụ Hoàng Diệu có giá trị về văn hóa rất lớn Mộ cụ Hoàng Diêu là một trong bốn di tích cấp Quốc gia được công nhận tại Điện Bàn nhằm thể hiện lòng tôn kính của dân tộc đối với những người anh hùng có công xây dựng đất nước Di tích là minh chứng cho tấm gương sáng để giáo dục các thế hệ sau, là tiềm năng du lịch góp phần tăng thêm giá trị cho vùng đất Điện Bàn

Lăng mộ Trần Quý Cáp:

Có những người nằm xuống đơn thuần chỉ là trở về với cát bụi, nhưng cũng có những người khi nằm xuống thì có một tượng đài dựng lên lồng lộng giữa đất trời

và lòng người Chí sĩ Trần Quý Cáp là một trong những người như thế

Cụ Trần Quý Cáp quê ở làng Bất Nhị, nay thuộc thôn Nhị Dinh I, xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam từng đỗ Nhất giáp Tiến sĩ Năm 1908 Cụ Trần Quý Cáp bị kết án và bị chém ngang lưng tại Chợ Cạn, tỉnh Khánh Hòa khi đang làm giáo thọ; thi hài cụ Trần được chuyển về quê nhà, lăng mộ xây từ năm

1938 và đến năm 1994 trùng tu lại.Lăng mộ Cụ tọa lạc ở nghĩa địa Gò Bướm - thôn Nhị Dinh 1, xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), lăng mộ xây dựng trên một diện tích đất khá khiêm tốn, với lối kiến trúc phương Đông nhẹ nhàng mà tinh túy Do thời gian, mưa nắng mộ của Cụ có dấu hiệu xuống cấp và reo phong ít nhiều Tuy vậy đây là công trình có ý nghĩa nhân văn sâu sắc Mộ của Cụ vào năm

2000 được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

Lăng mộ cụ Trần tuy được bảo quản, chăm sóc chu đáo nhưng do nằm trong khu vực nghĩa địa Gò Bướm của làng nên diện tích quá chật hẹp, rất bất tiện khi tổ chức các hoạt động dâng hương, thăm viếng Đường vào lăng mộ lại rất hẹp, hai người đi ngược chiều là có chỗ phải nghiêng người mới qua được

Ngày 26-3-2012, công trình xây dựng Nhà Lưu niệm Chí sĩ Trần Quý Cáp” được tiến hành xây dựng Công trình này góp phần thể hiện lòng biết ơn của thế hệ sau đối với những vị anh hùng có công với đất nước, đồng thời cũng là nơi giáo dục thế hệ trẻ học và làm theo những tấm gương sáng của các vị hiền nhân

Lăng mộ Trần Quý Cáp mặt dầu là một công trình tiêu biểu mang tầm quốc gia, tuy vậy vẫn chưa được đưa vào khai thác du lịch Trong tương lai công trình này sẽ góp phần tạo ra sản phẩm du lịch cho địa phương nếu biết cách khai thác hợp lí

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w