PHÂN TÍCH BÀI THƠ “BẾP LỬA” CỦA BẰNG VIỆT A Mở bài Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Thơ ông thường gợi lại những kỉ niệm đẹp của tuổi thơ bằng giọng thơ trầm lắng, mượt mà, giàu chất suy tư Bài thơ “Bếp lửa” sáng tác năm 1963 khi tác giả đang học ngành Luật ở Liên Xô, bài thơ in trong tập thơ “Hương cây Bếp lửa” Trong dòng hồi tưởng từ quá khứ đến hiện tại, bài thơ đã diễn tả xúc động tình cảm bà cháu cùng nỗi nhớ quê hương da diết, qua đó tác giả bày tỏ lòn.
Trang 1PHÂN TÍCH BÀI THƠ “BẾP LỬA” CỦA BẰNG VIỆT
Trang 2A Mở bài
Trang 3- Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Thơ ôngthường gợi lại những kỉ niệm đẹp của tuổi thơ bằng giọng thơ trầm lắng, mượt mà, giàuchất suy tư
Trang 4- Bài thơ “Bếp lửa” sáng tác năm 1963 khi tác giả đang học ngành Luật ở Liên Xô, bài thơ in trong tập thơ “Hương cây- Bếp lửa”
Trang 5- Trong dòng hồi tưởng từ quá khứ đến hiện tại, bài thơ đã diễn tả xúc động tình cảm bàcháu cùng nỗi nhớ quê hương da diết, qua đó tác giả bày tỏ lòng biết ơn vô hạn củangười cháu đối với bà, với quê hương đất nước
Trang 6- Nêu vị trí và nội dung khái quát của đoạn thơ mà đề yêu cầu, (trích thơ)
B Thân bài
Trang 71 Khổ 1: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc để người cháu nhớ về
bà “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Trang 8Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Trang 9Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”
Trang 10- Mở đầu khổ thơ ta bắt gặp điệp ngữ “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần trong ba dòng
thơ giống như một khúc nhạc dạo đầu trong bản tình ca về nỗi nhớ quê hương - Điệp
ngữ “một bếp lửa” đã gây được ấn tượng, nhấn mạnh được hình ảnh trung tâm, hình ảnh khơi nguồn cảm xúc cho toàn bài thơ “Bếp lửa”
Trang 11- Nỗi nhớ quê hương bắt nguồn từ hình ảnh bếp lửa, và quan trọng hơn cả hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà thân thương
Trang 12- Tác giả đã thành công khi sử dụng những từ ngữ giàu giá trị gợi hình gợi cảm: +
“Chờn vờn sương sớm” gợi những làn sương buổi sớm đang nhè nhẹ bay quanh bếp
lửa, khiến cho hình ảnh thơ hiện lên vừa như thực, vừa như mơ
Trang 13+ “Ấp iu nồng đượm” được sử dụng thật sáng tạo và đặc sắc Từ “ấp iu” được ghép từ hai từ “ấp ủ và nâng niu” một cách sáng tạo, vừa gợi tả được sự khéo léo kiên nhẫn của
đôi tay người nhóm lửa vừa gợi lên tấm lòng chi chút, nâng niu của người bà mỗi khinhóm bếp
Trang 14- Ngay từ những dòng đầu, tác giả đã cho người đọc cảm nhận được hơi ấm đang lan tỏa
từ bếp lửa quê nhà
Trang 15- Từ hình ảnh bếp lửa, tình cảm như được dồn nén, người cháu đã bộc lộ nỗi nhớ thương
bà da diết, mãnh liệt: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Trang 16+ Chữ “thương” đi cùng chữ “bà” là hai thanh bằng đi liền nhau, tạo ra âm vang nhưngân dài xao xuyến, như nỗi nhớ trải dài của người cháu dành cho bà, đọc lên nghe xúcđộng thân thương
Trang 17+ Khung cảnh “biết mấy nắng mưa” gợi cuộc đời tần tảo, âm thầm lặng lẽ hôm sớm của
bà
Trang 18-> Từ ngọn lửa chập chờn bập bùng, hình tượng thơ cứ thế tỏ dần và người cháu nhớ về
bà Ba câu thơ ngắn gọn, hình ảnh giàu sức biểu cảm đã gợi lên trong lòng người đọc biết bao ấn tượng, biết bao cảm xúc sâu xa
Trang 192 Ba khổ thơ tiếp (k2,3,4): là kỉ niệm về những năm tháng tuổi thơ gian khổ thiếu thốn cùng tình yêu thương đùm bọc, cưu mang trọn vẹn của bà
Trang 20“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Trang 21Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
Trang 22Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,
Trang 23Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Trang 24Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
Trang 25Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
Trang 26Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Trang 27Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
Trang 28Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Trang 29Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Trang 30Mẹ cùng cha công tác bận không về,
Trang 31Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Trang 32Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Trang 33Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Trang 34Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
Trang 35Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Trang 36Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Trang 37Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Trang 38Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Trang 39Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
Trang 40“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Trang 41Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Trang 42Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Trang 43*Khái quát: toàn bộ đoạn thơ là mạch ký ức tuổi thơ được nhắc tới bằng những mốc
thời gian cụ thể, bằng những năm tháng chẳng thể nào quên
Trang 44a Khổ 2 là kỷ niệm về nạn đói năm cháu lên bốn tuổi
Trang 45“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Trang 46Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
Trang 47Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,
Trang 48Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Trang 49Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Trang 50- Kỷ niệm được gợi về khi người cháu lên 4 tuổi đó là năm dân tộc Việt Nam phải gồngmình chống chịu với nạn đói năm 1945 Nạn đói ấy đã trở thành nỗi ám ảnh ghê rợn
trong lòng người cháu (Mở rộng: ->Nhà văn Kim Lân từng viết: “Người chết như ngả
rạ, người sống đi lại dật dờ như bóng ma”, còn nhà văn Nam Cao thì nhận xét: “Đến năm 2000, con cháu chúng ta còn nhắc lại để rồi rùng mình”.)
Trang 51- Khung cảnh nạn đói được Bằng Việt nhắc đến bằng hình ảnh hết sức chân thực, khốn
khổ và thương tâm: “đói mòn đói mỏi”,
Trang 52+ đó là cái đói triền miên, dai dẳng, đói khiến con người kiệt sức
Trang 53+ “Mòn” và “mỏi” kết hợp với điệp từ “đói” có tác dụng nhấn mạnh và diễn tả chính xáctrạng thái đói lâu ngày, đói đến bủn rủn, đói đến chân tay không muốn cử động - Hình
ảnh “khô rạc ngựa gầy” càng nói rõ hơn sự tàn phá ghê gớm của nạn đói Từ con người
đến con vật đều trở thành nạn nhân thê thảm, xót xa của cái đói - Những kỉ niệm tuổi thơ gắn liền với bếp lửa lại hiện lên:
Trang 54+ Bốn tuổi mới chỉ là một cậu bé con nhưng người cháu đã quen mùi khói Điều đó khiến ta hiểu vì sao hình ảnh bếp lửa lại gắn bó đến thế trong ký ức của người cháu.
Trang 55+ Và nỗi nhớ đằm sâu nhất là “khói hun nhèm mắt”, đây là một kỷ niệm chẳng thể nào
quên Những lúc trời mưa, củi ướt, cháu theo bà vào bếp cũng hứng trọn khỏi bếp, đểchảy nước mắt nước mũi
Trang 56- Câu thơ “nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay” thật sâu sắc, thấm thía Nó gợi được cảm
giác cay của cậu bé khi bị khói cay nhòe mắt, nó còn gợi được cả cảm xúc của ngườicháu khi nhớ về bà, nhớ về quê hương mà nước mắt chợt tuôn rơi
Trang 57(Mở rộng: -> Tuổi thơ là quãng đời đẹp nhất của mỗi con người, với nhà thơ Tế Hanh:
“Tuổi thơ tôi là những buổi trưa hè Tỏa bóng xuống lòng sông lấp lánh” Còn tuổi thơ của nhà thơ Giang Nam thì đầy mộng mơ trong sáng: “Tuổi ấu thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ” Với nhà thơ Bằng Việt, ký ức tuổi thơ
là những năm tháng nhọc nhằn sống bên bà và bếp lửa, nên bây giờ tác giả còn nhớ mãikhông bao giờ nguôi quên.)
Trang 58b Đến khổ thơ thứ 3, tác giả đã gợi lại những kỷ niệm tám năm ròng sống bên bà và bếp lửa
Trang 59“Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
Trang 60Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Trang 61Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
Trang 62Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Trang 63Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Trang 64Mẹ cùng cha công tác bận không về,
Trang 65Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Trang 66Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Trang 67Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Trang 68Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
Trang 69Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”
Trang 70- Âm thanh tiếng chim tu hú được nhắc lại 4 lần trong 10 dòng thơ mang rất nhiều ý nghĩa - Nếu như trong dòng ký ức của người cháu lúc lên 4 tuổi là nỗi ám ảnh của khói bếp và nạn đói thì trong hành trình 8 năm của tuổi thơ là nỗi khắc khoải về tiếng chim tu
hú Tiếng tu hú đưa người cháu trở về những năm tháng sống gắn bó với bà Tiếng tu húgợi nỗi nhớ quê nhà, gợi xứ sở thân thương
Trang 71- Âm thanh tu hú kêu như song hành suốt cuộc đời tuổi thơ của người cháu, trong hoàncảnh sống đơn côi chỉ có hai bà cháu, giữa đói nghèo và chiến tranh, tiếng tu hú vangvọng như để an ủi những kiếp người đau khổ Tiếng tu hú còn gợi nên nỗi trống trải xavắng của người bà nơi quê nhà
Trang 72- Bằng giọng điệu thiết tha cùng với câu hỏi tu từ, cảm thán: “Tu hú ơi! chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”, câu thơ đã gợi được bao nỗi niềm
khắc khoải, nó còn như lời tự trách mình của người cháu khi đi xa, để lại bà sống côi cútnơi quê nhà
Trang 73* Khổ thơ thứ ba còn làm nổi bật hình ảnh người bà đôn hậu giàu đức hi sinh: - Với hình
thức ngôn ngữ độc thoại, câu hỏi tu từ: “Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà” đã mở đầu
đoạn tâm tình của hai bà cháu Dường như cháu đang cùng bà ôn lại những kỷ niệm về những năm tháng tuổi thơ sống bên bà
Trang 74+ Điệp từ “bà” được nhắc lại tới 10 lần, điệp từ “cháu’ được nhắc lại 4 lần thể hiện tìnhcảm gắn bó quấn quýt, yêu thương của người cháu với bà; thể hiện nỗi nhớ thương bàđang cồn cào, da diết trong lòng cháu
Trang 75+ Nghệ thuật điệp cấu trúc câu kết hợp với liệt kê được sử dụng thật nhịp nhàng và hiệu
quả “Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học” + Với
tuổi thơ của cháu, bà là tất cả, bà là người kể chuyện cho cháu nghe đêm đêm, là người chăm sóc cháu từ miếng ăn giấc ngủ, thay cha mẹ dạy bảo cháu nhiều điều Bà luôn là chỗ dựa vững chắc cho cháu, thay thế và lấp đầy tất cả (cả khát khao học hành và cả hình thành nhân cách) -> Tình cảm đôn hậu, tình yêu thương bao la của bà là sự kết hợpcao quý giữa tình cha, nghĩa mẹ và công thầy
Trang 76+ Suốt một đời tuổi thơ cháu không khi nào vắng bóng hình của bà Bởi thế, câu hỏi tu
từ ở cuối khổ thơ đã gợi tâm trạng của người cháu nhớ mong về bà khi đi xa Người
cháu mong mỏi tiếng tu hú sẽ luôn chia sẻ với bà trong những lúc cô đơn, vắng vẻ c Khổ thơ 4 đã gợi lại hình ảnh của người bà tần tảo, giàu đức hi sinh trong những năm tháng chiến tranh, giặc tàn phá xóm làng
Trang 77“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Trang 78Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Trang 79Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Trang 80Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
Trang 81“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Trang 82Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Trang 83Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Trang 84- Hình ảnh “giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi” gợi sự tàn khốc của chiến tranh đồng thời
tố cáo tội ác của kẻ thù xâm lược Câu thơ đã không giấu nổi tâm trạng xót xa của tácgiả + Ngọn lửa vốn gợi sự no đủ, ấm êm trong mỗi gia đình, nay lại bị kẻ thù lợi dụng
để phá hủy gia đình nhưng chẳng có ngọn lửa nào thiêu hủy được tấm lòng của conngười + Hàng xóm vẫn cùng bà đoàn kết, chung tay dựng lại túp lều tranh Tấm lòng bàhiện lên thật cao cả Đức hi sinh của bà thật là lớn lao Bà nhận hết những vất vả, lo toan
về cho mình
Trang 85- Tác giả đã khéo léo dẫn trực tiếp lời dặn của bà, khiến cho lời dặn ấy trở nên chân thực
xúc động: “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố Mày có viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Trang 86+ Lời dặn ấy có vi phạm phương châm về chất bởi bà muốn cháu giấu đi sự thật nhà bịcháy tàn cháy rụi, để ưu tiên trong một yêu cầu khác quan trọng hơn là để bố mẹ không
bị lo lắng, yên tâm làm cách mạng, ở nhà bao nhiêu vất vả, lo toan một mình bà gánhvác Bà không chỉ là chỗ dựa cho cháu mà còn là hậu phương vững chắc của bố mẹ
Trang 87+ Giọng kể thủ thỉ tâm tình, rất nhỏ, rất nhẹ của tác giả đã khiến cho dòng cảm xúc trởnên miên man và để lại dấu ấn sâu đậm về người bà Lời bà vẫn văng vẳng bên tai, vẫn
đinh ninh trong lòng người cháu Đến đây ta thấy, bà thật sự là một người phụ nữ nhẫn nại giàu đức hi sinh cho gia đình, cho cách mạng
Trang 88=> Thành công của 3 khổ thơ trên chính là sự kết hợp, đan xen nhuần nhuyễn giữa các yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự sự Đây cũng là bút pháp quen thuộc của nhà thơ Chính
sự kết hợp nhuần nhị độc đáo đó khiến hình ảnh bà hiện lên thật gần gũi, những mảng tuổi thơ lại hiện về sống động, chân thành và giản dị Trong dòng hồi tưởng về quá khứ, nỗi nhớ thương và lòng biết ơn bà sâu nặng của người cháu cứ thế lung linh, tỏa sáng…
Trang 893 Khổ 5 và 6 là những suy ngẫm sâu sắc của cháu về cuộc đời bà và hình ảnh bếp
lửa “Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,
Trang 90Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,
Trang 91Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng ”
Trang 92“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Trang 93Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Trang 94Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Trang 95Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,
Trang 96Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,
Trang 97Nhóm nồi xôi gạo mới, sẻ chung vui,
Trang 98Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Trang 99Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”
Trang 100a Khổ 5: Tác giả bày tỏ suy ngẫm về ngọn lửa của niềm tin chứa trong lòng
bà “Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,
Trang 101Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,
Trang 102Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng ”
Trang 103- Khổ thơ thứ năm, hình ảnh bếp lửa rồi ngọn lửa cứ chập chờn, bập bùng sáng vừa mang ý nghĩa thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng
Trang 104+ Đầu tiên ta bắt gặp từ ngữ chỉ thời gian “rồi sớm rồi chiều” kết hợp từ “lại” vừa nói
lên được công việc của bà vừa khắc họa được sự kiên trì, bền bỉ của bà trong công việcnhóm bếp
Trang 105+ “Nhen” cũng có nghĩa là nhóm, chỉ hoạt động làm cho lửa cháy bén vào chất đốt như
củi, rơm Những tác giả lại không dùng từ “nhóm”, mà dùng từ “nhen”, vừa gợi hình vừa
gợi cảm “Nhen” gợi hình ảnh bàn tay gầy guộc, chi chút nâng niu khéo léo của bà trong
hành động nhóm bếp; vừa gợi được tình cảm thân thương trìu mến của bà
Trang 106- Từ “bếp lửa” của bà đã thổi bùng lên thành ngọn lửa mang nhiều tầng ý nghĩa - Điệp
ngữ “một ngọn lửa” bắt đầu câu thơ càng nhấn mạnh ý nghĩa của ngọn lửa bà đã nhen
Đó là ngọn lửa của tấm lòng bao dung của bà
Trang 107- Ngọn lửa được thắp lên trong lòng bà luôn ấp ủ thường trực, đó là ngọn lửa của sứcsống niềm tin mãi mãi vững bền, ngọn lửa không bao giờ tắt, ngọn lửa của niềm tin daidẳng bất diệt Ngọn lửa lòng bà đã nhen lên trong tâm hồn cháu một ý chí nghị lực vàmột tình yêu cuộc sống, một niềm tin tươi sáng về ngày mai Mở rộng ra, đó là ý chí, lànghị lực niềm tin của cả dân tộc đang trong thời kì vô cùng khó khăn, niềm tin về mộtngày mai đất nước hòa bình ấm no hạnh phúc.
Trang 108-> Ba câu thơ cô đọng hàm súc mà hình ảnh người bà hiện lên thật xúc động trong tình thương nỗi nhớ vô bờ của người cháu Người bà mang vẻ đẹp tiêu biểu của người phụ
nữ truyền thống Việt Nam hết lòng tần tảo, lo toan cho con cháu và cho cả gia đình b Đến khổ thơ thứ 6, kỉ niệm tuổi thơ lắng dần từ cảm xúc nhớ thương, người cháu bày tỏ những suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời bà và bếp lửa
Trang 109“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Trang 110Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Trang 111Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Trang 112Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,
Trang 113Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,
Trang 114Nhóm nồi xôi gạo mới, sẻ chung vui,
Trang 115Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Trang 116Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”
Trang 117* Câu thơ mở đầu “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa” đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ
nhằm nhấn mạnh, khẳng định nỗi cơ cực, vất vả gian nan của bà
Trang 118- Hình ảnh ẩn dụ “biết mấy nắng mưa” đã gợi tả những năm tháng khó khăn, gian khổ
mà bà đã trải qua Khoảng thời gian kéo dài đằng đẵng “mấy chục năm rồi đến tận bây giờ”, bà vẫn giữ thói quen dậy sớm, hết lòng vì con vì cháu
Trang 119- Người cháu suy ngẫm về cuộc đời bà cũng là biểu lộ tình yêu thương, lòng biết ơn vôhạn đối với người bà kính yêu Suốt cuộc đời bà thức khuya dậy sớm, hi sinh vì gia đình.
* Những câu thơ tiếp theo:
Trang 120+ Điệp từ “nhóm” được đặt ở đầu bốn dòng thơ vừa mang nghĩa tả thực: nhấn mạnh,làm nổi bật công việc nhóm lửa thường nhật của bà mỗi sớm mỗi chiều; lại vừa mangnghĩa biểu tượng; nó gợi ra sự bền bỉ vượt thời gian năm tháng của bà, khơi dậy tronglòng cháu những điều tốt đẹp thiêng liêng
Trang 121+ Từ “nhóm” đầu tiên trong “Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm” là động từ, dùng theo
nghĩa gốc, để chỉ hành động làm cho lửa bén vào chất đốt, gợi hình ảnh bếp lửa có thật,cảm nhận được bằng mắt Ngọn lửa ấy dùng để nấu chín thức ăn, xua tan đi cái giá lạnhcủa mùa đông
Trang 122+ Ba từ “nhóm” tiếp theo được dùng theo nghĩa chuyển ẩn dụ, mang nghĩa thắp lên trongcháu niềm tin yêu, sự no đủ và khơi dậy trong cháo những tâm tình tuổi ấu thơ để chocháu luôn nhớ về cội nguồn, về quê hương đất nước
Trang 123-> Tâm hồn và khát vọng tuổi thơ của cháu cùng ngọn lửa sớm chiều đã được bà chắpcánh từ ấy Bếp lửa đơn sơ, giản dị đã mang ý nghĩa khái quát, trở thành ngọn lửa trong
tim – một ngọn lửa ẩn chứa niềm tin và sức sống của con người Đến đây ta thấy, bà vừa
là người thắp lửa, giữ lửa và truyền lửa cho các thế hệ mai sau
Trang 124*Câu thơ cuối là một sự chiêm nghiệm sâu sắc về bếp lửa của tình bà - Thán từ “ôi” như
một tiếng reo vui, ngạc nhiên, ngỡ ngàng, diễn tả niềm xúc động dâng trào “Ôi! kì lạ và thiêng liêng - Bếp lửa”