1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích bài thơ 12345345253224

95 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận Huy Cận là một nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam Sau cách mạng, giọng thơ Huy Cận vui tươi dạt dào cảm xúc khi viết về cuộc sống mới Bài thơ “đoàn thuyền đánh cá” ra đời năm 1958, khi tác giả đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh, cũng là lúc miền bắc đang bắt tay xây dựng cuộc sống mới Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của biển quê hương, sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và.

Trang 1

Phân tích bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận

Huy Cận là một nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam Sau cách mạng, giọng thơ Huy

Cận vui tươi dạt dào cảm xúc khi viết về cuộc sống mới Bài thơ “đoàn thuyền đánh cá” ra đời năm 1958, khi tác giả đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh, cũng là lúc miền bắc đang bắt tay xây dựng cuộc sống mới Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của biển quê hương, sự hài hòa giữa thiên nhiên

và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống

Mở đầu bài thơ là cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá Cảnh hoàng hôn trên biển được miêu tả

bằng một hình tượng độc đáo:

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

Với phép so sánh “mặt trời như hòn lửa” thật thú vị, nhà thơ đã miêu tả thời khắc hoàng hôn

khiến cảnh biển vào đêm thật kì vĩ, tráng lệ Hình ảnh nhân hóa “sóng cài then, đêm sập cửa”

khắc họa vũ trụ như một ngôi nhà lớn với màn đêm là tấm cửa khổng lồ hàng ngàn con sóng làm then đang từ từ đóng lại Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việc Từ “lại” thể hiện công việc tuần tự, liên tục mỗi ngày của người lao động Hình ảnh “câu hát” là để chỉ niềm vui của người đi biển khi lần đầu tiên được làm chủ vùng trời, vùng biển quê

hương “Câu hát căng buồm” là cách nói khoa trương và nhân hóa diễn tả tiếng hát to khỏe, vang

động của con người khỏe mạnh, yêu đời, say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc

Tiếp theo nhà thơ khắc họa cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển

“Hát rằng cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi”

Trong lời hát ra khơi, có niềm vui của người lao động Họ hát khúc hát ca ngợi sự giầu có của biển cả Biển yên bình thuận lợi để đoàn thuyền ra khơi đánh cá Họ hát bài ca gọi cá vào lưới, mong muốn công việc đánh cá thu được kết quả tốt đẹp Hình ảnh so sánh “cá thu như đoàn

thoi” và nhân hóa “đoàn cá ơi” diễn tả vẻ đẹp sôi động, đầy sức sống của biển Những đàn cá dệt

thành muôn luồng sáng khiến biển lung linh huyền diệu về đêm Tiếng gọi thiết tha “cá ơi” thể hiện mong ước đánh bắt được nhiều cá của người lao động Tiếp theo nhà thơ miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển bao la, hùng vĩ Trên mặt biển đó, có một con thuyền đang băng băng lướt đi trên sóng:

“Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng”

Trang 2

Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la giờ đây đã trở thành một con thuyền đặc biệt có gió là bánh lái, còn trăng là cánh buồm Con thuyền băng băng lướt sóng ra khơi để

“dò bụng biển” Công việc buông lưới, thả lưới để đánh cá được dàn đan như một thế trận hào hùng Người đánh cá như những chiến sĩ trên mặt trận lao động sản xuất Tư thế và khí thế của những ngư dân thật mạnh mẽ, đầy quyết tâm Công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá

đã trở thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên

Biển giàu đẹp nên thơ và có thật nhiều tài nguyên:

“Cá nhụ cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”

Phép liệt kê “cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song” nhấn mạnh sự giàu có của biển Dưới ánh trăng

lấp lánh những con cá tươi ngon càng gợi nên sự trù phú nguồn thủy hải sản vô tận của biển quê hương Hình ảnh nhân hóa “cái đuôi em quẫy” còn gợi tả cá như những nàng tiên nữ

đang nhảy múa trên mặt biển trong đêm hội hoa đăng “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” là hình ảnh nhân hóa đẹp Biển cũng mang đầy tâm trạng như muốn hòa nhịp với con người lao động

Biển không những giàu đẹp mà còn rất ân nghĩa thủy chung, bao la như lòng mẹ Biển cho

con người cá, nuôi lớn con người

“Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự thuở nào”

Không phải con người gõ thuyền để xua cá vào lưới mà là trăng đêm gõ nhịp Trong đêm trăng sáng, vầng trăng chiếu xuống mặt nước, sóng xô bóng trăng gõ vào mạn thuyền thành nhịp đánh cá Đây là hình ảnh lãng mạn đầy chất thơ làm đẹp thêm công việc lao động đánh cá trên biển Thiên nhiên đã cùng với con người hòa đồng trong lao động Câu thơ “biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào” là một lời hát ân tình sâu sắc trong bài ca lao động say sưa thơ mộng, hùng vĩ và đầy lòng biết ơn Với người lao động chài lưới biển nặng ân tình, biển là ngư trường đánh bắt vô tận mang lại cho con người cuộc sống ấm no hạnh phúc Ý thơ thể hiện tình yêu, lòng biết ơn của người lao động với biển

Một đêm lao động với nhịp điệu, khẩn trương, hào hứng hăng say:

“Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”

Những đôi bàn tay kéo lưới nhanh thoăn thoắt gợi lên vẻ đẹp rắn rỏi, khỏe mạnh với những bắp tay cuồn cuộn của người dân chài khi kéo mẻ lưới đầy cá nặng Từ phía chân trời bắt đầu bừng sáng Khi mẻ lưới được kéo lên, những con cá quẫy dưới ánh sáng của rạng đông và

Trang 3

lóe lên màu hồng gợi khung cảnh thật rạng rỡ huy hoàng, tươi đẹp Câu thơ “lưới xếp buồm lên đón nắng hồng” tạo một sự nhịp nhàng giữa sự lao động của con người với sự vận hành của vũ trụ Con người muốn chia sẻ niềm vui với ánh bình minh

Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về:

“Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”

Đoàn thuyền đánh cá đã ra đi vào lúc hoàng hôn trong tiếng hát và trở về vào lúc bình minh cũng trong tiếng hát Những câu thơ được lặp lại như một điệp khúc của một bài ca lao động Nếu như tiếng hát lúc trước thể hiện niềm vui khi lao động thì tiếng hát sau lại thể hiện sự phấn khởi vì kết quả lao động sau một đêm làm việc hăng say Họ trở về trong tư thế mới “chạy đua cùng mặt trời” Từ “chạy đua” thể hiện khí thế lao động mạnh mẽ, sức lực vẫn dồi dào của người lao động Đoàn thuyền được nhân hóa, cả mặt trời cũng tham gia vào cuộc chạy đua này

và kết quả con người đã chiến thắng Hai câu kết khép lại bài thơ nhưng lại mở ra một cảnh tượng thật kì vĩ và chói lọi Con thuyền chở về khoáng nào cũng đầy ắp cá Mắt cá phản chiếu ánh mặt trời giống như muôn vàn mặt trời nhỏ li ti Đó thật sự là một cảnh tượng đẹp, huy hoàng giữa bầu trời và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động

Bằng thể thơ bảy chữ, giọng điệu thiết tha, sôi nổi, sử dụng nhiều biện pháp tu từ đặc sắc, Huy Cận đã vẽ lên một bức tranh chân thực về cảnh lao động hăng say, sôi nổi của làng chài ven biển Trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hình ảnh những con người lao động mới luôn là niềm cảm hứng cho thi ca Bài thơ “đoàn thuyền đánh cá” là một tác phẩm hay ca ngợi cuộc sống mới, con người mới Bài thơ tràn ngập niềm vui phơi phới, niềm say sưa hào hứng và những ước mơ bay bổng của con người muốn chinh phục thiên nhiên bằng công việc lao động của mình Đây cũng là bài ca ca ngợi vẻ đẹp lộng lẫy, hùng vĩ và nên thơ của thiên nhiên đất nước qua cái nhìn và tâm trạng hứng khởi của nhà thơ

Phân tích bài thơ về tiểu đội xe không kínhcủa Phạm Tiến Duật

a Mở bài: Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế

hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ Vớigiọng thơ sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch, ông thường viết về đề tàingười lính và những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường TrườngSơn “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được viết năm 1969 khi nhà thơđang là một người lính đang trực tiếp tham gia chiến đấu, giữa lúc cuộckháng chiến chống Mĩ cứu nước ở giai đoạn gian khổ ác liệt nhất Bài thơkhắc họa chân thực hình ảnh cao đẹp về người lính lái xe trên tuyến đườngTrường Sơn những năm chống Mĩ

b Thân bài

*Khái quát: Bài thơ đã khắc họa sinh động hình ảnh những chiếc xe vận tải

Trường Sơn và người lính lái xe Người lính lái xe là những chàng trai mườitám đôi mươi, hồn nhiên, trẻ trung, vui tươi, sôi nổi Họ đến từ mọi vùng quê

Trang 4

của tổ quốc, về chung một tiểu đội xe và trở thành người lính lái xe trêntuyến đường Trường Sơn những năm chống Mĩ

Họ được gọi bằng cái tên quen thuộc “người lính lái xe Trường Sơn”, cáchgọi đó đã nói lên phần nào công việc của người lính Họ là người lính lái xevinh dự được làm nhiệm vụ điều khiển những chiếc xe vận tải Trường Sơnchở vũ khí, lương thực, quân trang, quân dụng, thuốc men chi viện chochiến trường miền Nam đánh Mĩ

Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã lý giải nguyên nhân của những chiếc xe

không kính và tư thế của người lính khi ngồi trên khoang lái:

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Nhà thơ sử dụng hai từ “không” để nhấn mạnh hình ảnh ban đầu của những

chiếc xe là có kính chắn gió Điệp ngữ “bom” kết hợp với động từ mạnh

“giật, rung” đã lí giải nguyên nhân vỡ kính của những chiếc xe Câu thơcũng khắc họa sự hủy diệt khủng khiếp của chiến tranh “Ung dung” là từ láygợi tư thế bình tĩnh, tự tin đàng hoàng của người lính lái xe khi ngồi trên ghếlái điều khiển những chiếc xe vận tải “Ta” là cách xưng hô từ hào, kiêu hãnhcủa những con người dũng cảm kiên cường Trong bom đạn bủa vây, ngườilính vẫn ung dung ngồi trên buồng lái, đó là tư thế hiên ngang của con ngườilàm chủ hoàn cảnh, tư thế của người chiến thắng luôn ngẩng cao đầu Hìnhảnh liệt kê “đất, trời” chỉ không gian cao rộng, là vùng trời mảnh đất thânthương của quê hương đất nước Điệp ngữ “nhìn” trong câu thơ “nhìn đất,nhìn trời, nhìn thẳng” như nhấn mạnh sự tập trung cao, thái độ bình tĩnh, tựtin, gan dạ, dũng cảm của người lính khi ngồi trên ghế lái Dù trong bất kìhoàn cảnh nào, ánh mắt của người chiến sĩ lái xe vẫn luôn quan sát xungquanh, hướng về phía trước Bốn câu thơ gợi hình ảnh chân thực của nhữngchiếc xe và tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, thái độ bất chấpbom rơi đạn nổ tất cả vì nhiệm vụ, vì miền nam ruột thịt

Nhà thơ còn khắc họa thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ

của người lính lái xe Trên chặng đường ngàn cây số tiến vào chi viện cho

miền Nam, người chiến sĩ lái xe phải đối diện với nhiều khó khăn thử thách

Đó là những thử thách khi ngồi sau tay lái của những chiếc xe không cònkính chắn gió

1

Trang 5

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái”

Điệp ngữ “nhìn thấy” nhấn mạnh những khó khăn chồng chất khó khăn và

bản lĩnh đối diện bình tĩnh tự tin, lạc quan của người lính Người chiến sĩ lái

xe phải thức trắng nhiều đêm để đoàn xe băng rừng vượt suối tiến về phíatrước cho kịp chuyến hàng chi viện tới miền Nam khiến đôi mắt thiếu ngủxay xè bỏng rát Cách nói “mắt đắng” là ẩn dụ diễn tả đôi mắt thiếu ngủ củangười lính Từ “xoa” là phép nhân hóa gợi tả gió như bàn tay mềm mại, êmdịu xoa lên đôi mắt cay xè vì thức trắng đêm thâu của người chiến sĩ để làmdịu đi nỗi vất vả, mệt nhọc Gió trở thành người bạn đường thân thiết chămsóc ân cần, nhẹ nhàng giúp người chiến sĩ luôn tỉnh táo để vững vàng tay lái

“Con đường chạy thẳng vào tim” là ẩn dụ chỉ con đường cách mạng, conđường cứu nước, con đường đi đến thắng lợi cuối cùng Đó là lý tưởng chiếnđấu cao đẹp hay chính là tấm lòng yêu nước, yêu đồng bào thiết tha, luôn rạorực trong tim người chiến sĩ lái xe

Người lính lái xe với tinh thần đầy lạc quan cách mạng, coi thường hiểm nguy gian khó coi thường bom đạn của kẻ thù “Gió, con đường, sao trời, cánh chim” là hình ảnh liệt kê vừa hiện thực, vừa lãng mạn, diễn tả người chiến sĩ được tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài qua ô cửa kính xe đã

vỡ Tất cả thiên nhiên, cảnh vật bên ngoài đều trở nên thân thuộc, gần gũi vớingười lính Họ luôn rộng mở tâm hồn mình giao hòa với thiên nhiên

Người lính còn bộc lộ tinh thần lạc quan cách mạng Trong gian khó, vẻ

đẹp tinh thần của người chiến sĩ càng được khẳng định, những chàng trai trẻtrung ấy có lúc đùa vui, tếu táo đến ngang tàng:

“Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.”

Những lời thơ mộc mạc như câu nói hàng ngày gợi vẻ đẹp của những chàng

trai sôi nổi Điệp từ “không có”, “ừ thì”, “chưa cần”, biểu hiện thái độ mạnh

mẽ, cương quyết của người lính lái xe Trường Sơn Kết cấu câu “không có-ừthì” là để nhấn mạnh thái độ sẵn sàng chấp nhận khó khăn thử thách củangười lính trên ghế lái “Bụi phun tóc trắng như người già” là cách so sánh

Trang 6

độc đáo nhấn mạnh vẻ bụi bặm của người lính sau hàng trăm cây số lái xe.Bụi đường bám dày trên mặt, phủ trắng mái tóc khiến họ như già đi trôngthấy Phì phèo châm điếu thuốc là hình ảnh gợi những giây phút thảnh thơihiếm có của người lính khi dừng chân trên đường Họ cùng trêu đùa vớitiếng cười “ha ha” vui tươi, hồn nhiên đầy chất lính, là giọng điệu ngangtàng và vô tư của những chàng trai trẻ giữa núi rừng Trường Sơn

“Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.”

2 Nhà thơ tiếp tục sử dụng những lời thơ mộc mạc như câu nói hàng ngày

“Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” là điệp ngữ và so sánh diễn tả nhữngcơn mưa rừng ào ạt xối xả tràn vào buồng lái để thử thách lòng kiên trì củangười lính Dù trời mưa gió, dù thời tiết khắc nghiệt đoàn xe vận tải TrườngSơn vẫn bền bỉ lăn bánh trên đường tiến vào nam Trước khó khăn học vẫngiữ một thái độ “khô mau thôi” vẫn hài lòng, sẵn sàng chấp nhận những khókhăn gian khổ Cuộc sống và chiến đấu của họ vô cùng giản dị mang hơi thởcủa đời thường nhưng rất cao đẹp, đáng trân trọng, ngợi ca Người chiến sĩ lái

xe liên tục phải đối mặt với hiểm nguy trên tuyến đường Trường Sơn, tất cảkhông hề khiến họ sờn lòng nản chí, họ xem đó là thử thách của thiên nhiên

là nơi để rèn luyện ý chí, khẳng định sức trẻ vượt Trường Sơn đi cứu nước.Giọng ngang tàng, tâm hồn trẻ trung, sôi nổi tinh nghịch đậm “chất lính” đãthể hiện thái độ coi thương gian khổ, bất chấp khó khăn, ngời sáng tinh thầnlạc quan, tư thế hiên ngang dũng cảm

Người lính lái xe còn có tình cảm đồng chí đồng đội thân thiết cao đẹp

Trong sự khốc liệt của chiến tranh, chúng ta lại thấy đẹp lung linh tình cảm đồng chí, đồng đội của những người lính Dọc theo con đường giải phóng miền Nam, càng đi càng có thêm bạn, tình cảm tuy mộc mạc mà gắn bó keo sơn

“Những chiếc xe từ trong bom rơi

Ðã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Trang 7

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”

Những chiếc xe từ trong bom rơi được tả thực là hình ảnh những chiếc xe

không kính mang trên mình đầy dấu vết và thương tích của chiến tranh Theonghĩa liên tưởng gợi ra những hiểm nguy, những khó khăn, gian khổ thiếuthốn mà dân tộc ta phải trải qua trong của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứunước Những chiếc xe cùng những người lính lái xe từ mọi miền tổ quốc về

tụ họp trong một đoàn quân, trong một tiểu đội Bạn bè suốt dọc đường: Họđược sống trong tình cảm bè bạn thiêng liêng, gần gũi như anh em một nhà

“Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” là hình ảnh hoán dụ Đó là sự hồn nhiên, trong

sáng, vui tươi đoàn kết như một sự tận hưởng cảm giác thoải mái, tiện lợikhông còn sự ngăn cách giữa những chiếc xe với thế giới bên ngoài Cái bắttay thay cho lời chào, nhanh vội nhưng cũng đủ để thể hiện niềm vui sướng,vui vì những chiến công hay vui vì cả tiểu đội xe không kính vừa hoàn thànhnhiệm vụ trở về Cái bắt tay chúc nhau vạn nẻo đường thượng lộ bình an, gửiđến nhau tình cảm bạn bè, đồng chí cùng kề vai sát cánh bên nhau trongchiến đấu Chỉ cần một cái bắt tay thôi cũng đủ ấm lòng Họ nắm tay đểtruyền cho nhau hơi ấm, sức mạnh, nghị lực, động viên nhau vượt qua giankhổ, thúc giục nhau cùng vững vàng tay lái:

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm.”

Bếp Hoàng Cầm dựng giữa trời: gợi những giờ phút giải lao ngắn ngủi trên

đường Họ cùng nhau ăn chung bữa cơm đạm bạc, nhanh, vội, khẩn trương nhưng vui vẻ và ấm áp Hai tiếng “gia đình” gửi tình cảm đoàn kết, gần gũi, gắn bó yêu thương như người thân ruột thịt trong nhà Một bữa cơm đạm bạctrên chặng đường dài của người lính lái xe

3 cũng đủ để họ cảm nhận được không khí của mái ấm gia đình ấm áp Vớingười chiến sĩ lái xe, họ là đồng chí, đồng đội là anh em có nhiều điểmchung: chung hoàn cảnh, chung bếp lửa, chung bát đũa, chung nhiệm vụ vànhất là chung con đường nơi vô vàn thách thức hiểm nguy phía trước Họxích lại gần nhau trong khó khăn thử thách, tình cảm của họ được tôi luyệnqua lửa đạn sẽ trở nên vững vàng và trở thành vĩnh cửu “Chông chênh” là từláy thể hiện tư thế đung đưa của những chiếc vòng mắc dưới gầm khi xeđang chạy đồng thời cũng khắc họa con đường gập ghềnh từng ngày bị bom

Trang 8

đạn cày xới Điệp khúc “lại đi, lại đi” như khúc nhạc hành quân vang lên trênđường ra mặt trận Con đường và lần lượt, lần lượt, từng chiếc xe không kính

tiến lên, đến với chiến trường miền Nam ruột thịt “Trời xanh” là hình ảnh

ẩn dụ thể hiện bầu trời tự do, bầu trời hòa bình, bầu trời của chiến thắng, làniềm tin tuyệt đối về một ngày mai chiến thắng Lời thơ thể hiện khát vọng

về cuộc sống hòa bình, tự do, hạnh phúc

Nhà thơ còn khắc họa lòng quyết tâm chiến đấu của người

lính lái xe “Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

Phép liệt kê “kính, đèn, mui, thùng” nhấn mạnh các bộ phận trên những

chiếc xe bị tàn phá nặng nề Sự khốc liệt của chiến tranh đã được tái hiệnmột hình ảnh chân thực đến trần trụi của những đoàn xe không kính vận tải

Trường Sơn những năm chống Mĩ Điệp ngữ “không có” như nhấn mạnh

khó khăn chồng chất để thử thách tay lái của người lính Đó là hình ảnh đốilập đầy bất ngờ của mối quan hệ giữa người và xe, giữa vật chất với tinhthần, giữa cái không và cái luôn sẵn có Người lính trở thành trái tim, là linhhồn, làm nên sức sống bất diệt cho những chiếc xe vận tải Dù không kính,không đèn, không mui, thùng có xước, dù không có những điều kiện thiết bịđảm bảo an toàn nhưng vì nhiệm vụ những chiếc xe vẫn bon bon ra chiếntrường Bom đạn quân thù có thể làm biến dạng xe nhưng không thể đè bẹpđược tinh thần chiến đấu của những người lính lái xe Đó là một lời khẳngđịnh, một lời thề sắt đá của người chiến sĩ.Đoàn xe không dừng bánh bởi

phía trước là miền Nam yêu dấu đáng chờ đón Hình ảnh “trái tim” là một hoán dụ nghệ thuật rất có ý nghĩa, lấy “trái tim” để chỉ người chiến sĩ lái xe.

Câu thơ cuối như một lời khẳng định sắt đá, một lời hứa, một lời quyết tâmđánh giặc

*Đánh giá chung

- Bài thơ sử dụng thể thơ tự do, ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên như lời nóihàng ngày, hình ảnh sáng tạo, độc đáo Bài thơ kết hợp giữa giọng điệu trẻtrung sôi nổi với phong cách ngang tàng làm nên chất lính Những phép tu từđặc sắc được kết hợp hài hòa tạo nên sự rắn rỏi cho ý thơ

c Kết bài: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” đã xây dựng thành công hình

ảnh những người chiến sĩ lái xe với trái tim rực lửa, nồng nàn yêu nước Họ

là hình ảnh tiêu biểu của tuổi trẻ Việt Nam trên tuyến đường Trường Sơnhuyền thoại những năm đánh Mĩ Bài thơ như thúc giục thế hệ trẻ hôm nay

Trang 9

hãy nối tiếp truyền thống yêu nước, nối tiếp xứng đáng truyền thống của chaanh Bài thơ như làm sống lại trong chúng ta về một thời “xẻ dọc TrườngSơn đi cứu nước”.

4

Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương

Y Phương là nhà thơ người dân tộc Tày Ông thường viết về đề tài cuộc

sống và con người miền núi Thơ của Y Phương thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh

mẽ và trong sáng, cách ví von độc đáo thể hiện tư duy hình ảnh của con người

miền núi Bài thơ “Nói với con” viết năm 1980 trong giai đoạn đất nước đang say sưa xây dựng cuộc sống mới Bài thơ là lời của người cha nói với con về cội

nguồn sinh dưỡng về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ và những truyền thống tốt đẹp củaquê hương

Mở đầu bài thơ, bằng những lời tâm tình là lời của người cha muốn nói với con về cội nguồn sinh dưỡng Người con lớn lên trong tình yêu thương, sự nâng đỡ của

cha mẹ “Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười”

Nhà thơ đã sử dụng phép liệt kê “chân phải”, “chân trái”, “một bước”, “hai bước” để diễn tả hình ảnh của em bé đang chập chững tập đi, bi bô tập nói, cha

mẹ đang vây quanh mừng vui, hân hoan theo mỗi bước chân, tiếng cười của con.Bước chân là khoảng cách ngắn để diễn tả tình cảm giữa con với cha mẹ là rất gầngũi Từng bước con đi, từng lời con nói, từng tiếng con cười đều được cha mẹchăm chút, nâng niu, đón nhận Cả ngôi nhà như rung lên trong tiếng nói, tiếngcười của cha mẹ Trong bốn câu thơ đầu, qua cách ví von độc đáo đó cha muốn nóivới con rằng: con sinh ra và lớn lên bằng tình yêu thương, trong sự nâng đón, vỗ

về, mong chờ của cha mẹ Những hình ảnh đầm ấm, những âm thanh vui tươi lànhững biểu hiện của một không khí gia đình hạnh phúc có cha, có mẹ, có con Bên cạnh tình cảm gia đình gần gũi ấm áp, cha còn muốn nói con lớn lên trongcuộc sống lao động tươi đẹp của quê hương Quê hương thơ mộng nghĩa tình vàcuộc sống lao động trên quê hương cũng giúp con trưởng thành, giúp tâm hồn con

được bồi đắp thêm theo năm tháng “Người đồng mình yêu lắm con ơi!

Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát”

Y Phương đã sử dụng cách gọi độc đáo về những con người quê hương

Trang 10

“Người đồng mình” là một cách gọi rất thân thương và gần gũi Người đồng mình

có thể hiểu là người vùng mình, người miền mình, người quê mình, người bảnmình Bằng cách thể hiện cảm xúc trực tiếp, cha muốn nói với con rằng ngườiđồng mình là những con người đáng yêu lắm Người đồng mình có cuộc sống lao

động cần cù, vui tươi, gắn bó Bằng bàn tay khéo léo, tỉ mỉ, tài hoa họ “đan lờ cài nan hoa” tạo ra những hoa văn độc đáo trên những dụng cụ lao động bằng tre nứa

để bắt cá Vách nhà không chỉ được dựng lên bởi những miếng ghép bằng gỗ mà

còn “ken câu hát” thể

hiện niềm vui trong lao động của người miền núi Những động từ “đan, len, cài”không chỉ giúp người đọc hình dung được những công việc cụ thể của con ngườimiền núi mà còn gợi ra tình đoàn kết, gắn bó, hoà quyện, quấn quýt của con người

và quê hương

Cuộc sống lao động ấy, sinh hoạt gia đình đầy niềm vui ấy được đặt trong cả một quê hương giàu đẹp, nghĩa tình

“Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”

Nhà thơ sử dụng phép nhân hóa “rừng cho hoa” để nhấn mạnh rừng không

chỉ cho con người những cảnh đẹp thơ mộng mà rừng còn cho con người những

sản vật “Con đường cho những tấm lòng” là phép nhân hóa, ẩn dụ gợi tả những

con đường thân thuộc tình nghĩa của quê hương Đó không chỉ là con đường đixuôi về ngược mà trên con đường ấy con sẽ được gặp gỡ

bao người, được sống trong tình yêu thương, đùm bọc, che chở của những tấm

lòng nhân hậu, bao

dung Nhìn con lớn khôn, cha lại nhớ về “ngày cưới”, ngày đầu tiên đẹp nhất,

ngày hạnh phúc không thể nào quên của cha mẹ để hôm nay con chính là kết quảcủa tình yêu, hạnh phúc Cha đã nói với con chính những gì đẹp đẽ của quê hương

đã hun đúc nên tâm hồn cao đẹp của con người miền núi Gia đình, quê hươngchính là mạch nguồn mạch yêu thương cho con nghĩa tình, che chở, nuôi dưỡng,bồi đắp tâm hồn cho con khôn lớn

Tiếp theo cha còn muốn nói với con về những truyền thống tốt đẹp của quê hương và những phẩm chất cao quý của người đồng mình

“Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn

Trang 11

Bằng cảm xúc trực tiếp, cha nhắc lại cho con người đồng mình không chỉ đáng yêu mà còn thân thương lắm Họ biết lấy chiều cao của núi để đo nỗi buồn, lấy chiều dài của con đường để nuôi ý chí Trước cuộc sống còn nhiều khó khăn,

họ vẫn mang phẩm chất của con người bền gan vững chí

Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc”

Hình ảnh “sống trên đá”, “sống trong thung” để nói về cuộc sống dẫu còn nhiều khó khăn vất vả nhưng họ vẫn “không chê đá gập ghềnh”, “không chê thung nghèo đói” thể hiện tình cảm gắn bó bền chặt, yêu quý, trân trọng quê

hương Phép điệp ngữ “sống” kết hợp với hình ảnh so sánh “như sông, như suối”

đã thể hiện nét đẹp trong lối sống của con người miền núi Họ

mang lối sống hồn nhiên, mạnh mẽ, cao thượng, giàu nghị lực và ý chí Dù cuộc sống ấy còn nhiều khó khăn thử thách, lên thác xuống ghềnh họ vẫn không lùi bước Những hình ảnh cụ thể của thiên nhiên như “sông, suối, thác, ghềnh” đã được người cha dùng với tính chất biểu trưng

cho gian khổ và sức mạnh vượt mọi khó khăn của những con

người miền núi “Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục”

Phẩm chất của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cáchnói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong của

người miền núi “Thô sơ da thịt” là để chỉ những con người có vẻ đẹp mộc mạc,

giản dị với bàn chân, bàn tay thô ráp Nhưng họ lại sống mạnh mẽ, hồn nhiên, caothượng chẳng hề nhỏ bé Có thể họ không biết nói khéo, không biết nói hay…nhưng ý nghĩ của họ, phẩm chất của họ thì thật là cao đẹp chứa đựng sức sống

mạnh mẽ giàu niềm tin và chí khí Họ biết “tự đục đá kê cao quê hương” Việc

đục đá là công việc nặng nhọc khó khăn đòi hỏi sức khỏe và nghị lực những ngườiđồng mình đã làm,vẫn làm Họ tự xây dựng quê hương bằng bàn tay lao động cần

cù, sáng tạo Chính họ đã làm nên quê hương với nhiều truyền thống văn hóa vàphong tục tập quán tốt đẹp Họ là những con người có lòng tự hào, tự tôn dân tộcsâu sắc Bằng những lời thủ thỉ tâm tình người cha đã nói với con về quê hương,

Trang 12

một vùng quê hương nhọc nhằn vất vả đã nuôi dưỡng chí lớn cho con Quê hươngvới sức sống giản dị mà mãnh liệt, hồn nhiên mà mạnh mẽ

Khổ thơ cuối là lời dặn dò của cha trước khi con bước vào cuộc sống:

“Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con”

“Con ơi”, “nghe con” là cách gọi chân tình, thân thương trìu mến của chatrước khi con lên đường rời xa quê, bước vào cuộc sống Cha nhắc lại cho conphải nhớ mình là người miền núi “thô sơ da thịt” Con là người mộc mạc giản dịsinh ra từ miền quê nghèo khó Nhưng khi con rời xa quê hương, bước đi trênđường đời, hòa mình vào cuộc sống xã hội thì con “không bao giờ

nhỏ bé được” Con không được sống bon chen, giả dối, ích kỷ, tầm thường mà phảisống chân thật, mạnh mẽ, hồn nhiên, cao thượng Con phải luôn sống ngẩng caođầu, giữ gìn và phát huy những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình, nhữngtruyền thống cao đẹp của quê hương Lời dặn dò của cha là lời của thế hệ đi trướcnói với thế hệ đi sau về lối sống cao đẹp Trong lời dặn dò của cha là mong ước,

hy vọng con phải sống có tình có nghĩa, thuỷ chung với quê hương đồng thờimuốn con biết yêu quý, tự hào với truyền thống của quê hương xứ sở

Bằng thể thơ tự do, hình ảnh gần gũi, giọng thơ nhẹ nhàng tha thiết, sử dụng nhiều phép tu từ, cách ví von độc đáo mang âm hưởng miền núi, Y Phương đã viếtlên những vần thơ thật đẹp Bài thơ “Nói với con” là lời của người cha muốn nói với con về cội nguồn sinh dưỡng và sức sống mạnh mẽ bền bỉ của quê hương Đồng thời qua lời nhắn nhủ cha cũng muốn con cùng các thế hệ mai sau hãy gìn giữ và phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương miền núi để luôn sống xứng đáng, vững bước trên đường đời

Đề bài

Cảm nhận của em về vẻ đẹp của nhân vật VN trong “Chuyện người con

gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

Bài làm

Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ được coi là “Áng thiên cổ kì bút”, là một

trong 11 truyện viết về người phụ nữ Một trong những hình tượng xuyên suốt củatác phẩm là người phụ nữ có phẩm hạnh tốt đẹp mà số phận nhỏ nhoi, bất hạnh

Tiêu biểu trong số đó là “Chuyện người con gái Nam Xương” Nhân vật trung tâm

Trang 13

của truyện là nàng Vũ Nương – Người phụ nữ có vẻ đẹp hoàn thiện mà phải chịubao nỗi oan khiên, để lại nhiều cảm thương cho người đọc

“Chuyện người con gái Nam Xương” là thiên thứ 16 và là thiên tiêu biểu

trong tập sáng tác này Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ

Nương, “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm cảm thương đối với số

phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thờikhẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ Tác phẩm là một áng văn hay, thành công

về nghệ thuật dựng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình

Ngay từ lời mở đầu của tác phẩm, Nguyễn Dữ đã dành những lời trân trọng

nhất để giới thiệu về Vũ Nương Đó là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết “tính đã thuỳ mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” Dù Nguyễn Dữ không miêu tả Vũ Nương bằng chi tiết cụ thể mà chỉ qua cụm từ “tư dung tốt đẹp” và hành động của Trương Sinh: “xin mẹ trăm lạng vàng để cưới nàng về làm vợ” cũng đủ để cho người đọc

hình dung về chân dung đẹp đẽ của Vũ Nương vừa đằm thắm, vừa mặn mà – nétđẹp đặc trưng của người phụ nữ thôn quê ngày xưa

Nếu người con gái là một bông hoa, thì Vũ Nương là một bông hoa vừa hữusắc vừa toả hương Nhà văn Nguyễn Dữ đã đặt Vũ Nương vào các tình huống cụthể để làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách, phẩm giá của nàng Đó là người phụ nữ thuỷchung son sắt, mang nặng tình nghĩa vợ chồng; một nàng dâu hiếu thảo; mộtngười mẹ hết mực yêu thương con Trong cuộc sống vợ chồng, Vũ Nương làngười phụ nữ khéo léo Nàng luôn lựa tính chồng, biết Trương Sinh đa nghi, hay

ghen nên nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa” Nàng luôn giữ cho tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui Nàng là một

người vợ hiền thục, khôn khéo, nết na đúng mực!

Vũ Nương là người phụ nữ yêu chồng tha thiết Khi Trương Sinh đi lính,nàng đã nói với chồng những lời đằm thắm, chân tình khiến ai cũng ứa hai hàng

lệ Nỗi mong muốn lớn nhất của nàng là “ Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Ước mong của nàng thật bình dị, lời lẽ dịu

dàng ấy, chứng tỏ nàng luôn coi trọng, khao khát hạnh phúc gia đình mà xemthường mọi công danh phù phiếm Nàng còn tưởng tượng ra những gian lao màchồng sẽ phải chịu đựng nơi biên ải trong nỗi khắc khoải, lo lắng, xót xa, nhớ

nhung đầy cảm động: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế

chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng” Qua lời nói thuỳ mị, dịu dàng thể hiện ngay từ hình thức câu

văn biền ngẫu từng nhịp đối xứng khoan hoà như nhịp đập trái tim Nàng cũng

bộc lộ nỗi khắc khoải nhớ chồng của mình: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn

áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng”.

Đúng là lời nói, cách nói của một người vợ hết mực thùy mị, dịu dàng Trái tim ấy

Trang 14

giàu lòng yêu thương, biết chịu đựng những thử thách, biết đợi chờ để yên lòngngười đi xa, thật đáng trân trọng biết bao!

Khi vắng chồng, Vũ Nương luôn là người phụ nữ thuỷ chung, giữ gìn tiết

hạnh Nguyễn Dữ miêu tả thật xúc động nỗi niềm thương chồng, nhớ chồng triền

miên theo thời gian: “thoắt đã nửa năm mà nỗi buồn góc bể, chân trời không thể nào ngăn được” Mùa đông ảm đạm, mây che kín núi, làm lòng nàng dằng dặc buồn thương Ngay cả mùa xuân tươi vui, “bướm lượn đầy vườn” cũng không làm

lòng nàng vui lên được Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xótcho chính mình đêm ngày phải đối mặt với nỗi cô đơn vò võ Tâm trạng nhớthương, đau buồn ấy của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của những ngườichinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa nay:

"… Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…"

xa nhà, nàng đã thay chồng phụng dưỡng mẹ chu đáo Khi bà cụ ốm nàng đã hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật và lấy những lời khôn khéo để khuyên lơn để bà vơi bớt nỗi nhớ thương con Đến khi mẹ mất, nàng đã hết lời thương xót, ma chay

tế lễ cẩn trọng hệt như với cha mẹ đẻ của mình Cái tình ấy có thể cảm thấu cả trờiđất cho nên trước lúc chết người mẹ ấy đã trăng trối những lời yêu thương, động

viên, trân trọng, đánh giá cao phẩm hạnh của nàng: “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ lòng con như con đã chẳng phụ mẹ con dâu" Tất cả những việc làm đó của

nàng đâu chỉ vì trách nhiệm mà xuất phát từ tình cảm thực sự nàng dành cho mẹ Điều đó khiến người đọc không khỏi cảm động Với bé Đản – đứa con ra đời khi cha nó đi chinh chiến nên nàng hết sức yêu thương, chăm chút Sau khi xa chồng đầy tuần, nàng sinh bé Đản, một mình gánh vác cả giang sơn nhà chồng nhưng chưa khi nào nàng chểnh mảng việc nuôi dạy con cái, nàng cố gắng bù đắp cho con tất cả Chi tiết hằng đêm nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản cũng xuất phát từ tấm lòng của người mẹ: để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha

Không chỉ mang vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thồng, ở Vũ Nươngcòn có những vẻ đẹp khác đáng trân trọng Khi Trương Sinh đi lính, bao gánh nặngdồn cả lên vai Vũ Nương, nàng vừa sinh con, chăm con, chờ chồng, nuôi mẹ, lại

Trang 15

một mình lo ma chay khi mẹ chồng nằm xuống Phải là người phụ nữ đảm đang, tháovát và nghị lực lắm, Vũ Nương mới có thể xoay sở, sắp đặt mọi chuyện chu toànđến thế Điều đáng quý ở Vũ Nương là lối sống thuỷ chung, ân nghĩa Ngay cả khitrở thành tiên nữ dưới thuỷ cung, nàng vẫn nặng tình với cuộc đời và thương nhớquê nhà Vừa gặp Phan Lang, nghe Lang kể về tình cảnh gia đình, nhà cửa cây cốithành rừng, phần mộ tổ tiên cỏ gai rợp mắt, nàng đã ứa nước mắt xót thương rồi

quả quyết “tôi tất phải tìm về có ngày” Cũng vì trọng ân nghĩa, cả cái đức cưu mang của Linh Phi mà nàng “thề sống chết cũng không bỏ”, nguyện trọn đời, trọn

kiếp ở bên Linh Phi

Vũ Nương còn có phẩm chất đáng quý nữa là trọng danh dự, sống có tựtrọng Vì coi trọng thanh danh mà nàng dùng cái chết để chứng minh sự trongsạch của mình và cũng vì trọng danh dự, muốn mình không phải mang vết nhơnên trước khi trẫm mình xuống dòng sông, nàng đã tắm gội chay sạch và muốnnước sông rửa sạch nỗi oan khuất cho mình Bên cạnh đó, Vũ Nương còn có tráitim nhân hậu, bao dung Với Trương Sinh, người chồng đa nghi, tàn nhẫn đãruồng rẫy, đã khiến nàng rơi vào bước đường cùng Vũ Nương trước sau không

một lời oán giận Bị chồng đánh đuổi nàng chỉ một mực kêu oan: “Thiếp vốn con

kẻ khó được nương tựa nhà giàu cách biệt ba năm giữ gìn một tiết ” Những

lời nói nhún nhường tha thiết đó cho thấy thái độ

trân trọng chồng, trân trọng gia đình nhà chồng, niềm tha thiết gìn giữ gia đìnhnhất mực của Vũ Nương Sau này, khi Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến sông,nàng đã hiện lên trên mặt nước lần cuối để gặp chàng, nói lời đa tạ đã giải oan chomình Sự trở về dù trong giây lát cũng đủ cho thấy Vũ Nương có lòng độ lượng, vịtha biết mấy

Trong tác phẩm, Vũ Nương hiện lên với nhiều phẩm chất tốt đẹp: một người

vợ thuỷ chung, một người mẹ đảm đang, một con dâu hiếu thảo, con người trọngtình trọng nghĩa, Vẻ đẹp của Vũ Nương là vẻ đẹp tiêu biểu cho người phụ nữViệt Nam truyền thống Có thể thấy, lần đầu tiên trong lịch sử văn học, lấy ngườiphụ nữ bình dân làm trung tâm của tác phẩm văn học Nguyễn Dữ đã dùng nhữngngôn từ đẹp nhất để ngợi ca phẩm hạnh đáng quý nhất của họ Đây là tư tưởngtiến bộ vượt bậc, đi trước thời đại của Nguyễn Dữ Làm cho tác phẩm của ôngmang giá trị nhân đạo, nhân văn cao cả.Vẻ đẹp của Vũ Nương đã làm đẹp thêmcho kho tàng văn học viết về người phụ nữ Nguyễn Dữ không sử dụng bút phápước lệ, vẻ đẹp của Vũ Nương chân thực, giản dị, hết sức đời thường Nói như

Giáo sư Nguyễn Đăng Na: “Vũ Nương không phải là một trang liệt nữ nhưng mang vẻ đẹp của người phụ nữ” Vũ Nương là người phụ nữ có vẻ đẹp hoàn thiện

cả về tư dung và phẩm chất

Vũ Nương được xây dựng như một tấm gương mẫu mực, có thể coi là

“khuôn vàng thước ngọc” về phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội phong kiến

nhưng hạnh phúc gia đình đã không mỉm cười với nàng, đã đẩy nàng vào vòng

Trang 16

oan nghiệt khiến nàng rơi vào vòng bi kịch Lấy chồng chưa được bao lâu thì

chồng nàng có “tên trong sổ lính đi vào loại đầu” Vũ Nương chỉ được sống

những phút giây hạnh phúc ngắn ngủi Chiến tranh đã chia lìa đôi vợ chồng trẻ.Suốt ba năm, nàng chịu cảnh vò võ chờ chồng Nàng thiếu phụ tuổi xuân còn phơi

phới đã phải gánh chịu nỗi buồn “chiếc bóng năm canh” của đời người chinh phụ “Mặt biếng tô miệng càng biếng nói

Sớm lại chiều dòi dõi nương song

Nương song luống ngẩn ngơ lòng

Vắng chàng điểm phấn tô hồng với ai

(Chinh phụ ngâm khúc)

Ba năm đằng đẵng, một mình vất vả, cáng đáng công việc gia đình Ca dao xưa có câu:

“Có con phải khổ vì con

Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng”

Vũ Nương đã phải thay chồng đảm đương những công việc lớn, thay chồng chămsóc mẹ lúc đau ốm, lại lo ma chay khi cụ bà qua đời Nàng một mình xoay sở vừasinh con, vừa chăm con mà không được chồng đỡ đần Nàng đúng là người phụ

nữ lí tưởng của gia đình, xứng đáng được hưởng hạnh phúc đoàn viên nhưng khichồng trở về cũng là lúc Vũ Nương chịu bao oan khuất, bất hạnh

Vũ Nương còn là nạn nhân của sự hiểu lầm, nàng bị chồng nghi ngờ là thấttiết Đây là nỗi oan khiên tày trời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Thói

thường “đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”, câu chuyện của bé Đản, đứa con trai vừa lên

ba tuổi, về “ một người đàn ông đêm nào cũng đến” đã làm cho Trương Sinh hồ

đồ Với bản tính hay ghen cộng thêm tính gia trưởng, thất học, Trương Sinh đã đối

xử với vợ hết sức tàn nhẫn Giấu biệt lời con nói, Trương Sinh đã “ mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi” mặc cho Vũ Nương hết sức phân trần, mặc cho “hàng xóm can ngăn cũng chẳng ăn thua gì” Ngay cả cái quyền tự bảo vệ mình nàng cũng

không có Lời nói của nàng thâu tóm những đau đớn, tuyệt vọng của đời người

phụ nữ không biết ngỏ cùng ai: “nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen

rũ trong ao, liễu tàn trước gió”, “khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái

én lìa đàn, nước thẳm buồn xa…” Hàng loạt các từ ngữ mang ý nghĩa chỉ sự chia lìa, tan vỡ được sử dụng: tạnh, tan, rơi, gẫy, rủ, tàn đã cho thấy hạnh phúc gia đình, thú vui “nghi gia nghi thất” mà cả đời nàng khao khát đã tan vỡ, ngay cả nỗi

đau khổ chờ chồng đến hoá đá như trước kia cũng không thể trở lại được nữa Tất

cả đã tuột khỏi vòng tay nàng, khiến nàng rơi vào tuyệt vọng

Bị chà đạp về thể xác, nhục mạ về tinh thần, không còn con đường nào khác,

Vũ Nương phải tìm đến cái chết để chứng minh cho tấm lòng trong sạch của chính

Trang 17

mình! Còn gì đớn đau, còn gì bi thương hơn thế??? Đây là hành động tiêu cựcnhưng xuất phát từ ý thức trọng danh dự ở Vũ Nương Đối với nàng, phẩm giá,danh dự còn cao hơn cả mạng sống Lời than của nàng trước khi gieo mình xuốngsông tự vẫn như lời nguyền cất lên từ nỗi lòng của kẻ bạc mệnh xấu số, thể hiệnsâu sắc thân phận bi kịch không lối thoát của người phụ nữ trong xã hội phong

kiến: “kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con ruồng rẫy, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám” Lời than của

Vũ Nương thật thấm thía làm sao Nó diễn tả nỗi khát vọng đã thành tuyệt vọngcủa nàng và nước mắt đồng cảm của Nguyễn Dữ trước nỗi đau khổ, bất hạnh củacon người Mấy trăm năm đã trôi qua nhưng lời than của nàng còn vọng đếnchúng ta bởi niềm thương xót

Thật ra, nỗi bất hạnh của Vũ Nương không phải bắt đầu ở tấn bi kịch này.Nỗi bất hạnh đến với Vũ Nương từ khi nàng chấp nhận cuộc hôn nhân với TrươngSinh Từ đầu, ta đã nhận ra đây là một cuộc hôn nhân không bình đẳng Vũ

Nương vốn “con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”, còn Trương Sinh muốn lấy được Vũ Nương chỉ cần “nói với mẹ đem trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ”.

Sự cách biệt ấy cộng

thêm cái thế của người chồng, người đàn ông trong chế độ nam quyền phong kiến

đã khiến cho Trương Sinh tự cho mình cái quyền đánh đuổi vợ không cần có chứng cứ rõ

ràng Trong những ngày làm dâu nhà họ Trương, Vũ Nương cũng đâu hạnh phúc

hơn gì! Nàng phải luôn chịu đựng sự xét nét, sự “phòng ngừa quá sức” của chồng.

Hình như số phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa đều

có chung nỗi bất hạnh như thế!

Kết thúc tác phẩm có thể tạm coi là kết thúc có hậu khi Vũ Nương được cứu

sống, lưu lại tại thuỷ cung Điều đó thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân: “Ở hiền gặp lành” Tuy nhiên, kết thúc này vẫn không làm giảm đi tính bi kịch của tác phẩm Vũ Nương trở về uy nghi, rực rỡ nhưng sau lời tạ từ ngậm ngùi: “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng trở về nhân gian được nữa, bóng nàng long loáng rồi biến mất” Như vậy, Vũ Nương không chết nhưng cũng không bao giờ được sống

tại quê nhà, còn được hưởng hạnh phúc gia đình mà nàng luôn khao khát Sự dứt

áo ra đi của Vũ Nương gián tiếp thể hiện thái độ phủ định cõi trần thế, với xã hộiphong kiến bất công đương thời, nơi mà người phụ nữ không thể có hạnh phúc.Kết thúc câu chuyện bi đát này là một khoảng vắng mênh mông, mờ mịt… Đằngsau yếu tố hoang đường, câu chuyện về nàng Vũ Nương mang đậm tính hiện thực

và thấm đẫm tinh thần nhân đạo

Tác phẩm đã xây dựng thành công nhân vật Vũ Nương – một điển hình sâusắc cho số phận bi thương của người phụ nữ trong xa hội cũ Về mặt nghệ thuật,Nguyễn Dữ đã xây dựng nhân vật Vũ Nương bằng bút pháp lí tưởng hoá với vẻđẹp hoàn thiện Bên cạnh đó, nhà văn cũng dùng lối hiện thực hoá để xây dựngnhân vật bởi Vũ Nương cũng là nhân chứng đau thương cho kiếp đời người phụ

Trang 18

nữ trong xã hội cũ Tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc khi nhàvăn vừa ngợi ca nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam truyền thống, vừacất lên tiếng kêu bi thương cho số kiếp nhỏ nhoi của họ, vừa lên án, tố cáo xã hộiphong kiến tàn bạo đã đẩy người phụ nữ vào đường cùng không lối thoát

Nhân vật Vũ Nương là một trong những hình tượng người phụ nữ Việt Nam đẹp nhất trong văn học trung đại Cuộc đời, số phận bi thảm của nàng để lại trong lòng người đọc nhiều xót xa, thương cảm Đúng như lời Nguyễn Du đã tổng kết:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Trong xa hội hiện đại, người phụ nữ đã dần khẳng định được vị trí của mình nhưngvẫn rất cần tiếng nói đấu tranh cho bình đẳng giới để cuộc đời người phụ nữ thực

sự là những khúc ca vui

Trang 20

s

Trang 22

Đề bài : Phân tích đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (Trích Truyện Kiều- Nguyễn Du)

Bài làm

Có lẽ trong lịch sử văn học Việt Nam, chưa có tác phẩm nào thu hút sự chú ý

của đông đảo người đọc như Truyện Kiều của Nguyễn Du, chưa có nhân vật nghệ

thuật nào có được nhiều người yêu mến như Thúy Kiều Mà điều lạ lùng là ở

những lớp người khác nhau, trong những cảnh ngộ khác nhau, người đọc đều bắt gặp ở Thúy Kiều một điều gì đó của chính thân phận mình, của chính tâm sự mình.Hình như ở nhân vật Thúy Kiều có tất cả nỗi đau của cuộc đời Đọc đoạn trích

Kiều ở lầu Ngưng Bích ta sẽ thấy được cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng

hiếu thảo thủy chung của nàng Kiều hay cũng chính là một phần tâm trạng của nhiều người trong chúng ta!

Sáu câu thơ đầu là cảnh thiên nhiên hoang vắng, bao la đến rợn ngợp Ngồitrên lầu cao, nhìn phía trước là núi non trùng điệp, ngẩng lên phía trên là vầngtrăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải dài vôtận, lác đác như bụi hồng nhỏ bé như càng tô đậm thêm cuộc sống cô đơn, lẻ loicủa nàng Kiều lúc này:

Trang 23

Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

Thực ra trong bốn câu thơ đầu tiên chỉ là cảnh nhiên Đúng hơn là thiên nhiên

ấy hiện ra dưới con mắt con người, con người ấy là nhân vật trữ tình ẩn chìm đi trong từng dòng từng chữ Nhân vật ấy bị nhốt trong lầu, còn tâm hồn không bị khóa trái kia đang hướng tầm nhìn về phía xa, phía trước lầu, đặng giải tỏa cho tâmlinh tù túng, quẩn quanh và bế tắc

Cảm giác đầu tiên của nhân vật trữ tình kia là sững sờ bắt gặp một bức tranh treo,một bức tranh trời đẹp đến lạ lùng như một giấc chiêm bao Có thực bức tranh đó

hay đây chỉ là mộng mơ? Cái đường viền của bức tranh trời kia là “vẻ non xa” mịt

mờ sương khói, cứ như vô ảnh vô hình; còn đường nét trung tâm ở độ tiếp cận gần là cả một vầng trăng lồng lộng Cái vầng trăng ấy giờ đây đã trở nên thânthuộc, thân thiết, thân yêu – “tấm trăng gần tri kỉ” Biết bao là trìu mến thiết tha

trong cái cách dùng từ “tấm trăng gần” ấy Giữa cái nơi “bên trời góc bể bơ vơ”

trăng đã tự tìm đến với người lẻ loi làm bầu bạn Cái vầng trăng âu yếm kia độtngột hiện ra với âm điệu trẻ trung, tươi tắn (nhịp 3/3/2) Và thế là Kiều có mộtđiểm tựa tâm linh, một cái cọc cứu người tưởng như đã chết đuối trong nỗi buồn

vô vọng Thiên nhiên như thế là đã làm thức tỉnh một con người, làm sống lại mộtcon người Nhưng khi con người ấy có lại được những cảm giác thì đau đớn thaylại nhận ra sự đối nghịch: đất trời thì tươi đẹp hội hè, còn cuộc đời ô nhục của bản

thân mình thì đâu còn xứng đáng “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” Vì vậy “bẽ bàng” là cảm nhận đầu tiên và thấm thía xót xa cho thân phận “Mây sớm” thì chưa ai kịp trông, còn “đèn khuya” thì lại một mình một bóng Chưa lúc nào như

lúc này, Thúy Kiều ớn lạnh cho sự cô độc, lẻ loi! Sự không giao hòa, không ngangbằng, không xứng đôi giữa người và cảnh ấy mới chắt gạn được những xót xa

thầm kín, mới thực sự vò xé “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”…Bốn chữ

Trang 24

“như chia tấm lòng” diễn tả một nỗi niềm, một nỗi lòng tan nát, đau thương Vì

thế, tuy sống giữa một khung cảnh đẹp êm đềm, có non xa và trăng gần nhưng

Kiểu vẫn thấy cô đơn, bẽ bàng bởi lẽ “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Tám câu thơ tiếp theo, Thúy Kiều chẳng thể nghĩ về mình nữa, nàng xót xa chonhững người đã vì mình mà khổ Cảm giác ấy cứ nhân lên, cứ nghẹn ứ, dâng trào:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai

Người mà nàng nghĩ đến đầu tiên là Kim Trọng, người mà trước lúc chia tay đã

ngập ngừng căn dặn “Gìn vàng giữ ngọc cho hay, cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời” Ấy thế mà “Lời hoa chưa ráo chén vàng” nàng đã trở thành kẻ phản bội - dù

với bất kì hoàn cảnh như thế nào Với tâm trạng đầy ân hận mà không cách gì bùđắp, người con gái giờ như cánh hoa rơi ấy mới có thể hình dung ra cái cảnh đứtruột này Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trông

mai chờ Kiều tưởng tượng ra cảnh chàng Kim đang ngày đêm chờ mong tin mình

một cách đau khổ và tuyệt vọng Mới ngày nào nàng cùng với chàng Kim nặng lờiước hẹn trăm năm mà bỗng dưng, nay trở thành kẻ phụ bạc, lỗi hẹn với chàng.Chén rượu thề nguyền vẫn còn chưa ráo, vầng trăng vằng vặc giữa trời chứng giámlời thề nguyền vẫn còn kia, vậy mà bây giờ mỗi người mỗi ngả Rồi bất chợt Kiều

liên tưởng đên thân phận Bên trời góc bể bơ vơ của mình và tự dằn vặt: Tấm son gột rửa bao giờ cho phai Kiều nuối tiếc mối tình đầu trong trắng của mình, nàng

thấm thía tình cảnh cô đơn của mình, và cũng hơn ai hết, nàng hiểu rằng sẽ khôngbao giờ có thể gột rửa được tấm lòng son sắt, thủy chung của mình với chàng Kim

Những từ ngữ, hình ảnh chỉ không gian và thời gian cách biệt “tin sương”, “rày trông mai chờ”, “bên trời góc bể”; những từ ngữ chỉ tâm trạng “tưởng”, “trông”,

“chờ” đã diễn tả sâu sắc nỗi nhớ thương đau đáu khôn nguôi về một mối tình mới

vừa chớm nở đã vội lìa xa…

Tâm trạng đau đớn thương nhớ người yêu hẳn chưa nguôi, Kiều lại chồngchất thêm nỗi nhớ thương cha mẹ Nỗi đau của nàng như thấm vào cảnh vật, thời

Trang 25

gian và lòng người:

Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Sân Lai cách mẩy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Lòng thương nhớ cha mẹ của Kiều là lòng thương của đứa con có hiếu Đây

là tiếng nói của bổn phận, nó có sự xót tủi hiển nhiên khi hình ảnh cha mẹ đượcgợi ra như ngọn đèn dầu mong manh trước gió Hình ảnh ấy như chạm khắc vào

thời gian (Xót người tựa cửa hôm mai) với sự héo hon trông đợi Nhưng nỗi nhớ

của nàng bâng khuâng man mác nhiều hơn bởi công lao cha mẹ cao thì như núi,dài thì như sông, và chính vì thế mà nó thường không cụ thể (sân Lai, gốc tử…)

Cả đến sự nâng giấc , đỡ đần mẹ cha cũng mang tính ước lệ tượng trưng: quạtnồng ấp lạnh…

Nhớ chàng Kim, thương cha mẹ rồi Kiều mới nghĩ tới phận mình xót xa “Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường” Tám câu cuối là cảnh xế

chiều, cảnh vật dễ làm cho con người buồn thương da diết: Buồn trông cửa bể

chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Không phải vô tình, một hệ thống những hình ảnh: thuyền vắng, hoa trôi,chân mây, mặt đất đều vào khuôn vào cái quy luật chìm nổi lênh đênh, vô định, cái

có và cái không Cái có là trước mắt, tạm thời còn cái không mới là bất biến Cái

quy luật ấy xuyên suốt bốn cặp từ “buồn trông” rất tâm trạng của nhân vật trữ

Trang 26

tình “Buồn trông” đã trở thành điệp khúc của đoạn thơ và cũng là điệp khúc của tâm trạng Mỗi biểu hiện của cảnh chiều tà bên bờ biển từ cánh buồm thấp thoáng, cánh hoa trôi man mác đến nội cỏ rầu rầu, tiếng sóng ầm ầm đều thể hiện tâm

trạng và cảnh ngộ của Kiều: sự cô đơn, thân phận lênh đênh vô định, nỗi buồn thahương, lòng nhớ thương người yêu cha mẹ và cả sự bàng hoàng lo sợ Đó là bốntầng hiện hữu chồng chất lên nhau như một cuốn phim màu bốn lần thay cảnh:cảnh một xuất hiên trong mối tương quan cửa bể- cánh buồm; cảnh hai là ngọnnước hoa trôi; đến cảnh ba thì tất cả đã nhạt nhòa thưa vắng:

Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Đây là cảnh khá ấn tượng, dễ gợi liên tưởng đến cảnh xuân hôm nào trong

tiết thanh minh Tuy nhiên, không phải là “cỏ non xanh tận chân trời” đầy sức

sống mà là “nội cỏ rầu rầu” với sắc xanh héo úa, nhạt nhòa trải dài từ mặt đất đếnchân mây Cảnh thứ tư và cũng là lớp cuối cùng của tâm trạng là bức tranh thiênnhiên dữ dội và đầy biến động Ngọn gió cuốn mặt duềnh và tiếng sóng kêu quanhghế ngồi là cảnh tượng hãi hùng như báo trước dông bão của số phận sẽ nổi lên, xôđẩy, vùi dập cuộc đời Kiều

Những câu thơ có họa, có nhạc ấy vừa vẽ ra một bức tranh trời biển lúc chiều hôm vừa tấu lên một giai điệu sâu lắng của lòng người- một kiếp người bị giam hãm, cầm tù, một kiếp người bị săn đuổi…

Đọc xong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, gấp lại trang sách ta vẫn thấyvấn vương, thấy rưng rưng thương cảm cho chặng đường phía trước đầy chông gai

và trắc trở của Thúy Kiều Đoạn thơ như chứa đầy lệ Lệ của người con gái lưu lạc,đau khổ vì cô đơn lẻ loi, buồn thương chua xót vì mối tình đầu tan vỡ, xót xa vìthương nhớ mẹ cha, lo sợ cho thân phận, số phận mình Lệ của nhà thơ, một tráitim nhân đạo bao la đồng cảm, xót thương cho người thiếu nữ tài sắc, hiếu thảo màbạc mệnh Và lệ của cả chúng ta, những người đã luôn yêu mến cô Kiều và tàinăng của bậc thiên tài Nguyễn Du./

Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm “

Trang 27

Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long)

Bài làm Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên viết về truyện ngắn và ký Truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa Pa “ là một tác phẩm nổi tiếng của ông Qua truyện ngắn, Nguyễn Thành Long đã ca ngợi vẻ đẹp của những con người lao động bình thường mà cao đẹp Qua đây, Nguyễn Thành Long đã xây dựng thành công hình tượn g nhân vật anh thanh niên, một người lao động thầm lặng vì tổ quốc

Truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa Pa “ được sáng tác năm 1970 Tác phẩm làkết quả của chuyến đi thâm nhập thực tế ở Lào Cai viết về đề tài cuộc sống, con người trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Ấn tượng đầu tiên mà người đọc cảm nhận được khi đến với truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa Pa “ là hoàn cảnh sống và làm việc của anh thanh niên khá đặc biệt Anh sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m, quanh năm suốt tháng, bốn bề chỉ có cây cỏ và mây

mù lạnh lẽo Anh làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu Công việc của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo trấn động mặt đất góp phần dự báo thời tiết hằng ngày phục vụ sản xuất và chiến đấu Đó là công việc vô cùng khó khăn, gian khổ đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác đặc biệt là tinh thần trách nhiệm cao nhưng cái khó khăn nhất mà anh phải vượt qua chính là sự cô đơn, vắng vẻ quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi không một bóng người Vậy điều

gì đã giúp anh vượt qua hoàn cảnh ấy làm tốt công việc của mình Phải chăng đó là những phẩm chất cao đẹp của con người lao động trong những năm xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Trước hết, người thanh niên này rất yêu nghề, say mê lý tưởng, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Anh hiểu rằng công việc mình làm tuy nhỏ bé nhưng liên quan đến công việc chung của đất nước của mọi người Làm việc một mình trên đỉnh núi cao, không có

ai giám sát, thúc giục, anh vẫn luôn xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ Suốt mấy năm ròng rã, anh đã ghi và báo “ ốp “ đúng giờ Phải ghi

và báo về nhà trong mưa tuyết lạnh cóng , gió lớn và đêm tối lúc 1 giờ

sang nhưng anh vẫn không ngần ngại và đã sống thật hạnh phúc khi

Trang 28

được biết do kịp thời phát hiện đám mây khô mà anh đã góp phầnchiến thắng của không quân ta trên bầu trời Hàm Rồng Anh yêucông việc của mình, anh kể về nó một cách

say sưa và tự hào Với anh công việc là đam mê cháy bỏng, là lẽ sốngcủa đời anh: “ Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn chết mất “ Qua lời tâm sự này, anh đã thực sự tìm thấy niềm vui và niềm hạnh phúc trong công việc thầm lặng giữa Sa Pa

và sương mù bao phủ

Anh thanh niên là người sống cởi mở, hiếu khách, biết quan tâm đến người khác Nhà văn đã làm nổi bật đức tính này bằng cách tạo ra một tình huống đó là cuộc trò truyện giữa anh với bác lái xe, ông họa

sĩ và cô kĩ sư trẻ Vì “ thèm người “ nên anh đã phải lấy cây chặn đường dừng xe khách, việc làm ấy thể hiện niềm khao khát được gặp

gỡ, được trò truyện, anh quan tâm đến tất cả mọi người một cách thật lòng Anh gửi biếu vợ bác lái xe củ tam thất khi nghe tin bác ốm Anh đón tiếp ông họa sĩ và cô kĩ sư thật chân tình, niềm nở với bó hoa tươitặng cô kĩ sư với ấm chè pha nước mưa Yên Sơn và cả làn trứng lúc chia tay để hai người làm thức ăn khi đi đường Đằng sau những mónquà bình thường ấy là một tấm lòng hiếu khách, tốt bụng mà không phải ai cũng có được Lòng mến khách của anh đã khiến ông họa sĩ xúc động: “ Người con trai ấy đáng yêu thật “ Sự cởi mở chân thành

ấy khiến cho hình ảnh anh thanh niên trở nên ấn tượng khó phai với tất cả mọi người

Không những vậy, anh thanh niên còn là người lạc quan, yêu đời biết sắp xếp cuộc sống một cách khoa học Sống một mình trên đỉnh núi cao nhưng anh vẫn chủ động sắp xếp cho mình một cuộc sống ngăn nắp, đầy đủ Anh trồng hoa, nuôi gà, đọc sách Ngoài công việc anh còn tìm thấy một niềm vui nữa đó là đọc sách Với anh đọc sách không phải chỉ để nâng cao kiến thức mà còn để trò chuyện Hình ảnh người con trai nhỏ bé đứng giữa vườn hoa nhiều màu sắc đã thể hiện một đời sống tinh thần tuyệt đẹp Có thể nói, trong cái lặng im của Sa Pa, nơi ít người biết đến và đặt chân tới, anh thanh niên đã tạocho mình một không gian riêng khiến cuộc sống không hề tẻ nhạt nhàm chán

Trang 29

Một trong những ấn tượng của người đọc về anh thanh niên đó là

sự khiêm tốn, giản dị Mặc dù vẫn luôn tự hào về công việc của mình nhưng anh không hề tự cao, tự đại, anh cảm thấy mình là người bình thường trong muôn vàn những người khác Anh hiểu được ý nghĩa công việc của mình là vô cùng nhỏ bé

so với muôn người khác Bởi thế, khi ông họa sĩ phác họa bức chân dung anh, anh đã từ chối: “ Không, không, đừng vẽ cháu ! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng vẽ hơn “ Có thể nói, qua việc trò chuyện, nhân vật anh thanh niên được khắc họa khi êm nhường, đẹp trong suy nghĩ, trong cách sống và tâm hồn

Tóm lại, chỉ bằng một số chi tiết và cử chỉ nhân vật xuất hiện trong khoảnh khắc của truyện, Nguyễn Thành Long đã khắc họa được chân dung nhân vật chính một cách chân thực, sinh đọng và đẹp đẽ Anh thanh niên là tiêu biểu cho thế hệ trí thức trẻ trong những năm chống

Mĩ Đây là nhân vật được xây dựng như một tấm gương điển hình về người tốt, việc tốt, sống có lí tưởng, có tình cảm và quan niệm sâu sắc về công việc

Tác phẩm không chỉ sâu sắc về nội dung mà còn có những nghệ thuật đặc sắc Trước hết truyện đã xây dựng được một tình huống truyện hợp lí Cách kể chuyện tự nguyện, nhẹ nhàng Truyện có sự kết hợp hài hòa giữa tự sự, miêu tả, biểu cảm và bình luận Tác phẩm đã chọn được điểm nhìn trần thuật, thuận lợi, dễ dàng quan sát,miêu tả các nhân vật khác Cách sử dụng ngôn ngữ nhẹ nhàng, giàu chất thơ và chất hội họa

Tóm lại, nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa Pa “của Nguyễn Thành Long là một chàng trai hội tụ rất nhiều nhữngphẩm chất đáng quý Những trang viết của Nguyễn Thành Longkhiến ta thêm yêu con người và cuộc sống, thấy được trách nhiệm củamình với sự nghiệp chung của đất nước Tâm hồn và những việc làmcủa anh thanh niên trong truyện đã gieo vào lòng em nhiều tình cảm,thôi thúc em muốn cống hiến, muốn làm gì đó có ích cho xã hội nhưnhư một nhà thơ đã nói: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình” Anhchính là biểu tượng của những người lao động thầm lặng để cốnghiến cho đất nước

“ Họ đã sống và chết

Trang 30

Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.”

1 Nghị luận bài Mùa xuân nho nhỏ chi tiết

Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào Thanh Hải cũng thể hiện được lẽ sống của mình Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông.

Có thể nói bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc về cõi vĩnh hằng Chính vì vậy nó bâng khuâng, tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người, yêu cuộc sống, yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời.

Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu, thiết tha và thanh thản, không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông, nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt, muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ:

“Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc.

Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những

cô gái Huế Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng, bất ngờ, không gian như tươi tắn hơn, trẻ trung hơn, thánh thoát hơn:

“Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời,

Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn Một từ “Ơi” đặt

ở đầu câu, một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào, thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ.

Trước khung cảnh màu xuân ấy, Thanh Hải không giấu nổi cả xúc của mình

Từng giọt long lanh rơi, Tôi đưa tay tôi hứng”.

Từ “giọt long lanh” không chỉ hiểu là giọt mưa xuân trong anh sáng của sắc xuân mà còn được hiểu là giọt âm thanh, giọt sắc màu, giọt thời gian khiến tác giả say sưa ngây ngất Một từ

“hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời, của sông, của chim muông hoa lá; đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời.

Chỉ bằng vài nét điẻm xuyến phác hoạ tác giả đã vẽ ra một không gian cao rộng, sắc màu tươi thắm, âm thanh vang vọng tươi vui của mùa xuân, của thiên nhiên đất trời.

Trang 31

Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời, tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống, nhân dân và đất nước Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”, biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm:

“Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng.

Mùa xuân người ra đồng, Lộc trãi dài nương mạ.

Tất cả như hối hả, Tất cả như xôn xao…”

Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng, hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu.

Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu

ba chấm Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên, sẽ phát triển, sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ.

Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả, những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm, trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước

và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy, được hình dung qua hình ảnh

so sánh rất đẹp:

“Đất nước bốn ngàn năm Vất và vào gian lao Đất nước như vì sao

Cứ đi lên phía trước”

Cùng với động từ Cứ đặt ở đầu câu, tác giả đã khẳng định một sự khẩn trương, hói h, náo nức vào xuân của đất nước với vẻ đẹp lung linh, lấp lánh đang vững bước về phía trước khiến không một thế lực thù địch nào có thể ngăn cản nổi.

Đó chính là lòng tự hào, lạc quan, tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước, dân tộc Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người.

Từ cảm xúc của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng; với Thanh Hải cũng thế, đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng, một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước, quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết:

“Ta làm con chim hót,

Ta làm một cành hoa.

Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến”

Trang 32

Lời thơ như ngân lên thành lời ca Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người Khát vọng của ông là được làm con chim hót dâng tiếng ca lảnh lót , một cành hoa toả hương khoe sắc để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước, góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất, dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước Điều tâm niệm

đó thật chân thành, giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”.

Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người, ở mọi lứa tuổi, chứ đâu phải của riêng ai Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống

và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước, cho cuộc đời, bởi vậy, xuất phát từ tiếng lòng thiết tha, nhỏ nhẹ, chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ.

“Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc”.

Một mùa xuân nho nhỏ hay phải chăng cũng là một ẩn dụ cho chính cuộc đời của tác giả: sống là cống hiến, cống hiến chính là mùa xuân của cuộc đời?Mà mùa xuân ấy thì là mãi mái: “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc, khi sức cùng lực kiệt vẫn lặng

lẽ dâng hiến cho đời và, dù Thanh Hải cũng có đi xa thì những lời ca tiếng hát mà ông để lại cho đời mãi mãi vẫn có giá trị, mãi mãi vẫn tô điểm cho đất nước đẹp xinh Điệp ngữ dù là được tác giả nhác lại hai lần như một lời hứa, một lời khẳng định của nhà thơ: sống là phải cống hiếntuyệt đối.Như nhà thơ Tố Hữu đã từng viết :

“Nếu là con chim, chiếc lá, Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

Lẽ nào vay mà không trả Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”

Tác giả Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai, Nam Bình mênh mang tha thiết, là lời ngợi ca đất nước, biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương, đất nước, một câu chân tình thắm thiết:

“Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai, Nam Bình Nước non ngàn dặm tình Nước non ngàn dặm mình Nhịp phách tiền đất Huế”

Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự, luôn chứa chan tình cảm, ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những điều đúc kết cả cuộc đời của Thanh Hải Ông đã giải bày, tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng, và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ, cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau, hiểu nhau và giải bày cho nhau.

Trang 33

Với thể thơ năm chữ, mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết, giàu hình ảnh, nhạc điệu, cất trúc thơ chặt chẽ, ‘’Mùa xuân nho nhỏ’’ mang một nét đặc sắc riêng Nét đặc sắc đó là ở chỗ nó

đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”, vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành, thiết tha, bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm

sự, gửi gắm của mình với cuộc đời Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường; là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung Bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn, những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta.

2 Nghị luận về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay

Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ” được Thanh Hải sáng tác năm 1980 khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh Bài thơ là tiếng lòng thiết tha, yêu mến và gắn bó với đất nước ,với cuộc đời và thể hiện chân thành một ước nguyện hiến dâng

Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân của thiên nhiên được phác hoạ bằng vài nét chấm phá :

Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc, Ơi! con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời.

Chỉ bằng vài nét đơn sơ mà đặc sắc ,với những hình ảnh nho nhỏ, thân quen, bình dị, nhà thơ đã

vẽ lên bức tranh xuân thơ mộng, đậm phong vị xứ Huế

Bức tranh có không gian thoáng đãng ,sắc màu tươi tắn, hài hoà và âm thanh rộn rã tươi vui của tiếng chim chiền chiện

Cách lựa chọn hình ảnh “dòng sông xanh” , “bông hoa tím” , cách sử dụng các từ ngữ “ơi” ,“chi”

đi liền sau động từ “hót” khiến người đọc liên tưởng đến quê hương xứ Huế và cả tâm trạng say đắm hân hoan của tác giả.

Dường như thấp thoáng đâu đó trong câu thơ là màu xanh của dòng Hương Giang mềm mại và những tà áo dài tím biếc của những cô gái Huế mộng mơ, cùng với âm thanh rộn rã, tươi vui của tiếng chim chiền chiện, khiến mùa xuân của cố đô trầm mặc, chợt trở nên rực rỡ, rộn ràng.

Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân còn được miêu tả ở chi tiết rất tạo hình:

Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng.

Giọt âm thanh của tiếng chim thật trong ,thật tròn,vang ngân giữa không gian,đọng lại thành từng giọt hữu hình long lanh như hạt ngọc, nhà thơ đưa tay hứng với tất cả sự trân trọng, đắm say.

Sự chuyển đổi cảm giác khiến hình ảnh thơ trở nên lung linh, đa nghĩa góp phần diễn tả trọn vẹn hơn niềm say sưa, ngây ngất của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất vào xuân.

Từ mùa xuân của thiên nhiên, trời đất nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân của đất nước Tác giả hướng tình cảm của mình tới những con người đang làm đẹp mùa xuân:

Mùa xuân người cầm súng Lộc dắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ.

Trang 34

Những câu thơ tạo ra hình ảnh sóng đôi đẹp như hai vế của câu đối mừng xuân nói về những người chiến sỹ bảo vệ và những người lao động dựng xây đất nước Có lẽ bởi vậy mà không khí khẩn trương ,rộn ràng, náo nức lan toả khắp tứ thơ:

Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao.

Điệp từ “tất cả” ,từ láy “hối hả”, “xôn xao ” tạo nên nhịp điệu mùa xuân hối hả, hào hùng, mở ra những cảm nhận chan chứa tự hào về đất nước:

Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao

Cứ đi lên phía trước.

Hình ảnh so sánh đẹp : “đất nước như vì sao” toả sáng, luôn vận động và phát triển không ngừng,

có ý nghĩa định hướng ,giục giã mọi người hăng say cống hiến xây dựng quê hương

Trước mùa xuân của đất nước, nhà thơ tâm niệm về mùa xuân riêng của mỗi cuộc đời và dạt dào một khát vọng hiến dâng:

Ta làm con chim hót

Ta làm một canh hoa

Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến.

Nếu ở đầu bài thơ tác giả miêu tả những hình ảnh làm đẹp thêm, tô điểm thêm cho mùa xuân là

âm thanh náo nức vang trời của tiếng chim chiền chiện và sắc màu tím biếc dịu dàng của cánh lục bình nhỏ trên sông thì ở đây tứ thơ được lặp lại, tạo ra sự đối ứng chặt chẽ.

Tác giả mong muốn được làm bông hoa toả ngát hương, con chim mang tiếng hót và nốt trầm xao xuyến để hiến dâng nhưng không làm mất đi nét riêng của mỗi người.

Đó thực sự là lời tâm niệm chân thành, tha thiết, khiêm nhường và khát khao được cống hiến phần tinh tuý nhất của mình làm đẹp thêm mùa xuân của quê hương, xứ sở mà không bị giới hạn bởi thời gian, tuổi tác:

Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc.

“Mùa xuân nho nhỏ” là một sáng tạo bất ngờ ,độc đáo mà tự nhiên, hợp lý của nhà thơ, bởi mùa xuân vốn là một khái niệm chỉ thời gian thế mà ở đây “ mùa xuân” lại có khối, có hình, một hình hài nho nhỏ thật xinh xắn.

Mùa xuân đã trở thành một ẩn dụ nói về khát vọng, một lẽ sống cao đẹp, một ý thức khiêm nhường góp sức mình làm đẹp thêm mùa xuân của thiên nhiên,đất nước.

Điệp từ “dù là” đặt ở đầu hai câu thơ liên tiếp có ý nghĩa khẳng định cho khát vọng dâng hiến miệt mài, không mệt mỏi của tác giả

Thể thơ năm chữ có nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca nhiều hình ảnh đẹp, giản

dị, gợi cảm, những so sánh và ẩn dụ sáng tạo đã góp phần tạo nên thành công không nhỏ cho bài thơ

Trang 35

Bài thơ kết thúc khi đã làm lay động trái tim mỗi người bởi chất hoạ gợi cảm, chất nhạc vấn vương và ước nguyện thiết tha chân thành của tác giả.

Dường như ước nguyện nhỏ bé khiêm nhường ấy không còn là của riêng Thanh Hải mà đã trở thành tiếng lòng chung của nhiều người Bởi vậy mà đọc xong bài thơ em muốn tự hỏi mình một điều giản dị :

“Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn ? Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình !”

Sinh ra và lớn lên nơi làng quê Việt Nam, giữa những người nông dân chấtphác, nhà văn Kim Lân đã sớm gắn bó và am hiểu sâu sắc về cuộc sống ở nôngthôn, sáng tác nhiều tác phẩm về đề tài này Trong thời kì đầu của cuộc khángchiến chống Pháp, khi người dân miền Bắc được lệnh tản cư, ông lại một lần nữa

khắc họa hình ảnh người nông dân trong truyện ngắn “Làng”, không phải trong

những vấn đề thường nhật, mà về tình yêu làng quê và đất nước của những conngười chân lấm tay bùn ấy Tác phẩm được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Vănnghệ năm 1948, đánh dấu bước chuyển biến tích cực trong hình tượng người nôngdân và nhận thức của họ, đặc biệt qua nhân vật ông Hai

Nét tính cách đầu tiên và dễ nhận thấy nhất ở ông Hai là tình yêu tha thiếtđối với làng ông Đối với người nông dân, làng không chỉ là một đơn vị hànhchính, địa lí Ở đó chứa đựng cuộc sống của họ, tất cả những gì gần gũi và thânthuộc với họ Làng chính là quê hương, là cuộc đời họ Ông Hai cũng vậy, ông cótính hay khoe làng với tất cả niềm hãnh diện “Ông nói về cái làng ấy một cách say mê và náo nức lạ thường Hai mắt ông sáng hẳn lên, khuôn mặt biến chuyển hoạt động.” Tình yêu làng đã biến ông Hai thành một con người hoàn toàn khác

so với một ông Hai bị gò bó, tù túng trong căn bếp tản cư Một nguồn sinh lựcmới như dồi dào trong ông lúc đó Tối này đến tối khác, ông nói đi nói lại về cáilàng của ông Kim Lân điểm nhịp câu chuyện bằng những lời trách móc ông hàngxóm nhãng ý không nghe chuyện, nhưng kỳ thực là để cho ta thấy rằng ông Haikhông thực sự cần bác Thứ nghe, ông nói cho chính mình, nói để cho sướng

Trang 36

miệng vă cũng để thỏa nỗi nhớ lăng “ Ông lại nghĩ về câi lăng của ông, lại nghĩ đến những ngăy cùng lăm việc với anh em […] Ông lại muốn về lăng, lại muốn được cùng anh em đăo đường, đắp ụ, xẻ hăo, khuđn đâ.” Những ký ức về lăng

xưa, xóm cũ trở thănh niềm an ủi, động viín ông Hai mỗi khi chân nản Chỉ cầnđược ở lại lăng, cùng chiến đấu với anh em thì như có một luồng sinh lực mớichảy dồi dăo trong ông, vă dù có gian khổ, khó nhọc, nguy hiểm đến bao nhiíuông cũng chịu được Hình ảnh đó hoăn toăn trâi ngược với ông Hai lúc năo cũngbuồn chân, bức bối, không biết lăm gì trong căn bếp tản cư Thế nhưng đó cũngchỉ lă hồi ức, một hồi ức tươi vui vă đầy tự hăo đến nỗi mỗi khi nhớ lại, trong ônglại trăo dđng một nỗi nhớ khôn nguôi : “Ông Hai nhớ câi lăng, nhớ câi lăng quâ.” Với ông, ngôi lăng của ông vốn đê lă một điều gì đó vô cùng thiíng liíng vă

đẹp đẽ Nay ở trong căn bếp tản cư chật hẹp, câi lăng ấy lại căng đẹp hơn, trởthănh một niềm mong ước, khao khât mênh liệt Điều đó hoăn toăn không phảiphóng đại Tđm sự của ông Hai lă tđm sự của một người gắn bó với lăng tha thiết,yíu lăng bằng một niềm tự hăo chđn chính

Tình yíu lăng của ông Hai được thể hiện nổi bật vă đậm nĩt nhất khi ôngnghe tin lăng ông theo Tđy Như xĩt đânh ngang tai, ông từ chối tin văo điều đó

“Cổ ông lêo nghẹn ắng lại, da mặt tí rđn rđn Ông lêo lặng đi, tưởng chừng như không thở được Một lúc sau ông mới rặn ỉ ỉ, nuốt một câi gì vướng ở cổ.” Nếu

như tin dữ ấy lă câi lăng đẹp đẽ của ông bị đốt trụi, nhă cửa, ruộng vườn của ông

bị cướp mất thì có lẽ ông cũng không đau khổ bằng tin lăng mình theo Tđy Tội

nghiệp ông lêo vui tính, xởi lởi giờ đđy phải “ cúi gằm mặt đi thẳng”, “nước mắt ông cứ giăn ra” Giâ ông không quâ yíu lăng, không quâ tự hăo về lăng thì ông

đê không thấy tủi nhục đến thế Mấy chữ “ cả lăng chúng nó Việt gian theo Tđy ”

như găm văo trâi tim ông, văo niềm tự hăo về câi lăng mă ông yíu vô cùng Tất cảnhững gì ông trđn trọng giữ gìn trong tim giờ đđy như đều sụp đổ tan tănh Ôngkhông chấp nhận được sự thật ấy vă đấu tranh nội tđm dữ dội Lúc đầu lă nghi

ngại “ Nhưng sao lại nảy ra câi tin như vậy được ?”, nhưng sau đó lă đau đớn khi

được biết những bằng chứng rõ răng“ mă thằng chânh Bệu thì đích lă người lăng không sai rồi” Phải thừa nhận câi tin đó, không thể năo tả được nỗi đau của ông

lúc ấy “ Chao ôi ! Cực nhục chưa, cả lăng Việt gian !” Có lẽ trong đời mình, ông

Hai chưa từng chịu đựng hay thậm chí tưởng tượng được một nỗi đau, nỗi nhụcnhư thế Những tiếng ấy như thốt lín từ trâi tim bị tổn thương, từ niềm tự hăo bịchă đạp của ông, khiến người đọc cũng như cảm nhận được nỗi xót xa, tủi nhụccủa ông lúc ấy Mă ông Hai đđu chỉ đau cho mình, đau cho lăng, mă ông còn đaucho những người đồng hương, đồng cảnh ngộ “Lại còn bao nhiíu người lăng, tan tâc mỗi người một phương nữa, không biết họ đê rõ câi cơ sự năy chưa ?” Có thể

những con người ấy trước kia có hiềm khích với ông, nhưng trước nỗi đau, nỗinhục quâ lớn năy, tình yíu lăng trỗi lín thật mạnh mẽ vă đânh thức tình đồnghương trong ông Kim Lđn đê rất tăi tình khi sử dụng hăng loạt cđu cảm, cđu hỏiliín tiếp trong nghệ thuật độc thoại nội tđm để lột tả sự đau khổ, xót xa, uất ức mẵng Hai phải chịu đựng Lúc năy đđy, lăng không chỉ lă nơi chôn rau cắt rốn nữa,

mă lă một câi gì đó lớn lao hơn, lă lòng tự trọng, lă danh dự

Trang 37

Không chỉ thế, tình yêu làng còn trở thành một nỗi ám ảnh day dứt trongông, buộc ông phải lựa chọn giữa làng và nước Nếu lúc trước ông tự hào, ôngthao thao bất tuyệt về làng mình bao nhiêu thì bây giờ ông xấu hổ, trốn tránh bấtnhiêu Cái tin đồn quái ác kia trở thành một nỗi ám ảnh, một nỗi sợ vô hình luôn

đè nặng lên tâm trí ông “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng

cười nói xa xa, ông cũng chột dạ Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy” Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít Thôi lại chuyện ấy rồi !” Lẽ thường tình, khi người ta suy nghĩ quá nhiều về một điều gì

đó, lúc nào ta cũng có cảm tưởng những người khác cũng như vậy Thế thì nỗi ámảnh và lo sợ của ông Hai phải lớn đến chừng nào để ông bị dằn vặt tới vậy ! Lòngyêu làng của ông phải lớn biết chừng nào ! Kim Lân đã diễn tả rất cụ thể và sâusắc tâm trạng nặng nề ấy, vì bản thân tác giả cũng từng gặp hoàn cảnh tương tự.Ông Hai đã trải qua những giờ phút không thể

đau đớn và tủi hổ hơn khi bị mụ chủ nhà nói móc nói máy để đuổi khéo Ngườiđọc như cảm nhận được từng lời từng chữ của mụ như xoáy sâu vào tình yêu làngvốn đã quá tổn thương của ông Dù đã dứt khoát đi theo kháng chiến, ông vẫnkhông thể dứt bỏ tình cảm sâu đậm với làng quê, và vì thế mà ông càng đau xót,tủi hổ hơn

Bên cạnh tình yêu làng, nhân vật ông Hai còn ghi dấu trong mắt người đọcbằng lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến Ông luôn theo sát tin tức kháng

chiến và tự hào về những chiến công mà nhân dân ta đã lập nên “Ruột gan ông

lão cứ múa cả lên, vui quá !” Nhưng đến khi phải lựa chọn giữa làng và nước, tình

yêu ấy mới bộc lộ rõ rệt Dù bị tin đồn làng mình theo Tây dồn vào “tuyệt đường

sinh sống”, ông vẫn nhất quyết không trở về làng Đến đây, ta mới hiểu rõ về con

người hay chuyện tưởng chừng rất đơn giản, bộc trực kia Tình yêu làng giờ đây

đã trở thành tình yêu có ý thức, hòa nhập và lòng yêu nước “Về làm gì cái làng

ấy nữa Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ.” Nhớ lại những tháng ngày đen tối

bị đàn áp xưa kia, ông đã có quyết định rõ ràng, đúng đắn Là người nông dân

chân lấm tay bùn nhưng ông Hai có nhân thức cách mạng rõ ràng : “Làng thì yêu

thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.” Nhận thức rất mới này là một nét

đặc biệt trong tính cách của ông Hai, đánh dấu sự thay đổi của người nông dân sauCách mạng Tháng Tám Ông luôn luôn muốn được giãi bày nỗi lòng ấy của mình.Tuy nói chuyện với đứa con, nhưng thực chất ông đang mượn lời đứa trẻ để bày tỏtâm sự Những gì đứa trẻ nói chính là những gì đang dâng trào trong lòng ông mà

không nói ra được “Ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ.” Ông Hai nói với đứa con

như thể nói với anh em đồng chí, để minh oan cho tấm lòng thành thật của mình,

để nỗi khổ tâm trong lòng như vơi đi được đôi phần Lòng yêu nước của ông thậtgiản dị nhưng vô cùng chân thành, sâu sắc và cảm động Chính điều ấy đã giúpông chịu đựng được tin đồn quái ác về làng mình, vì ông có niềm tin vào cáchmạng, vào kháng chiến Từ đây, ông Hai nói riêng hay người nông dân nói chung,

đã nhìn rộng hơn, xa hơn lũy tre làng Không chỉ yêu làng, trong ông còn có mộttình yêu lớn gấp nhiều lần – lòng yêu nước

Trang 38

Đến khi tin làng chợ Dầu theo giặc được cải chính, tình yêu làng, yêu nước

của ông Hai mới được vẽ lên hoàn chỉnh Ông Hai như sống lại “Cái mặt buồn

thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên.” Một lần nữa, tình yêu làng, yêu

nước của ông được thể hiện một cách chân thực, cảm động Nguồn sinh lực ngàynào lại trở về trong ông Ông Hai lại là ông Hai xưa Ông lại nói về làng mình, về

“Tây nó đốt nhà tôi rồi, đốt nhẵn !” Niềm vui sướng của ông được thể hiện thật

hồn nhiên, chân thật và rất mãnh liệt Có lẽ không ai trên đời lại đi khoe, đi mừngviệc nhà mình bị đốt như thế Nhưng với ông Hai, điều đó đâu có là gì so với niềmvui khi thanh danh của làng được rửa Vì sự mất mát ấy cũng là sự hồi sinh củamột làng Chợ Dầu mà ông hằng yêu và xứng đáng với tình yêu ấy : làng Chợ Dầukháng chiến Tình yêu làng là cơ sở, là biểu hiện hùng hồn nhất của tình yêu nước

trong ông Hai Quả đúng như nhà văn I-li-a Ê-ren-bua đã từng nói : “Lòng yêu

nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê làm nên lòng yêu tổ quốc.” Nếu so với lão Hạc

của Nam Cao hay chị Dậu của Ngô Tất Tố trước Cách mạng tháng Tám – nhữngngười nông dân cả cuộc đời đầu tắt mặt tối trong ruộng vườn thì nhân vật ông Hai

đã có nhận thức rõ ràng về cách mạng, về kháng chiến Ông đã nhận ra rằng : Đấtnước còn thì làng còn, đất nước mất thì làng cũng mất Đây không chỉ là sự thayđổi trong suy nghĩ người nông dân, mà còn là suy

nghĩ của mỗi người dân Việt Nam thời điểm đó Họ sẵn sàng hy sinh những cáiriêng, những cái nhỏ vì sự nghiệp chung, vì cuộc kháng chiến trường kỳ của dântộc Họ không hề quên đi cội nguồn của mình mà gìn giữ nơi ấy ở trong tim, biếnthành động lực chiến đấu để giải phóng đất nước, giải phóng quê hương

Truyện ngắn “Làng” đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai, đặc biệt

qua tình huống làng Chợ Dầu bị đồn là theo Tây Nguyễn Minh Châu từng nói :

“Tình huống là một loại sự kiện đặc biệt của đời sống, được sáng tạo ra theo

hướng lạ hóa Tại đó, vẻ đẹp nhân vật hiên ra sắc nét, ý nghĩa tư tưởng phát lộ toàn diện.” Kim Lân đã sáng tạo được một tình huống truyện có tính căng thẳng

để thử thách nhân vật Nó đã cho ta thấy chiều sâu của nhân vật ông Hai, nhữngnét tính cách, những chuyển biến trong nhận thức và tình cảm của ông, và hơn hết

là tình yêu làng, yêu nước tha thiết Nhà văn cũng vô cùng thành công trong nghệthuật miêu tả tâm lí nhân vật, khi thì miêu tả cử chỉ hành động, khi thì độc thoạinội tâm, độc thoại, đối thoại để lột tả tính cách nhân vật Ngôn ngữ kể chuyện rấtlinh hoạt, tự nhiên, lúc dềnh dàng, lúc đột ngột tùy theo diễn biến Bên cạnh đó,tác giả vốn am hiểu cuộc sống nông thôn nên ngôn ngữ của ông Hai là khẩu ngữ,rất bình dị và gần gũi, đậm chất nông dân Với nhân vật ông Hai, Kim Lân quả

thực rất xứng đáng là một cây bút “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”

Nguyễn Đình Thi từng viết rằng : “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng

bằng những vật liệu mượn ở thực tại Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã

có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh.”

Truyện ngắn “Làng” đã được viết nên từ những điều nhà văn từng trải nghiệm,

Trang 39

khắc họa một cách chân thực nhất những tháng ngày đi tản cư của nhân dân miềnBắc trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như những chuyển biếntrong nhận thức và tình cảm của họ Thông qua nghệ thuật xây dựng tình huốngtruyện và miêu tả tâm lí, ngôn ngữ nhân vật, Kim Lân đã mang đến cho bạn đọcnhân vật ông Hai với tình yêu làng quê và lòng yêu nước sâu đậm, thiết tha

Bài làm chiếc lược ngà

Mỗi một tác phẩm văn học ra đời đều mang một số phận riêng Có tác phẩm vừacất tiếng khóc chào đời đã chết yểu đáng thương; có tác phẩm gây dư luận xôn xaomột thời gian rồi bị độc giả lãng quên với thời gian Nhưng cũng có những bài thơ,quyển truyện có một sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc, có một sức hút kỳ lạ.Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩmnhư thế, một tác phẩm viết về tình cha con và nỗi đau trong chiến tranh đã đề lại ấntượng sâu sắc trong lòng người đọc Đọc xong tác phẩm này, có người đã nhận

xét: “Truyện ngắn hiện đại mà âm vang như một truyện cổ tích với biết bao chi tiết, tình huống bất ngờ, kỳ diệu đã thể hiện tình cha con đằm thắm, bất diệt” Lời nhận xét trên là một lời nhận xét hay và thật đúng với truyện ngắn “Chiếc lược ngà” Truyện có âm vang như truyện cổ tích, truyện đã xây dựng với nhiều

chi tiết đặc sắn như: chi tiết vết thẹo, chi tiết chiếc lược ngà tất cả đã được xâydựng rất khéo léo, hợp lí góp phần làm nên thành công cho câu chuyện, thấy đượctình cảm cha con thật đằm thắm, bất diệt Đặc biệt tác giả thể hiện rõ tình cảm đóbằng việc xây dựng thành công hai tình huống bất ngờ: Hai cha con gặp nhau sautám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha vì do cái vếtthẹo trên má cha, đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì cũng là lúcông Sáu phải ra đi Đây là tình huống cơ bản của truyện Ở khu căn cứ, ông Sáudồn hết tình yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm cây lược ngà để tặngcon như đã hứa trước lúc lên đường nhưng ông Sáu đã hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho con gái yêu quý của mình Nếu tình huống thứ nhất bộc lô tìnhcảm mãnh liệt của bé Thu đối với cha thì tình huống thứ hai lại bộc lộ tình cảm sâusắc của người cha dành cho con

Gặp lại con sau nhiều năm xa cách với bao nỗi nhớ thương nên ông Sáukhông kìm được nỗi vui mừng trong phút đầu nhìn thấy cô con gái bé bỏng củamình, nhưng thật trớ trêu, đáp lại sự vồ vập của cha là thái độ ngờ vực, lảng tránhcủa bé Thu Ông Sáu càng muốn gần con thì bé Thu càng tỏ ra lạnh nhạt, xa cách

Trang 40

Tâm lí và thái độ ấy của bé Thu đã được biểu hiện qua hàng loạt chi tiết mà người

kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động Nó hốt hoảng, mặt tái đi rồi vụt chạy

và kêu thét lên khi mới gặp anh Sáu Trong những ngày ông Sáu ở nhà bé Thu chỉgọi trống không mà ko chịu gọi cha Nhất định không chịu nhờ ông giúp chắt nướcnồi cơm to đang sôi, hất trứng cá mà ông gấp cho, cuối cùng khi bị ông Sáu tứcgiận đánh một cái thì bỏ về nhà ngoại, khi xuống xuồng con cố ý khua dây cộtxuồng kêu rộn ràng thật to

Ta thấy bé Thu có hành động và thái độ như thế là ương ngạnh nhưng sự ươngngạnh này của bé Thu là hoàn toàn không đáng trách, là có nguyên do của nó.Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, nó còn quá bé nhỏ để có thểhiểu được những tình thế khắc nghiệt, éo le của đời sống và người lớn cũng không

ai kịp chuẩn bị cho nó đón nhận những khả năng bất thường nên nó không tin ôngSáu là cha nó chỉ vì trên khuôn mặt ông có thêm vết thẹo, khác với hình ba mà nó

đã được biết qua tấm ảnh chụp chung với má Phản ứng tâm lí của em là hoàn toàn

tự nhiên, nó càng chứng tỏ bé Thu, tình cảm của em sâu sắc, chân thật, em chỉ yêu

ba khi tin chắc đó đúng là ba Trong cái cứng đầu của em có ẩn chứa cả

sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu dành cho người cha khác- người trong tấm hình chụp chung với má của em

Buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường, thái độ của bé Thu đột ngộtthay đổi Trong đêm bỏ về nhà ngoại, Thu đã được bà giải thích về vết thẹo Béhiểu ra, ân hận và hối tiếc vô cùng, chính chi tiết này đã tạo nên thắt nút, mở nútbất ngờ, hợp lí

Phút chia tay “vẻ mặt nó sầm lại vì buồn rầu, cái vẻ buồn trên khuôn mặt ngây thơ của con bé trông thật dễ thương” Khi ông Sáu nhìn con để chào từ biệt,

“đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”, tình cha con bị dồn nén bấy lâu chợt bùng lên mạnh mẽ, hối hả, cuống quýt Nó thét lên gọi ba…ba… “tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa” Hành động của Thu cũng thay đổi “Nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”; “nó hôn ba cùng khắp Nó hôn tóc, hôn cổ hôn vai, và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”;

“Hai tay nó siết lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi cấu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run” Trong giờ phút

chia tay với cha, tình yêu và nỗi nhớ với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu nay bày ra thật mạnh mẽ, xen lẫn cả sự hối hận Phút chia li ấy thật đẹp, đẹp như

Ngày đăng: 13/05/2022, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w