Bằng Việt là một trong những nhà thơ trưởng thành trong thời kháng chiến chống Pháp Với giọng văn tự sự, trữ tình, ông đã có những tập thơ để lại dấu ấn trong lòng người đọc “Bếp lửa” là một thi phẩm.
Trang 1Bằng Việt là một trong những nhà thơ trưởng thành trong thời kháng chiến chống Pháp Với giọng văn tự sự, trữ tình, ông đã có những tập thơ để lại dấu
ấn trong lòng người đọc “Bếp lửa” là một thi phẩm thơ nổi tiếng của ông, là một sáng tác xuất sắc nhất của ông khi khắc hoạ lại những kí ức về người bà ở quê nhà Đọc bài thơ ta ấn tượng với…
Bếp lửa được sáng tác năm 1963, khi Bằng Việt rời xa quê hương đi du học
ở nước Nga Đây là bài thơ được in trong tập “Hương cây-Bếp lửa” của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ Bài thơ có nhan đề bếp lửa là hình ảnh rất đỗi quen thuộc trong đời sống người dân Việt Nam Mạch cảm xúc bài thơ đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm Điều đó được gợi ra qua hình ảnh bếp lửa quê huơng và hình ảnh người bà từ đó mà người cháu Bằng Việt bộc lỗ nỗi nhớ về những kỉ niệm thời ấu thơ và được sống trong sự yêu thương chăm sóc của bà đồng thời thể hiện niềm biết ơn, sự kính trọng của người cháu đối với bà, đối với gia đình và quê hương đất nước
Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”
Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần trở thành điệp khúc mở đầu cùng giọng thơ sâu lắng khẳng định hình ảnh bếp lửa như một dấu ấn sâu đậm, khó mờ phai trong kí ức tâm tưởng của người cháu Hình ảnh “một bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình vào mỗi sớm mai Đó là hình ảnh bếp lửa có thật được cảm nhận bằng thị giác được ẩn hiện trong sương sớm Từ láy “chờn vờn” gợi nhớ, gợi thương đến dáng hình bập bùng lúc to lúc nhỏ, lúc ẩn lúc hiện trong mỗi sớm mai Hình ảnh bếp lửa còn gợi lên sự ấm áp thân thương Từ láy “ấp iu” vừa gợi nên đôi bàn tay khép léo và tấm lòng chi chút của người nhóm bếp, vừa gợi chính xác cách nhóm bếp một cách cụ thể Hồi tưởng về bếp lửa cũng chính là hồi tưởng người nhóm lửa-người bà “cháu thương bà”.Tình yêu thương của cháu đối với bà được biểu
lộ một cách trực tiếp Đó là lời thốt lên thật xúc động diễn tả tình cảm sâu sắc của cháu dành cho bà, một tình cảm trào dâng mãnh liệt Hình ảnh ẩn dụ “biết mấy nắng mưa” gợi những cơ cực, vất vả, những khó nhọc gian lao mà đời bà
đã trải qua Như vậy, với ba dòng thơ mở đầu tác phẩm, tác giả đã thể hiện nỗi
Trang 2nhớ da diết của mình về bếp lửa quê hương và người bà thân yêu Có thể coi đây là khúc dạo đầu viết về nỗi nhớ Từ đó định hướng cảm xúc cho toàn bài
Những khổ thơ tiếp theo là dòng chảy kí ức về những năm tháng tuổi thơ sống bên bà Trước hết, đó là những kỉ niệm khi cháu lên bốn tuổi:
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy, Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Năm câu thơ gợi lại cả tuổi thơ nhọc nhằn gian khổ, tuổi thơ ấy có bóng đêm ghê rợn của nạn đói khủng khiếp năm 1945 như Chế Lan Viên đã từng viết “Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ” Bởi vậy đã gây ấn tượng mạnh mẽ với cháu đó
là cái nghèo, cái đói Cái đói dai dẳng và mòn mỏi khắp chốn thôn quê Việc tách từ “mòn mỏi” tạo thành một tổ hợp từ “đói mòn đói mỏi” có tác dụng nhấn mạnh sự khủng khiếp của cơn đói cùng những nỗi cơ cực, nhọc nhằn, tàn tạ của mỗi người dân trong nạn đói Hình ảnh đầy ấn tượng “khô rạc ngựa gầy” vừa phản ánh chân thực, vừa gợi xúc cảm sâu sắc, đậm nét của người trong cuộc Nếu ấn tượng không quên là cái đói cái nghèo thì ấn tượng sâu đậm hơn cả
lại là “mùi khói”:
“Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Khói hun nhèm mắt là khói từ củi, khói từ bếp lửa Nhà thơ đã chọn được một chi tiết xác thực để vừa miêu tả chân thực cuộc sống tuổi thơ, vừa diễn tả những xúc động bâng khuâng da diết “Còn cay” là còn nguyên nỗi xúc động là
vì khói hay vì bà? Cảm xúc hiện tại và kỉ niệm năm xưa đồng hiện, hoà lẫn vào nhau Hai dòng thơ rất thực mà tràn ngập cảm xúc Cái “bếp lửa” kỷ niệm của nhà thơ mới chỉ khơi lên thoang thoảng mùi khói mà đã đầy ắp những hình ảnh hiện thực thấm đẫm tình nghĩa
Dòng ký ức về bà còn là những năm tháng tám năm ròng ở cùng bà:
“Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa ……
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”
Trang 3Giặc đói chưa qua thì giặc ngoại xâm tràn tới Gia đình cháu “mẹ cùng cha công tác bận không về”, cháu lại gắn bó cùng bà “Tám năm ròng” là con số không lớn nhưng ngày tháng sao kéo dài nặng nề, ròng rã đến thế Nếu trong hồi ức năm bốn tuổi là mùi khói thì ở đây ấn tượng sâu đậm trong cháu chính
là tiếng chim tu hú Mười một câu thơ mà âm vang năm lần của tiếng kêu loài chim ấy, đó là lúc vang vọng mơ hồ Từ “từ những cánh đồng xa”, lúc gần gũi thiết tha “sao mà tha thiết thế” lúc dóng dả dồn dập “kêu hoài”, lúc như than thở sẻ chia… Tiếng chim tu hú gợi ra cả không gian trống vắng, khơi sâu thêm cảm giác quạnh vắng, cô đơn Trên cái nền hoang tàn vì khói lửa của chiến tranh, giữa cái âm thanh khắc khoải bồn chồn của tiếng chim tu hú, hai bà cháu nương tựa vào nhau để duy trì cuộc sống Thương con tu hú bơ vơ mới càng thêm thấm thía cái ơn bà chăm sóc, đùm bọc
Trong những cung bậc khác nhau của tiếng chim tu hú, tình cảm của người cháu mỗi lúc một thiết tha và tình cảm người bà đang hiện rõ:
“Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”
Bên bếp lửa hồng, bà đã thay thế vai trò người mẹ, người cha Bà kể chuyện,
bà bảo, bà dạy, bà chăm Từng việc từng việc nhỏ nhẹ và âm thầm Bà là chỗ dựa vững chắc về vật chất, tinh thần Bà là cội nguồn yêu thương Bà không chỉ chăm lo cho cháu mà còn là người thầy đầu tiên dạy cho cháu bao điều Các câu thơ ngắn, cặp từ “bà cháu” xuất hiện trong từng phép liệt kê đã gợi lên hình ảnh bà và cháu gắn bó quấn quít không rời, gợi lên một thế giới mà bà là tất cả Sống trong tình yêu thương chở che ấy, cháu mới thấm thía những gian lao vất vả khi bà phải một mình chăm sóc cháu nên những dòng thơ cứ bật ra thật tự nhiên và cảm động “thương bà khó nhọc” và một lần nữa âm thanh tiếng chim tu hú lại vọng về:
“Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà, Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”
Câu cảm thán “Tu hú ơi!” kết hợp câu hỏi tu từ vang lên như một lời trách cứ nhẹ nhàng Ở nước Nga xa xôi, tiếng chim tu hú vọng lại trong kí ức của nhà thơ khiến nỗi nhớ trào dâng trong lòng
Từ hình ảnh cụ thể, dòng kỉ niệm trải ra mệnh mông với kí ức những năm giặc đốt làng:
Trang 4“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi ………
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Đọc đoạn thơ ta thấy một bức tranh cuộc sống chân thực Đó là cảnh xóm làng bị giặc đốt “cháy tàn cháy rụi”, xơ xác, tiêu điều Nhưng trong hoàn cảnh thử thách khốc liệt của chiến tranh, chúng ta càng thấm thía hơn vẻ đẹp tinh thần của con người Việt Nam một thời lửa đạn Đó là tình đoàn kết xóm làng:
“Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi/ Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh” , đó là ý chí nghị lực, niềm tin bền vững của những người bà, người mẹ ở hậu phương luôn hướng ra tiền tuyến Lời bà dặn cháu “Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!” không chỉ cho ta thấy hình ảnh một người bà đảm đang, tần tảo mà còn làm sáng lên phẩm chất phụ nữ Việt Nam: kiêng cường, anh dũng, hy sinh Phần buồn lo bà gánh hết, để dành cho con cháu niềm an vui Và như thế vẻ đẹp lung linh sáng ngời của tình bà cháu gắn bó, hoà quyện trong tình yêu quê hương, đất nước
Từ hình ảnh cụ thể, tả thực Hình ảnh bếp lửa đã chuyển thành hình ảnh ảnh ngọn lửa mang một tầng lớp mới:
“Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”
Nếu bếp lửa ở những câu thơ trên là vật hữu hình, cụ thể trong mỗi gia đình, gần gũi, quen thuộc, là hình ảnh ảnh âm thầm, lặng lẽ của hai bà cháu thì đến đây rất tự nhiên, người cháu liên tưởng tới "một ngọn lửa" vô hình, nó mang ý nghĩa khái quát và rộng lớn hơn Đó là ngọn lửa thiêng liêng trong lòng bà, ngọn lửa của tình thương, ngọn lửa của sức sống lặng thầm mà mãnh liệt của niềm tin vào tương lai quê hương đất nước và cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược Điệp từ “một ngọn lửa” làm giọng thơ mạnh mẽ, hình ảnh thơ lung linh và làm ấm lòng người đọc Vững tin ở tương lai, bà kiên trì nhóm lửa, giữ cho ngọn lửa của tình yêu, ngọn lửa của niềm tin luôn ấm nóng tỏa sáng “ngọn lửa” là biểu tượng, là sức sống muôn đời
Kỷ niệm tuổi thơ lắng xuống, mạch thơ chuyển từ cảm xúc nhớ thương của người cháu với bà sang những suy nghĩ sâu sắc về bà, về gia đình và những ân nghĩa sâu nặng:
Trang 5“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa ………
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng - bếp lửa!”
Nếu từ đầu bài thơ, hình ảnh bà và bếp lửa song hành thì đến đây đã hòa là một Từ láy “lận đận”, hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” kết hợp với cụm từ chỉ thời gian mấy chục năm rồi, các phó từ “tận, vẫn” gợi tả một cách sinh động cuộc đời gian nan, vất vả và sự tần tảo đức hi sinh của bà Điệp từ “nhóm” được nhắc lại bốn lần mang những ý nghĩa khác nhau Một bếp lửa bình dị được nhen lên trong mỗi sớm mai, nhưng cũng là một bếp lửa ẩn dụ cho những niềm yêu thương, cho những tình cảm sẻ chia đoàn kết với hàng xóm láng giềng và hơn thế “nhóm bếp lửa” khơi dậy những kí ức, kỉ niệm ấu thơ, những hoài bão, những ước mơ trong cháu Một bếp lửa đơn sơ đã trở thành một ngọn lửa trong trái tim Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa Câu thơ “Ôi kỳ lạ và thiêng liêng - bếp lửa!” là câu thơ cảm thán với cấu trúc đảo thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của những điều kì diệu bếp lửa Từ bếp lửa của bà cháu nhận ra niềm tin dai dẳng, là linh hồn của một dân tộc vất vả, gian lao, nghĩa tình Bếp lửa gắn bó với bà-người phụ nữ tần tảo, bếp lửa là tình bà ấm nóng, là tay bà chăm chút, là lòng bà ước mơ Bếp lửa ấy cùng hình ảnh người bà sẽ toả sáng trong tâm hồn cháu, nâng đỡ cháu đến các hành trình cuộc đời Bếp lửa kì lạ thiêng liêng là vì thế
Khép lại bài thơ là nỗi nhớ của cháu đối với bà và bếp lửa:
“Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?”
Đứa cháu giờ đã trưởng thành “cháu đã đi xa”, đã rời xa bà và bếp lửa Điệp
từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ Cháu đã sống trong niềm vui rộng mở “giữa ngọn khói trăm tàu, lửa trăm nhà” nhưng vẫn không thể quên bếp lửa của bà, không nguôi nhớ thương bà nên vẫn không
“quên nhắc nhở” Câu hỏi tu từ “Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?” như một nỗi nhớ khắc khoải thường trực, đau đáu khôn nguôi chẳng thể nào quên Hình ảnh bà trở thành hình ảnh thiêng liêng trong tâm hồn, làm ấm lòng, nâng
đỡ cháu trên mỗi gian lao cuộc đời Bà cũng chính là hiện thân của quê hương, đất nước
Trang 6Bếp lửa đã trở thành tấm lòng, niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên hành trình dài trong cuộc đời, có nghĩ là từ một bếp lửa đơn sơ giản dị của
bà, nhiều bếp lửa khác đã được nhen lên, sự sống cứ thế truyền đời bất diệt Đến đây ta có thể khẳng định bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa và là người truyền lửa Bếp lửa đã trở thành biểu tượng cho tình nghĩa gia đình, tình yêu quê hương, đất nước
Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm, miêu tả, tự sự và bình luận, lời thơ có tính triết lý sâu sắc, đảo ngữ và các biện pháp tu từ được sử dụng rất hiệu quả Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo vừa chân thực, vừa giàu ý nghĩa biểu tượng Hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỷ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu Hình ảnh người bà trong bài thơ ta đã từng bắt gặp trong “Tiếng Gà Trưa” của Xuân Quỳnh, là bao người mẹ, người chị đã tô đậm trang sử vàng chói lọi của truyền thống của người nữ Việt Nam anh hùng
Đã hơn nửa thế kỉ trôi qua, hình ảnh người bà và bếp lửa và những kỉ niệm tuổi thơ bên bà của người cháu luôn khiến ta trân trọng và cảm phục Nhà thơ Bằng Việt đã để lại cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam một bài thơ xuất sắc Có
lẽ vì vậy mà người đọc không thể quên