TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ ĐỀ TÀI “HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ” Hà Nội, năm 2017 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 4 Chương I Hàng hóa sức lao động 4 I Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 4 1) Khái niệm sức lao động 4 2) Những điều kiện biên sức lao động thành hàng hóa 4 II Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 5 1) Giá trị hàng hóa sức lao động 5 2) Giá trị sử dụn.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
- -TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI: “HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY.”
Hà Nội, năm 2017
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
Chương I Hàng hóa sức lao động 4
I Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 4
1) Khái niệm sức lao động 4
2) Những điều kiện biên sức lao động thành hàng hóa 4
II Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 5
1) Giá trị hàng hóa sức lao động 5
2) Giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động 7
Chương II Tiền lương và các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương 7
I Tiền lương 7
1) Khái niệm tiền lương 7
2) Vai trò của tiền lương 8
3) Phân loại và hình thức trả lương 9
II Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương 11
Chương III Thực trạng và cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay 13
1) Thực trạng tiền lương hiện nay 13
2) Giải pháp tạo nguồn cải cách tiền lương 16
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn chuyển dịch nền kinh tế từ nền kinh tế tậptrung sang nền kinh tế thị trường Đã và đang có rất nhiều thị trường được hìnhthành và phát triển mạnh mẽ, song trình độ phát triển so với các nước khác cònthấp và mang tính chất tự phát Một trong những thị trường lớn được hình thành đóchính là thị trường sức lao động (Thị trường lao động) Trước giai đoạn đổi mới, thịtrường sức lao động vẫn chưa được thừa nhận, và cho đến nay vẫn chưa có mộtnhận thức rõ ràng và thống nhất về loại thị trường này Trước sự tất yếu của việcthừa nhận thị trường lao động, ngày 23/6/1994 Bộ Luật Lao động đã được banhành, tiếp đó là một loạt các nghị định của Chính Phủ hướng dẫn thi hành Bộ luậtLao động đã có những tác động tích cực đến việc hình thành khuôn khổ pháp lýcho thị trường này Sức lao động được xem như là một loại hàng hóa đặc biệt, còntiền lương chính là mức gía trị của sức lao động và được thỏa thuận quyết định bởi
cả hai bên Cả người lao động và người sử dụng lao động đều có những quyền cơbản để được đảm bảo cho việc tham gia thị trường lao động Trước C Mác, chưa
hề có một nhà kinh tế học nào phân biệt hai phạm trù “lao động và sức lao động”
Và C Mác đã trở thành người đầu tiên vạch rõ ranh giới, trình bày quan điểm mộtcách đúng đắn khóa học, lý luận về hàng hóa sức lao động Đỉnh cao của sự pháttriển lý luận đó là trong tác phẩm “Tư Bản”, C Mác viết: “Tư bản chỉ phát sinh ởnơi nào mà người chủ những tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt tìm thấy đượcngười lao động tự do với tư cách là người bán sức lao động của mình ở trên thịtrường Bây giờ, chúng ta phải nghiên cứu một cách tường tận hơn thứ hàng hoáđặc biệt, tức là sức lao động"
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em chọn đề tài nghiên cứu “Hàng hóa sức lao động
và vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay.”
Trang 4NỘI DUNG
Chương I Hàng hóa sức lao động
I Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
1) Khái niệm sức lao động.
Trước khi tìm hiều về hàng hóa sức lao động, chúng ta cần có nhận thức về sứclao động Theo C Mác: “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong
cơ thể con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực màcon người phải làm trong hoạt động để sản xuất ra những vật có ích.”
Như vậy, sức lao động là thứ mà mỗi con người đều có sẵn, sở hữu trong mình
2) Những điều kiện biên sức lao động thành hàng hóa
Sức lao động là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động sản xuất trong mọi xãhội Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá Thực tiễn lịch sửcho thấy, sức lao động của người nô lệ không phải là hàng hóa, vì bản thân người
nô lệ thuộc sở hữu của chủ nô, anh ta không có quyền bán sức lao động của mình.Người thợ thủ công tự do tuy được tùy ý sử dụng sức lao động của mình, nhưngsức lao động của anh ta cũng không phải hàng hóa, vì anh ta có tư liệu sản xuất đểlàm ra sản phẩm nuôi sống mình, chứ chưa buộc phải bán sức lao động để sống Như vậy, sức lao động chỉ biến thành hàng hoá khi có cả hai điều kiện lịch sửsau:
- Người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sứclao động của mình Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hànghoá, nếu nó do bản con người có sức lao động đưa ra bán Muốn vậy, người có sứclao động phải có quyền sở hữu năng lực của mình Việc biến sức lao động thànhhàng hoá đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến
- Người lao động phải bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt,không thể tự tiến hành lao động sản xuất Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động
Trang 5mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách nào khác để sinhsống.
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biếnthành hàng hoá Sức lao động trở thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiềnbiến thành tư bản Tuy nhiên để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa vàlưu thông tiền tệ phải phát triển đến một mức nhật định Dưới chủ nghĩa tư bản, đãxuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó Một mặt, cách mạng tư sản đã giải phóng ngườilao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa phong kiến Mặt khác, dotác động của quy luật giá trị và các biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản đãlàm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập trung tư liệusản xuất vào trong tay một số ít người Việc mua bán sức lao động được thực hiệndưới hình thức thuê mướn Trong các hình thái trước tư bản chủ nghĩa (TBCN) chỉ
có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa pháttriển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ bị phá vỡthì mới xuất hiện điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa Chính sự xuất hiệncủa hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa trở nên có tính chất phổbiến và đã báo hiệu sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội - thời đạicủa chủ nghĩa tư bản
II Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng có hai thuộc tính:giá trị và giá trị sử dụng
1) Giá trị hàng hóa sức lao động
Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác được quy địnhbởi số lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sứclao động Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Để sảnxuất và tái sản xuất ra năng lực đó, người 5 công nhân phải tiêu dùng một số lượng
tư liệu sinh hoạt nhất định Ngoài ra, người lao động còn phải thỏa mãn những nhu
Trang 6cầu của gia đình và con cái anh ta nữa Chỉ có như vậy thì sức lao động mới đượcsản xuất và tái sản xuất liên tục Vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sảnxuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ranhững tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao độngđược xác định bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức laođộng Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cảyếu tố tinh thần và lịch sử Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công nhân khôngchỉ có nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần (giải trí, họchành,…) Nhu cầu đó, cả về khối lượng lẫn cơ cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiếtcho công nhân không phải lúc nào và ở đâu cũng giống nhau Nó tùy thuộc hoàncảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạtđược của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc vào tập quán, vào điều kiện địa lý vàkhí hậu, vào điều kiện hình thành giai cấp công nhân Nhưng, đối với một nướcnhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cầnthiết cho người lao động là một đại lượng nhất định Do đó, có thể xác định donhững bộ phận sau đây hợp thành:
- Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sảnxuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân
- Phí tổn đào tạo người công nhân
- Giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia đình người công nhân
Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định,cần nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng đối lập nhau Một mặt là sựtăng nhu cầu trung bình xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về học tập và trình độ lànhnghề, do đó làm tăng giá trị sức lao động Mặt khác là sự tăng năng suất lao động
xã hội, do đó làm giảm giá trị sức lao động Trong điều kiện tư bản hiện đại, dướitác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và những điều kiện khác, sự khácbiệt của công nhân về trình độ lành nghề, về sự phức tạp của lao động và mức độ
Trang 7sử dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ tăng lên Tất cả những điều kiện đókhông thể không ảnh hưởng đến các giá trị sức lao động Không thể không dẫn đến
sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực của nền kinh tế bị che lấp đằng sau đạilượng trung bình của giá trị sức lao động
2) Giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khácchỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình người côngnhân tiến hành lao động sản xuất Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức laođộng được thể hiện đó là: hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sửdụng thì cả giá trị và giá trị sử dụng của nó đều biến mất theo thời gian Tuy nhiên,quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại sản xuất ra một loại hàng hóa khác,đồng thời tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động Phần lớnhơn đó chính là giá trị thặng dư Như vậy, hàng hoá sức lao động có thuộc tính lànguồn gốc sinh ra giá trị Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hànghoá sức lao động so với các hàng hoá khác Nó là chìa khoá để giải quyết mâuthuẫn của công thức chung của tư bản Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức laođộng trở thành hàng hoá Hơn nữa, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động
vì vậy, việc cung ứng sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh
tế, xã hội của người lao động Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộcvào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thìcon người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung
Chương II Tiền lương và các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương
I Tiền lương
1) Khái niệm tiền lương
Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền vàđược ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặcbằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người
Trang 8lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thựchiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm
Tiền lương là bộ phận cơ bản trong thu nhập của người lao động đồng thời làmột trong những yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất, kinh doanh của các doanhnghiệp Với ý nghĩa đó, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động ,
là giá của yếu tố sức lao động tuân theo các nguyên tắc cung cầu, giá cả của thịtrường và pháp luật hiện hành của nhà nước
Nền kinh tế thị trường càng ngày càng phát triển và được xã hội hóa cao thìquan hệ cung cầu và sử dụng sức lao động ngày càng cao hơn, tiền lương trở thànhnguồn thu nhập duy nhất, là mối quan tâm và động lực lớn nhất với mọi đối tượngcung ứng sức lao động
Cùng với tên gọi trên, tiền công là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiềnlương Tiền công gắn chặt trực tiếp hơn với các quan hệ thỏa thuận, mua bán sứclao động và thường được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doạn, các hợp độngthuê có thời hạn
Tiền công còn là tiền trả cho một đơn vị thời gian lao động cung ứng, tiền trảcho khối lượng công việc được thực hiện phổ biến trong những thỏa thuận thuêcông nhân trên thị trường tự do và có thể gọi là giá công lao động
2) Vai trò của tiền lương
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào, doanh nghiệp sản xuất cũng như doanhnghiệp thương mại, tiền lương thực hiện hai chức năng sau:
– Về phương diện xã hội:
Trong bất cứ chế độ xã hội nào, tiền lương cũng thực hiện chức năng kinh tế cơbản của nó là đảm bảo tái sản xuất sức lao động cho xã hội Tuy nhiên mức độ táisản xuất mở rộng cho người lao động và cách tính, cách trả tiền lương trong mỗichế độ là khác nhau Người lao động tái sản xuất sức lao động của mình thông quacác tư liệu sinh hoạt nhận được từ khoản tiền lương của họ Để tái sản xuất sức lao
Trang 9động tiền lương phải đảm bảo tiêu dùng cá nhân người lao động và gia đình họ Đểthực hiện chính sách này trong công tác tiền lương phải:
Nhà nước phải định mức lương tối thiểu: mức lương tối thiểu phải đảm bảo nuôisống gia đình và bản thân họ Mức lương tối thiểu là nền tảng cho chính sách tiềnlương và việc trả lương cho các doanh nghiệp, bởi vậy nó phải được thể chế bằngpháp luật buộc mọi doanh nghiệp khi sử dụng lao động phải thực hiện Để xác địnhđược mức lương tối thiểu đòi hỏi phải tính đúng, tính đủ các yếu tố hợp thành tiềnlương như nhà ở, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, đi lại, ăn, mặc, ở,… Mức lươngtối thiểu được ấn định theo giá linh hoạt, đảm bảo cho người lao động làm việc đơngiản nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn vàmột phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và làm căn cứ để tính các mứclương cho các loại lao động khác
Mức lương cơ bản khác phải được xác định trên cơ sở mức giá hàng vật phẩm tiêudùng trong từng trường hợp một, bởi vậy khi giá cả có biến động, đặc biệt khi tốc
độ lạm phát cao phải điều chỉnh tiền lương phù hợp để đảm bảo đời sống của ngườilao động
– Về phương diện kinh tế:
Tiền lương là một đòn bẩy kinh tế có tác dụng kích thích lợi ích vật chất đối vớingười lao động làm cho họ vì lợi ích vật chất của bản thân và gia đình mình mà laođộng một cách tích cực với chất lượng kết quả ngày càng cao
Để trở thành đòn bẩy kinh tế, việc trả lương phải gắn liền với kết quả lao động,
tổ chức tiền lương phải nhằm khuyến khích người lao động nâng cao năng xuất,chất lượng và hiệu quả lao động Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, khônglàm không hưởng Bội số của tiền lương phải phản ánh đúng sự khác biệt, trongtiền lương giữa loại lao động có trình độ thấp nhất và cao nhất được hình thànhtrong quá trình lao động
Trang 103) Phân loại và hình thức trả lương
Tiền công bao gồm tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
- Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức
lao động của mình cho nhà tư bản Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức laođộng, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế
- Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu
dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình Đốivới người lao động thì mục đích cuối cùng của họ là tiền công thực tế vì nó đóngvai trò quyết định trong tái sản xuất sức lao động
- Mức lương tối thiểu là mức lương để trả cho người lao động làm công việc
đơn giản nhất với điều kiện lao dộng và môi trường lao động bình thường Nó gắnliền với 3 yếu tố cần thiết là mức sống trung bình của dân cư một nước, chỉ số giá
cả hàng hóa sinh hoạt và loại lao động, điều kiện lao động
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công theo thời gian và tiền côngtheo sản phẩm
- Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lương của nó ít
hay nhiều tùy theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hayngắn Tiền công ngày hay tuần chưa nói rõ được mức tiền công đó là cao hay thấp
vì nó còn tùy theo thời gian làm trong ngày dài hay ngắn Do đó muốn đánh giáchính xác mức tiền công không chỉ căn cứ vào tiền công ngày mà còn phải căn cứvào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động Giá cả của một giờ lao động làthước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian Áp dụng trả công theo thờigian thì đơn giản trong việc thực hiện tả lương nhưng không khuyến khích đươngtăng năng suất lao động
- Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lương của nó phụ
thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà côngnhân đã sản xuất ra hoặc số lượng công việc mà công nhân đã hoàn thành