1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

19050286-Đỗ Thị Hồng Uyên-17112001

32 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sách Lược Ngoại Giao Của Việt Nam Với Quân Pháp Và Quân Tưởng Giai Đoạn 1945-1946
Tác giả Đỗ Thị Hồng Uyên, Nguyễn Thị Thu Hiền, Vương Khánh Chi, Hà Thị Hồng Ngân
Người hướng dẫn Thầy Lê Tiến Dũng
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Bài Tiểu Luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 618,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KINH TẾ  BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KÌ HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG ĐỀ TÀI SÁCH LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM VỚI QUÂN PHÁP VÀ QUÂN TƯỞNG GIAI ĐOẠN 1945 1946 Sinh viên thực hiện Đỗ[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KINH TẾ



BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KÌ HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG

ĐỀ TÀI: SÁCH LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM VỚI QUÂN

PHÁP VÀ QUÂN TƯỞNG GIAI ĐOẠN 1945-1946

Sinh viên thực hiện: Đỗ Thị Hồng Uyên-19050286

Nguyễn Thị Thu Hiền-19050081 Vương Khánh Chi-19050033

Hà Thị Hồng Ngân-19050183

Lớp: QH 2019E Kinh tế clc 6 Giảng viên hướng dẫn: Thầy Lê Tiến Dũng

Hà Nội - 2021

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: SÁCH LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA NƯỚC TA GIAI ĐOẠN

1.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC THỜI KỲ 1945 – 1946 4

1.2 S ÁCH LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 1945-1946 6

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ SÁCH LƯỢC NGOẠI GIAO 1945-1947 14

2.2 THÀNH CÔNG CỦA SÁCH LƯỢC NGOẠI GIAO TRONG GIAI ĐOẠN 1945-1946

16

CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA SÁCH LƯỢC NGOẠI GIAO TRONG GIAI ĐOẠN

Trang 3

3.2 Ý NGHĨA HIỆN THỰC 21

4.2 B ÀI HỌC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI HIỆN NAY 24

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Đối ngoại là một vấn đề quan trọng bậc nhất trong quan hệ chính trị quốc tế,

nó đồng hành cùng dân tộc trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa…của mỗi quốc gia Nếu không đưa ra chính sách hợp lý sẽ khiến cho không có sự hợp tác giữa các quốc gia và các khu vực trên thế giới, nó có thể khiến một quốc gia tụt hậu và ngược lại, nếu một quốc gia có chính sách ngoại giao hợp

lý điều đó sẽ thúc đẩy được mọi mặt đời sống xã hội phát triển, hợp tác, giao lưu quốc tế ngày càng sâu rộng Chính sách đối ngoại của bất cứ quốc gia nào cũng đều nhằm ba mục tiêu cơ bản, đó là góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia; tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi nhất để phát triển đất nước và nâng cao vị thế, mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế Chính sách đối ngoại của Việt Nam là một ví dụ điển hình Trong 70 năm dựng nước và giữ nước, ngoại giao luôn có mặt và đóng vai trò quan trong trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc cũng như đời sống của nhân dân

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn thể hiện được bản lĩnh, trí tuệ của mình trong việc hoạch định chủ trương, chính sách đối ngoại phù hợp với từng thời kỳ lịch sử Đặc biệt khi đất nước đang ở trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc” ở giai đoạn 1945-1946, khi mà đất nước ta mới thành lập, bằng những chính sách ngoại giao khôn khéo, linh hoạt, sáng tạo, Đảng ta đã tập trung tinh thần và lực lượng giải quyết từng khó khăn, đưa đất nước thoát khỏi vòng vây của kẻ thù Với những lý do trên tác giả chọn đề

tài “Sách lược ngoại giao của Việt Nam với quân Pháp và Quân tưởng giai đoạn 1945-1946” làm đề tài tiểu luận

Trang 5

mà nhân dân ta đã giành được Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cũng như bài học trong công tác ngoại giao hiện nay cho nước ta

3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng: Chính sách ngoại giao

- Phạm vi thời gian: 1945-1946

- Phạm vi không gian: Việt Nam

4 Tổng quan tài liệu

Phạm Minh Triều (2021) đã viết bài “Sách lược hòa hoãn, nhân nhượng với

kẻ thù trong giai đoạn (1945 - 1946) - Một chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược, quyết định của cách mạng Việt Nam” Bài viết đã nêu ra một số tình

hình đất nước và diễn biến của nước ta lúc bấy giờ; Đánh giá sách lược hòa hoãn, nhân nhượng với kẻ thù thời kỳ 1945 – 1946 cũng như sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Chính nhờ Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sách lược linh hoạt hòa hoãn, nhân nhượng với kẻ thù, giữ vững nguyên tắc chiến lược mà cách mạng đã vượt qua những thử thách hiểm nghèo, giành thắng lợi từng bước, đưa cách mạng cả nước tiến lên, vững chắc đi tới thắng lợi hoàn toàn

Trang 6

Phòng Lý luận chính trị lịch sử Đảng (2021) đã xuất bản “Hiệp định Sơ bộ

(6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) - Nước cờ ngoại giao Xuất sắc của Đảng

và Chủ tịch Hồ Chí Minh” trên trang thông tin điện tử Bài viết đã nêu cho

đọc giả cái nhìn khái quát về Hiệp định sơ bộ và Tạm ước cũng như đánh giá

về hiệp định này Đây có thể coi là sự lựa chọn sáng suốt của Đảng, là nước

cờ đúng đắn phát huy sức mạnh của chính quyền nhân dân, bài học về phân hóa và lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, biết tận dụng đúng thời cơ cách mạng, biết nhân nhượng đúng lúc, nhân nhượng có nguyên tắc, luôn đặt lợi ích dân tộc, chủ quyền quốc gia lên trên hết

“Ngoại giao trước Toàn quốc kháng chiến và bài học về công tác đối ngoại hiện nay” của Đặng Đình Quý (2016) Bài viết đã nhấn mạnh về tầm quan

trọng của vấn đề ngoại giao, nêu rõ bài học từ chính sách ngoại giao giai đoạn 1945-1945 cũng như công tác ngoại giao trong bối cảnh hiện nay Ngày nay, mặt trận ngoại giao đang được hưởng các điều kiện bên trong và bên ngoài rất thuận lợi Đó là cơ sở để chúng ta có niềm tin rằng ngoại giao tiếp tục phát huy vai trò và sứ mệnh là một trong những mặt trận hàng đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới Từ những bài học về chiến lược đi trước, Đảng ngày càng phát huy được vai trò của bản thân trong công tác đối ngoại cũng như bảo vệ đất nước trong bối cảnh hiện nay

5 Cấu trúc dự kiến của đề tài

Chương 1: Sách lược ngoại giao của nước ta giai đoạn 1945-1946

Chương 2: Đánh giá sách lược ngoại giao 1945-1946

Chương 3: Ý nghĩa sách lược ngoại giao trong giai đoạn 1945-1946 Chương 4: Bài học và liên hệ thực tiễn

Trang 7

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: SÁCH LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 1945-1946

1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước thời kỳ 1945 – 1946

1.1.1 Bối cảnh quốc tế thời kỳ 1945 – 1946

Tháng 5/1945, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thắng lợi thuộc về phe Đồng minh, khiến cho tình hình thế giới có nhiều biến động mạnh mẽ Các nước lớn bắt đầu điều chỉnh chính sách ngoại giao của mình Ở phe Đồng Minh, từ mối quan hệ hợp tác trong chiến tranh, các nước dần chuyển sang đối đầu trong hòa bình Trật tự thế giới thay đổi, từ trật tự một cực chuyển thành trật tự hai cực Ianta, đứng đầu là Mỹ và Liên Xô

Sau chiến tranh, nhờ có ưu thế là mạnh nhất về kinh tế, quân sự, độc quyền vũ khí nguyên tử, chủ nợ chính của phần lớn các quốc gia Âu, Á, Mỹ Latinh, Mỹ có mưu đồ làm bá chủ thế giới Để thực hiện mưu đồ của mình, trong ngoại giao,

Mỹ bắt đầu chống Liên Xô và phong trào cách mạng thế giới, chống những diễn biến tích cực của phong trào giải phóng thuộc địa của chủ nghĩa thực dân

Về Liên xô, tuy bị thiệt hại về người và của, nhưng cũng nhanh chóng trở thành cường quốc hàng đầu Châu Âu Mặc dù so với Mỹ, tiềm lực kinh tế và vũ khí hạt nhân không bằng nhưng Liên Xô vẫn cùng Mỹ đóng một vai trò quyết định trong việc giải quyết những vấn đề lớn về hòa bình, an ninh trong khu vực và trên thế giới

Cùng thời điểm, các nước lớn trong phe Đồng Minh cũng nhanh chóng củng cố lại hệ thống thuộc địa Tuy Anh và Pháp là hai cường quốc thắng trận, nhưng lại trong thế suy yếu, tình hình chính trị không ổn định Để duy trì vai trò cường quốc sau chiến tranh, hai nước ra sức khôi phục lại nền kinh tế, ổn định chính trị

Trang 8

Trong khi đó, ở Châu Á và Châu Phi, phong trào đấu tranh chống chiến tranh xâm lược và sự thống trị, đô hộ của thực dân phương Tây trở nên vô cùng mạnh mẽ Hình thức đấu tranh ở các nước diễn ra khác nhau nhưng đều hướng tới lật đổ ách thống trị, giải phóng đất nước Các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước này dần lan sang Châu Âu và lan rộng toàn thế giới.

1.1.2.Bối cảnh trong nước thời kỳ 1945 – 1946

Trong bối cảnh các cuộc chiến tranh thế giới diễn ra mạnh mẽ, năm 1942, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra thời cơ và tiên đoán thời điểm cách mạng nước ta thành công “1945 – Việt Nam độc lập” Người kêu gọi đồng bào cả nước: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh!” Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Đông Dương do lãnh tụ Hồ Chí Minh đứng đầu, tháng 8/1945 – cuộc cách mạng nổ ra và giành được thắng lợi Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

ra đời Sự kiện này đã mở ra một kỳ nguyên mới, độc lập, tự do cho nhân dân Việt Nam

Sau khi đất nước được thành lập, thời gian đầu, do tàn dư của chiến tranh, chính quyền nhân dân phải đối mặt với đời sống kinh tế - xã hội rối loạn, lương thực khan hiếm đã để lại hậu quả là nạn đói trong những năm 1945, có hơn hai triệu người bị chết đói; mọi hoạt động sản xuất, kinh tế, tài chính, thương mại khó khăn, hỗn loạn, rơi vào đình đốn Không những thế, tư bản Pháp vẫn nắm trong tay hệ thống ngân hàng Đông Dương, Quân Tưởng thì cho lưu hành đồng tiền mất giá của Trung Quốc, tự ý quy định tỷ giá tiền quan kim và tiền Đông Dương, làm lũng đoạn thị trường ở miền Bắc; chính sách ngu dân của thực dân Pháp làm cho 95% dân ta mù chữ

Cùng thời điểm đó, nước ta gặp phải một thách thức lớn, phải đối phó với nhiều thế lực quân sự đối địch của các nước lớn cùng một lúc Ở phía Bắc, gần 2000

Trang 9

quân Tưởng vào Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra, mang theo các nhóm người Việt sống lưu vong ở Trung Quốc Ở phía Nam Việt Nam lúc này cũng có khoảng 26 nghìn quân Anh - Ấn vào giải giáp quân đội Nhật.

Tháng 10/1945, Anh đã kí với Pháp hiệp định chính thức công nhận quyền dân

sự của Pháp tại Đông Dương Ngày 1/1/1946, Anh ký hiệp định trao quyền cho Pháp giải giáp quân đội Nhật ở phía Nam vĩ tuyến 16 Đổi lại, Pháp nhân nhượng cho Anh một số quyền lợi ở Xyri và Libăng Thêm vào đó, trong khoảng thời gian Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương, Pháp có khoảng 50 nghìn lính gồm tù binh đang bị Nhật giam giữ và tân binh nằm rải rác ở các miền phụ cận Đông Dương Sau chiến tranh, 1500 lính Pháp bị Nhật giam giữ ở miền Nam Việt Nam trong cuộc đảo chính ngày 9/3/1945 được thả và vũ trang trở lại Quân viễn chinh mới của Pháp được gấp rút đưa vào miền Nam Ngày 23/9/1945, Pháp mở cuộc xâm lược Việt Nam lần 2 Ngoài ra, còn khoảng 60 nghìn quân Nhật ở Việt Nam chờ giải giáp lúc này

Như vậy, cùng một lúc, nước ta phải đối diện với bốn thế lực quân sự lớn đang chiếm đóng (là Nhật, Anh, Pháp và lực lượng Tưởng Giới Thạch) với mục tiêu là tìm cách xóa chính quyền cách mạng, lập lại trật tự của thực dân phương Tây Nhìn tổng thể, giữa ta và các thế lực thù địch từ bên ngoài, xét về mặt lực lượng

có sự chênh lệch rất lớn Lúc này, chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cùng Thường vụ Trung ương Đảng đã sớm thấy rằng việc dùng vũ lực là không khả thi, và ngoại giao chính là thứ vũ khí sắc bén có thể tham gia vào quá trình bảo vệ thành quả cách mạng, chia rẽ, cô lập kẻ thù

1.2 Sách lược ngoại giao của nước ta giai đoạn 1945-1946

1.2.1 Giai đoạn hòa Tưởng để đánh Pháp

a) Lý do hòa Tưởng để đánh Pháp

Trang 10

Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, với danh nghĩa đồng minh đến tước vũ khí của phát xít Nhật, quân đội các nước đế quốc ồ ạt kéo vào chiếm đóng Việt Nam và khuyến khích bọn Việt gian chống phá chính quyền cách mạng nhằm xóa bỏ nền độc lập và chia cắt nước ta, bao gồm: 20 vạn quân Tưởng, quân đội Anh Cùng thời điểm đó tại Nam Bộ, chúng ta cũng phải đối phó với dã tâm xâm lược trở lại của Thực dân Pháp Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ: tránh trường hợp phải một mình đối phó với nhiều lực lượng kẻ thù cùng một lúc, từ

đó chủ trương tạm thời hòa hoãn tránh xung đột với quân Tưởng Nguyên nhân

ta hòa hoãn với Tưởng vì Pháp mới là kẻ thù chủ yếu trước mắt của cách mạng, Tưởng vào Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân đồng minh chưa tuyên bố xâm lược như Pháp nếu đánh Tưởng thì sẽ rất khó khăn cho ta, hơn nữa nhằm tránh được phe đồng mình câu kết chống Việt Nam, lực lượng cách mạng còn non yếu, quân Tưởng thì đông và nhằm lợi dụng mâu thuẫn giữa hai tập đoàn Mỹ, Tưởng- Anh, Pháp vào Đông Dương

b) Diễn biến

Lênin đã từng dạy những người cách mạng rằng: “Thấy cuộc chiến đấu rõ ràng

có lợi cho kẻ thù chứ không có lợi cho ta mà cứ nghênh chiến, đó là một tội ác;

và những nhà chính trị nào của giai cấp cách mạng, không biết “lựa chiêu, liên minh và thỏa hiệp” để tránh một cuộc chiến đấu bất lợi rõ rệt thì đó là những người vô dụng” Sau Cách mạng Tháng Tám là thời kỳ cách mạng nước ta gặp rất nhiều khó khăn và thách thức với nhiều kẻ thù nguy hiểm, thù trong giặc ngoài

Để ngăn chặn và làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ” của quân Tưởng và tay sai, Đảng, Chính phủ Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện sách lược “triệt để lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc” với quân Tưởng; đề ra nhiều đối sách khôn khéo đối phó có hiệu quả với các hoạt động khiêu khích, gây xung đột vũ trang của quân Tưởng; thực hiện giao thiệp thân thiện, ứng xử mềm dẻo, linh hoạt với các yêu sách của quân Tưởng và các tổ chức đảng phái chính trị tay sai thân Tưởng, nhất là số cầm đầu Việt Quốc, Việt Cách

Trang 11

Ngày 11/11/1945, Đảng ta tuyên bố tự giải tán, để tránh mũi nhọn tấn công của

kẻ thù, nhưng sự thật là rút vào hoạt động bí mật, giữ vững vai trò lãnh đạo chính quyền và nhân dân Đảng để một bộ phận công khai dưới danh hiệu Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác Đông Dương, để phối hợp hoạt động bí mật với công khaiTrước hành động khiêu khích của quân đội Tưởng và tay sai, để tránh xảy ra xung đột về quân sự, chúng ta quyết định nhân nhượng Đồng ý việc đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm cho 20 vạn quân Tưởng khi ở Việt Nam và nhân nhượng cho quân Tưởng được sử dụng đồng tiền Quan kim, Quốc tệ song hành cùng đồng bạc Đông Dương Sau khi bầu cử thành công, Hồ Chí Minh chấp nhận mở rộng thành phần đại biểu Quốc hội, đồng ý bổ sung thêm 70 ghế cho Việt quốc, Việt cách không qua bầu cử; cải tổ, mở rộng thành phần Chính phủ liên hiệp với sự tham gia của nhiều nhân sĩ, trí thức, người không đảng phái và cả một số phần tử cầm đầu tổ chức phản động tay sai của quân Tưởng, trong đó có nhiều ghế Bộ trưởng quan trọng

1.2.2 Giai đoạn hòa Pháp để đuổi Tưởng

a) Lý do hòa Pháp để đuổi Tưởng

Sau khi Pháp và Trung Hoa Dân quốc kí với nhau Hiệp ước Hoa – Pháp 1946) đã đăt nước ta đứng trước hai sự lựa chọn: hoặc cầm súng chiến đấu chống thực dân Pháp hoặc hòa hoãn, nhân nhượng với Pháp để tránh tình trạng phải đối phó một lúc với nhiều kẻ thù Chính vì thế, Đảng ta đã chọn biện pháp hòa Pháp

(28-2-để đuổi Tưởng

b) Diễn biến

Đầu năm 1946, phe đế quốc đã dàn xếp, mua bán quyền lợi với nhau để thực dân pháp đưa quân ra miền bắc Việt Nam thay cho quân đội Tưởng Ngày 28/2/1946, hiệp ước Hoa- Pháp được ký kết Trong đó có nội dung thỏa thuận để Pháp đưa quân đội ra Bắc vĩ tuyến 16 làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thay thế 20 vạn quân Tưởng rút về nước, hạn cuối cùng là ngày 31/3/1946 Và đổi lại, Pháp sẽ

Trang 12

nhân nhượng cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng ở Trung Quốc và Việt Nam Theo Hiệp ước, Tưởng được Pháp nhường cho một số quyền lợi về kinh tế, chính trị, như hủy bỏ cai trị của Pháp trên đất Trung Quốc, nhượng cho Tưởng một “khu đặc biệt” để tự do buôn bán và có quyền kiểm soát thuế quan ở cảng Hải Phòng, bán cho Tưởng một đoạn đường sắt từ Hồ Kiều đến Côn Minh (thuộc tuyến đường sắt Hà Nội - Vân Nam), những kiều dân Trung Quốc ở Đông Dương được hưởng nhiều quyền lợi đặc biệt Đây thực chất là một bản hiệp ước bán rẻ lợi ích dân tộc, chà đạp lên nền độc lập của Việt Nam, hợp pháp hóa hành động xâm lược của thực dân Pháp ra miền Bắc Việc này được Đảng dự đoán sớm, Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” (ngày 25/11/1945) vạch rõ: “Trước sau, Trùng Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp, miễn là Pháp nhượng cho Tàu nhiều quyền lợi quan trọng”.

Thế nhưng vào sáng 6/3/1946, quân Tưởng đã chủ động nổ súng vào tàu chiến Pháp tiến vào cảng Hải Phòng ở miền Bắc Quân Pháp phản pháo ngay lập tức Giao tranh kéo dài đến trưa hôm đó, với thương vong và thiệt hại cho cả hai bên

Sự kiện đấu súng này rõ ràng không có lợi cho phe Trung Hoa Dân quốc xét về mặt toàn cục Nó cũng cho thấy nhiều tầng mâu thuẫn đang tồn tại trong phe Tưởng Thứ nhất là mâu thuẫn giữa Bộ tư lệnh quân Tưởng ở Việt Nam với Bộ Tổng tham mưu quân Tưởng ở Trùng Khánh Thứ hai là mâu thuẫn trong nội bộ quân Tưởng ở Việt Nam, gồm phe muốn rút về nước theo lệnh của Trung ương Trung Hoa Dân quốc, và phe muốn ở lại để ủng hộ nhóm phản động Việt và

“kiếm chác” thêm về mặt kinh tế Trong nội bộ giới cầm quyền Pháp cũng có ít nhất 2 phe là chủ chiến và chủ trương thương lượng Ta nắm rõ nhóm chủ trương thương lượng này của Pháp và đã chuẩn bị kỹ cho một kịch bản ký kết thỏa thuận hòa hoãn Trước đó vào ngày 25/2/1946, chính phủ Pháp do Giăng Xanhtơni làm đại diện đã xúc tiến việc đàm phán với chính phủ Việt Nam để được đưa quân ra Bắc an toàn, tránh tình trạng bị kháng cự mãnh liệt như ở miền Nam Tuy nhiên đàm phán bế tắc quanh vấn đề độc lập của Việt Nam Phía ta không chấp nhận

“tự trị” còn phía Pháp không chấp nhận “độc lập”

Trang 13

Trong tình thế đó, Đảng ta đứng trước sự lựa chọn giải pháp đánh hay hòa Phân tích tình thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nhận định, đánh giá âm mưu, ý đồ chính trị của Pháp và Tưởng, đưa ra bản Chỉ thị Tình hình và chủ trương, ngày 3/3/1946 nêu rõ: “Vấn đề lúc này, không phải là muốn hay không muốn đánh Vấn đề là biết mình biết người, nhận một cách khách quan những điều kiện lời lãi trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng.”Trong bối cảnh xảy ra vụ bắn nhau Pháp- Hoa, đồng thời thực hiện chủ trương đề

ra trước đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ, 6/3/1946, dưới sự chứng kiến của nhiều quốc gia khác như Mĩ, Anh, Trung Hoa,… Hiệp định quy định: Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do có nghị viện, chính phủ, quân đội và tài chính riêng nằm trong liên bang Đông Dương và trong Khối liên hiệp Pháp Việc thống nhất ba kỳ của nước ta do nhân dân ta quyết định Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền bắc thay thế 20 vạn quân Tưởng, sau 5 năm phải rút

về nước, hai bên đình chỉ xung đột ở miền nam và mở cuộc đàm phán để đi đến

ký hiệp định chính thức

Như vậy ở đây Đảng ta và Hồ Chủ tịch đã nhân nhượng vào đúng thời điểm Pháp chịu sức ép từ quân Tưởng nổ súng Đảng ta không thể nhân nhượng sớm hơn, khi Pháp còn chưa sứt đầu mẻ trán vì quân Tưởng, cũng không thể muộn hơn vì

có nguy cơ lớn Pháp và Tưởng sau vụ nổ súng đánh nhau sẽ bình tĩnh lại và cấu kết với nhau cùng chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - khi đó tình hình sẽ vô cùng khó khăn cho ta Tất nhiên sự nhân nhượng ở đây là có nguyên tắc Việc lựa chọn giải pháp hòa hoãn với Pháp, mục đích của Đảng ta là: buộc quân Tưởng rút ngay về nước, tránh tình trạng một lúc phải đối đầu với nhiều kẻ thù, bảo toàn thực lực, tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị cho một cuộc chiến mới Lập trường của Đảng ta trong cuộc đàm phán với Pháp được Ban Thường vụ Trung ương xác định là: độc lập nhưng liên minh với Pháp Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của ta: chính phủ, quân đội, nghị viện, tài chính, ngoại giao và

Trang 14

cả sự thống nhất quốc gia của ta Đảng ta đã nhấn mạnh, trong cuộc đàm phán ta phải: “ không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn phải hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta.”

Sau khi ký hiệp định sơ bộ, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Hòa để tiến (9/3/1946), phân tích, đánh giá chủ trương hòa hoãn và khả năng phát triển của tình hình Chỉ thị nêu rõ: Cần phải tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta, nhất là đối với đồng bào Nam Bộ và các chiến sĩ ngoài mặt trận, cần đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, đặc biệt đào tạo cán bộ chính trị và quân sự…

Để giữ vững nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đảng, Chính phủ tiếp tục cuộc đấu tranh ngoại giao kiên trì, kiên quyết, đầy khó khăn, phức tạp trong suốt năm 1946 ở cả mặt trận trong nước và ngoài nước Từ ngày 19/4 đến 10/5/1946, đại diện Chính phủ Việt Nam và Pháp gặp nhau tại Hội nghị trù bị ở

Đà Lạt, tuy nhiên hội nghị thất bại do sự thiếu thiện chí của Pháp

Từ ngày 31/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn của Chính phủ Việt nam thăm chính thức nước cộng hòa Pháp, chuyến thăm kéo dài hơn 4 tháng Trong thời gian ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với các đảng phái Chính trị, các tổ chức quần chúng ở Pháp và đại diện nhiều tổ chức quốc tế Người

đã nói rõ lập trường hòa bình hữu nghị, nguyện vọng thiết tha độc lập tự do của nhân dân và Chính phủ Việt Nam, đồng thời đã thu được nhiều thành công về mặt đối ngoại, làm cho dư luận Pháp, nhân dân Pháp và giới chính trị Pháp tiến bộ hiểu thêm cuộc đấu tranh chính nghĩa, vì nền độc lập thực sự của Việt Nam Cũng trong thời gian này, phái đoàn Quốc hội Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu đi thăm thân thiện và tham dự đàm phán chính thức giữa hai bên Việt-Pháp

Trang 15

tại Hội nghị Fontainebleau, (Phongtenoblo, Paris- Pháp) từ ngày 6-7 đến ngày 10/9/1946, song không thành công vì vấp phải lập trường hiếu chiến và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp Với thiện chí hữu nghị, hòa bình, nhân nhượng, ngày 14/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Marius Moutet đại diện Chính phủ Pháp một bản Tạm ước 14/9 tại Marseill ( Mácxây, Pháp), đồng ý nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa ở Việt Nam; hai bên cam kết đình chỉ chiến sự ở Nam Bộ và tiếp tục đàm phán… Thiện chí và những hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn đàm phán của Chính phủ ta tuy không đạt mục đích ký hiệp định chính thức, nhưng đã làm cho nhân dân Pháp hiểu và ủng hộ ta, làm cho dư luận quốc tế chú ý đến Việt Nam và hiểu nguyện vọng tha thiết hòa bình của dân tộc Việt Nam Cũng nhờ đó, chúng ta đã duy trì một khoảng thời gian hoà bình hiếm có để tiếp tục xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt.

Trong khi đó ở Việt nam, thời hạn quân đội Tưởng phải rút về nước đã hết (trước ngày 31/3/1946), nhưng quân Tưởng vẫn trì hoãn kéo dài; các thế lực thực dân hiếu chiến Pháp ở Hà Nội móc nối, câu kết với tay sai phản động Đại Việt- Quốc dân đảng, ráo riết chuẩn bị âm mưu thâm độc đảo chính lật đổ Chính phủ Việt Nam, dự định vào ngày 14/7/1946 Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, sáng suốt của Đảng và Chính phủ do cụ Huỳnh Thúc Kháng quyền Chủ tịch chính phủ,

Bộ trưởng Bộ Nội vụ lãnh đạo, rạng sáng ngày 12/7/1946, lực lượng công an đã khôn khéo, sáng tạo, quyết đoán tổ chức một cuộc đột nhập, tấn công bất ngờ vào trụ sở của bọn Đại Việt- Quốc dân đảng, nhanh chóng khống chế bọn phản động

vũ trang, tổ chức khám xét và tịch thu được nhiều tài liệu phản động, trong đó có bản Kế hoạch tổ chức làm đảo chính lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh Với thắng lợi quan trọng này ta đã dập tan hoàn toàn mưu đồ thâm độc lật đổ chính quyền cách mạng của bọn tay sai phản động câu kết với thực dân Pháp, giữ vững chính quyền cách mạng

Ngày 20/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam về đến cảng Hải Phòng an toàn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài: Công việc khẩn cấp bây giờ,

Trang 16

nêu rõ thêm những nhiệm vụ cụ thể và cấp thiết phải làm về mặt quân sự, chính trị, và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, của đảng viên cán bộ đối với cuộc kháng chiến kiến quốc và dự đoán đúng về khả năng một cuộc đối đầu quân sự giữa Việt Nam và Pháp Kịp thời chỉ đạo từng bước chuyển sang tình trạng chiến tranh và chuẩn bị kháng chiến lâu dài; tiếp tục cuộc chiến đấu giam chân địch ở Nam Bộ và trong các thành phố, thị xã ở miền Bắc, khẩn trương tiến hành cuộc tổng di chuyển các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và các cán

bộ, ngành, quân đội, …

Từ cuối tháng 10/1946, tình hình chiến sự ở Việt Nam ngày càng căng thẳng do nguy cơ một cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp tăng dần Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam tiếp tục kiềm chế, kiên trì thực hiện chủ trương hòa hoãn và bày tỏ thiện chí hòa bình, nhân nhượng nhằm tìm kiếm con đường hòa bình, giữ gìn toàn vẹn độc lập, tự do của Việt Nam, đồng thời cố gắng cứu vãn mối quan hệ Việt- Pháp đang ngày càng xấu đi và ngăn chặn một cuộc chiến tranh nổ ra quá sớm và không cân sức với Pháp Nhiều lần, chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ Việt Nam, đã gửi điện văn, thư từ cho Chính phủ Pháp, cho Thủ Tướng Pháp song đều không được hồi đáp; con đường ngoại giao với đại diện Pháp tại Hà Nội cũng đều không đưa đến kết quả tích cực vì phía Pháp chỉ muốn “dùng biện pháp quân sự để giải quyết mối quan hệ Việt-Pháp” Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Việt Nam đã bộc lộ rõ thái độ bội ước, tiếp tục đẩy mạnh tăng cường bình định ở các tỉnh Nam Bộ, xúc tiến tái lập Nam Kỳ tự trị; gây hấn’ khiêu khích, gây xung đột quân sự, lấn chiếm nhiều vị trí ở nơi đóng quân ở Bắc

Bộ Việt nam, đặt lại nền thống trị ở Campuchia và Lào, chia rẽ ba nước Đông Dương

Ngày đăng: 02/05/2022, 04:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đinh Thị Thu Hoài (2016), Phát huy những bài học kinh nghiệm từ sách lược ngoại giao của Đảng thời kỳ 1945-1946 trong giai đoạn hiện nay, truy cập ngày 23/11/2021http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/phat-huy-nhung-bai-hoc-kinh-nghiem-tu-sach-luoc-ngoai-giao-cua-dang-thoi-ky-1945-1946-trong-giai-doan-hien-nay-156.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy những bài học kinh nghiệm từ sách lược ngoại giao của Đảng thời kỳ 1945-1946 trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Đinh Thị Thu Hoài
Năm: 2016
3. Lê Duẫn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới, In lần thứ ba, Nxb Sự thật, H.1975, tr.33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới
Nhà XB: Nxb Sự thật
4. Ngô Thị Thúy Mai(2020), Hiệp định Sơ bộ - Sự lựa chọn sáng suốt của Đảng trong sách lược ngoại giao thời kỳ 1945-1946, truy cập ngày 23/11/2021 https://truongchinhtri.kontum.gov.vn/vi/news/nghien-cuu-trao-doi/hiep-dinh-so-bo-su-lua-chon-sang-suot-cua-dang-trong-sach-luoc-ngoai-giao-thoi-ky-1945-1946- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định Sơ bộ - Sự lựa chọn sáng suốt của Đảng trong sách lược ngoại giao thời kỳ 1945-1946
Tác giả: Ngô Thị Thúy Mai
Năm: 2020
5. Phạm Minh Triều (2021), Sách lược hòa hoãn, nhân nhượng với kẻ thù trong giai đoạn (1945 - 1946) - Một chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược, quyết định của cách mạng Việt Nam, truy cập ngày 23/11/2021.https://truongchinhtri.edu.vn/home/thong-tin-nghien-cuu-trao-doi/sach-luoc-hoa-hoan-nhan-nhuong-voi-ke-thu-trong-giai-doan-1945-1946-mot-chu-truong-lon-co-y-nghia-chien-luoc-quyet-dinh-cua-cach-mang-viet-nam- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách lược hòa hoãn, nhân nhượng với kẻ thù trong giai đoạn (1945 - 1946) - Một chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược, quyết định của cách mạng Việt Nam
Tác giả: Phạm Minh Triều
Năm: 2021
1. Đặng Đình Quý (2016), Ngoại giao trước Toàn quốc kháng chiến và bài học về công tác đối ngoại hiện nay, Trang điện tử Quân đội nhân dân Việt Nam Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm