1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ruot BT So KH So 4

28 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 6,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHÖÕNG VAÁN ÑEÀ CHUNG Baûn tin Khoa hoïc & Coâng ngheä Soá 04/2021 1 Hội nghị tổ chức nhằm đánh giá, tổng kết hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ địa phương năm 2021; triển khai các văn bản, cơ[.]

Trang 1

Hội nghị tổ chức nhằm đánh giá, tổng kết

hoạt động ứng dụng, chuyển giao cơng

nghệ địa phương năm 2021; triển khai

các văn bản, cơ chế, chính sách liên quan đến

hoạt động ứng dụng, chuyển giao cơng nghệ và

cơ chế tự chủ của Trung tâm; chia sẻ, trao đổi

kinh nghiệm tăng cường năng lực chuyển giao,

đổi mới cơng nghệ cho các Trung tâm; một số kết quả ứng dụng cơng nghệ cao vào sản xuất sản phẩm nơng nghiệp; liên kết nghiên cứu chuyển giao cơng nghệ phục vụ cơng tác phịng chống dịch bệnh COVID-19 Đồng thời tăng cường thúc đẩy hoạt động ứng dụng, chuyển giao, đổi mới cơng nghệ tại địa phương

HỘI NGHỊ VỀ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG, CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ ĐỊA PHƯƠNG NĂM 2021

Phan Thu Hương

Trung tâm Ứng dụng, Kỹ thuật, Thơng tin KH&CN Yên Bái

Chiều ngày 08/12/2021, Bộ Khoa học và Cơng nghệ tổ chức Hội nghị về hoạt động ứng dụng, chuyển giao cơng nghệ địa phương năm 2021, Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến Điểm cầu chính tại trụ sở Bộ Khoa học và Cơng nghệ (KH&CN), số 113 Trần Duy Hưng, Trung Hịa, Cầu Giấy, Hà Nội tổ chức theo hình thức trực tiếp, 150 điểm cầu được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại: Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các Trung tâm cĩ chức năng ứng dụng và chuyển giao cơng nghệ; một số viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp.

Tồn cảnh Hội nghị trực tuyến tại điểm cầu Yên Bái.

Trang 2

Phát biểu tại Hội nghị đồng chí Trần Văn

Tùng, Thứ trưởng Bộ KH&CN đánh giá cao

hoạt động của các Trung tâm Ứng dụng tiến

bộ KH&CN trong thời gian qua, có vai trò quan

trọng trong hoạt động tiếp nhận, đánh giá, lựa

chọn, cầu nối và ứng dụng, chuyển giao các tiến

bộ kỹ thuật vào sản xuất theo đặc thù của địa

phương, phục vụ đời sống dân sinh, chủ động

dịch chuyển và tăng cường hỗ trợ các doanh

nghiệp trong hoạt động ứng dụng, đổi mới công

nghệ, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế

- xã hội của địa phương, tạo được uy tín cho

ngành KH&CN

Theo đó, đồng chí Tạ Việt Dũng, Cục trưởng

Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ đã tổng

hợp tình hình hoạt động của các Trung tâm

trong năm 2020 - 2021, đó là: Các trung tâm đã

và đang thực hiện 192 nhiệm vụ KH&CN thuộc

các lĩnh vực nông nghiệp, an toàn bức xạ, năng

lượng, công nghệ sinh học, công nghệ thực

phẩm, công nghệ thông tin, xử lý môi trường,

vật liệu xây dựng, sở hữu trí tuệ , với tổng kinh

phí 107 tỷ đồng (Trong đó có 20% là nhiệm vụ

KH&CN cấp Bộ, cấp quốc gia, 43% nhiệm vụ

cấp cơ sở, 37% nhiệm vụ cấp tỉnh) Cũng trong

giai đoạn này các Trung tâm đã làm chủ được

290 công nghệ, xây dựng được 161 mô hình

ứng dụng KH&CN với tổng kinh phí là 39 tỷ đồng

Đặc biệt, năm 2020 và 2021, trước tình hình

dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, để thích ứng

linh hoạt với những khó khăn trong hoạt động,

các Trung tâm đã chủ động hỗ trợ phòng, chống

dịch COVID-19 thông qua các hoạt động nghiên

cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ đem lại

hiệu quả thiết thực trong công tác phòng, chống

dịch COVID-19 tại các địa phương Điển hình,

Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN tỉnh Nghệ

An phối hợp triển khai nhiệm vụ “Nghiên cứu

thiết kế lắp đặt buồng khử khuẩn di động phục

vụ công tác tiệt trùng cho người và vật tại các

công sở, bệnh viện, trường học, nhà ga”; Trung

tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN thành phố Cần

Thơ liên kết thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu chế tạo hệ thống phát hiện nhanh để sàng lọc chủng virus corona mới (2019-nCoV)”; Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN tỉnh Quảng Ninh phối hợp nghiên cứu sản xuất máy phun khử khuẩn phòng, chống dịch COVID-19 các nhiệm vụ đều mang lại hiệu quả thiết thực trong phòng, chống dịch bệnh COV19

Cũng tại Hội nghị, đồng chí Tạ Việt Dũng chia sẻ về một số khó khăn của các Trung tâm trong triển khai hoạt động ứng dụng chuyển giao, thực hiện cơ chế tự chủ Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực và tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các Trung tâm đó là:

Thứ nhất: Tiếp tục đào tạo, tập huấn nhân

lực cho các Trung tâm để đảm bảo đủ nguồn lực tư vấn, hỗ trợ cho doanh nghiệp trong hoạt động đổi mới công nghệ và tiếp nhận chuyển giao công nghệ Bởi nguồn nhân lực của các Trung tâm còn hạn chế về kỹ năng về công nghệ và chuyển giao công nghệ, nhất là những lĩnh vực chuyên ngành, chuyên sâu Do đó cần thiết kế chương trình, chuyên gia theo dạng chuyên ngành, chuyên sâu cho từng vùng, từng nhóm Trung tâm tương đồng để nâng cao năng lực, tiếp thu và chuyển giao các tiến bộ KH&CN phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Thứ hai: Tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng

cho các Trung tâm đảm bảo các Trung tâm có đủ điều kiện để tư vấn, trình diễn các mô hình công nghệ mới, công nghệ tiên tiến cho doanh nghiệp

Thứ ba: Xây dựng cơ sở dữ liệu về công

nghệ, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp

và thường xuyên cung cấp thông tin, cập nhật các thông tin, dữ liệu, công nghệ mới hỗ trợ các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm kiếm và lựa chọn công nghệ

Thứ tư: Việc chủ động tiếp cận doanh nghiệp

để tư vấn, hỗ trợ trong ứng dụng, chuyển giao công nghệ và đổi mới công nghệ; khai thác hiệu quả trang thông tin điện tử của Trung tâm để

Trang 3

quảng bá, trao đổi về các công nghệ, sản phẩm

của các Trung tâm sẵn sàng chuyển giao và

thương mại hóa

Thứ năm: Về vấn đề hợp tác, liên kết hình

thành mạng lưới giữa các Trung tâm, liên kết

phát triển theo chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng:

Ở một số vùng, các Trung tâm chưa xây dựng

được kế hoạch hợp tác, liên kết hợp tác định kỳ

giao lưu nhằm giới thiệu, khai thác thế mạnh lẫn

nhau, hỗ trợ và liên kết nghiên cứu ứng dụng

các thành quả nghiên cứu lẫn nhau

Theo ông Tạ Việt Dũng, để phát huy hiệu

quả tự chủ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ

phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực ứng

dụng, phát triển công nghệ và đổi mới công

nghệ, hệ thống Trung tâm cần tập trung một

số nhiệm vụ trọng tâm: Tập trung tham mưu và

triển khai hoạt động phục vụ quản lý nhà nước

trong lĩnh vực ứng dụng, phát triển công nghệ,

đổi mới công nghệ và đổi mới sáng tạo tại địa

phương Cùng với đó là đẩy mạnh việc tư vấn,

hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ và đổi

mới công nghệ cho doanh nghiệp, hình thành

mối liên kết với doanh nghiệp Tiếp theo là tăng

cường hoạt động và hình thành liên kết mạng

lưới giữa các Trung tâm với các viện, trường để

khai thác thế mạnh, hỗ trợ và liên kết nghiên cứu ứng dụng các thành quả nghiên cứu Ứng dụng

và khai thác hiệu quả trang thông tin điện tử của mạng lưới các Trung tâm để quảng bá, giới thiệu công nghệ, sản phẩm của Trung tâm sẵn sàng chuyển giao, nhất là quan tâm đầu tư ứng dụng nền tảng công nghệ thông tin để phát triển các kênh giao dịch thương mại điện tử đối với các sản phẩm công nghệ của Trung tâm, thích ứng linh hoạt với điều kiện dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp trong thời gian qua

và phù hợp với xu thế thương mại điện tử trên toàn cầu Đồng thời, thường xuyên tổ chức các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, khảo sát thực tế; tổ chức hội thảo, hội nghị phổ biến, hướng dẫn về các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động ứng dụng, đổi mới và chuyển giao công nghệ, đồng thời giới thiệu mô hình ứng dụng, chuyển giao công nghệ thành công để các Trung tâm chia sẻ, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Liên kết với các viện, trường và các chuyên gia độc lập để cùng hợp tác nghiên cứu gắn với hoạt động đào tạo, phát triển nguồn nhân lực KH&CN của Trung tâm./

P.T.H

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập

quốc tế, công cuộc công nghiệp hóa,

hiện đại hóa và cuộc Cách mạng công

nghiệp lần thứ 4, những thay đổi và thành tựu của KH&CN đã tác động đến sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị,

Phát triển để thích ứng với bối cảnh mới: Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và Đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngày càng khẳng định được vai trò, vị trí là quốc sách hàng đầu và đã trở thành động lực trực tiếp, là nhân tố quyết định sự tăng trưởng, phát triển của kinh tế - xã hội Qua 35 năm đổi mới đất nước, KH&CN đã từng bước khẳng định vai trò, động lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc

TRUYỀN CẢM HỨNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC DỰA VÀO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Trang 4

tạo ra đột phá rõ rệt trong mọi lĩnh vực của cuộc

sống; đồng thời, cũng tác động lớn đến cách

giao tiếp, trao đổi và tiếp cận thông tin, tri thức

Trong bối cảnh đó, truyền thông KH&CN có sứ

mệnh quan trọng, là một trong những yếu tố

quyết định cho sự phát triển của các quốc gia

cũng như sự tiến bộ của xã hội Ở các nước

có nền KH&CN phát triển, ngoài việc xây dựng

hành lang pháp lý, đầu tư và phát triển các

nguồn lực, công tác truyền thông KH&CN rất

được chú trọng

Ở Việt Nam, trong thập kỷ vừa qua đã nỗ lực

nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và

cơ sở hạ tầng KH&CN, đồng thời tăng cường

hiểu biết, nâng cao nhận thức và sự quan tâm

của công chúng đối với KH&CN và ĐMST Lãnh

đạo Bộ KH&CN qua các thời kỳ đã sớm có

chủ trương phát triển hoạt động truyền thông

KH&CN, trong đó có việc thành lập Trung tâm

Nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN

(STC) vào năm 2008 Đây được coi là điểm

mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển của

hoạt động truyền thông KH&CN ở Việt Nam

Công tác truyền thông KH&CN và ĐMST đã

có những bước chuyển biến lớn, ngày càng

khẳng định được vai trò quan trọng góp phần giới thiệu những thành tựu nổi bật của KH&CN trong nước và thế giới; tham mưu, tư vấn, phản biện cho các chủ trương, chính sách góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước; tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, các quy định của pháp luật về KH&CN đến với Nhân dân, phổ biến tri thức, nâng cao nhận thức của xã hội

về vai trò, vị trí của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng; là cầu nối kết nối giữa cung - cầu công nghệ; góp phần đẩy mạnh ứng dụng KH&CN vào sản xuất và đời sống Đặc biệt, đã hướng đến việc mở rộng văn hóa khoa học, đó là cung cấp các kiến thức

và cơ hội trải nghiệm khoa học, kĩ thuật tiên tiến; truyền cảm hứng, chắp cánh, kết nối tình yêu khoa học giữa các nhà nghiên cứu với thế

hệ trẻ

Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 đã xác định hoạt động tuyên truyền, phổ biến KH&CN là một trong 6 giải pháp chủ yếu Luật KH&CN năm 2013 đã dành riêng một điều (Điều 48) về truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN Tại buổi làm việc với Bộ KH&CN mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính

đã chỉ đạo nhiều nội dung quan trọng ngành KH&CN cần thực hiện, trong đó có nhiệm vụ đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách liên quan đến KH&CN, truyền cảm hứng, tôn vinh trí thức, nhà khoa học Trong thư chúc mừng Ngày KH&CN Việt Nam (18/5/2021), Bộ trưởng Bộ KH&CN Huỳnh Thành Đạt khẳng định: “Công tác truyền thông KH&CN cần trở

Lực lượng các nhà báo, phóng viên đã đóng góp lớn trong việc

chuyển tải thông tin, tri thức KH&CN đến với công chúng

Trang 5

thành cầu nối hữu dụng hơn nữa, đưa tri thức

và tiến bộ KH&CN đến nhanh hơn với quảng

đại quần chúng và đời sống sản xuất, xã hội;

khơi dậy, truyền cảm hứng và khát vọng sáng

tạo trong cộng đồng; góp phần hình thành văn

hóa ĐMST và nuôi dưỡng tình yêu khoa học

trong giới trẻ, giúp tạo ra một xã hội tôn trọng

khoa học và có tư duy sáng tạo vì đây là nhân

tố quan trọng để duy trì một xã hội phát triển

bền vững”

Có thể nói, hơn 10 năm gần đây, hoạt động

truyền thông KH&CN được nhấn mạnh sâu

sắc trong các văn bản, chỉ đạo điều hành và

các diễn đàn KH&CN Đây là kết quả của sự

nỗ lực đưa truyền thông KH&CN vào đúng vị

trí để thực hiện sứ mệnh cầu nối thông tin của

nhiều thế hệ lãnh đạo Bộ KH&CN qua các thời

kỳ; đồng thời, khẳng định hướng đi tất yếu, phù

hợp với xu thế phát triển của xã hội hiện nay

Không thể phủ nhận vai trò của báo chí là

cánh tay nối dài đưa khoa KH&CN đến với công chúng Tuy nhiên, con đường đưa báo chí, truyền thông trở thành cầu nối không dễ dàng, bởi khi tiếp cận lĩnh vực này, đòi hỏi các nhà báo cần có hiểu biết chuyên sâu về KH&CN để chuyển tải những nội dung vốn khô khan trở nên dễ hiểu, hấp dẫn với độc giả Hơn nữa, mạng lưới truyền thông KH&CN còn mỏng, chưa có sự kết nối giữa các tổ chức, địa phương, tiềm lực, nhân lực, nội dung, hình thức truyền thông Đây là một trong những thách thức của truyền thông KH&CN trên con đường thực hiện sứ mệnh của mình Vì lẽ đó, ngành KH&CN cần có một kế hoạch lâu dài cho hoạt động truyền thông KH&CN để truyền thông KH&CN phát huy vai trò quan trọng trong việc công bố kiến thức mới, truyền bá tri thức, phổ biến ra xã hội./

Phan Thu Hương - TTUDKTTT KH&CN Yên Bái Sưu tầm (theo nguồn: https://www.most.gov.vn)

Trong giai đoạn 2016-2020, hệ thống các

chương trình khoa học và công nghệ

trọng điểm cấp quốc gia có 7 chương

trình, bao gồm 6 chương trình thuộc lĩnh vực

khoa học - công nghệ (chương trình KC) và 1

chương trình thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và

nhân văn (chương trình KX.01/16-20)

Trong đó, các chương trình được triển khai

bởi hơn 9.700 cán bộ nghiên cứu, các nhà

khoa học đầu ngành đến từ 155 đơn vị chủ trì, hàng trăm tổ chức trong và ngoài nước phối hợp nghiên cứu với tổng kinh phí 2.145

tỷ đồng (trong đó từ ngân sách nhà nước là 1.533 tỷ đồng)

Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng ngay vào thực tiễn phục vụ cho ngành, địa phương, doanh nghiệp, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; nhiều kết quả có giá trị khoa

HÀNG TRĂM SẢN PHẨM TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Ngày 13/12, Văn phòng các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức Hội nghị tổng kết các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia, giai đoạn 2016 - 2020.

Trang 6

học cao ngang tầm khu vực và quốc tế; góp

phần tích cực cho đào tạo và phát triển nhân

lực khoa học - công nghệ cho đất nước

Đến nay, 97% các nhiệm vụ khoa học và

công nghệ của các chương trình đã được

đánh giá nghiệm thu với 206 nhiệm vụ có kết

quả đạt và 40 nhiệm vụ có kết quả xuất sắc

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ

Trần Văn Tùng nhấn mạnh, nhiều báo cáo kiến

nghị, chắt lọc từ kết quả nghiên cứu của nhiệm

vụ đã được gửi tới các cơ quan, ban, ngành

của Đảng, Chính phủ và Quốc hội Các kết quả

nghiên cứu đã có 469 loại sản phẩm dạng 1;

trong đó, có 103 loại máy móc, 85 loại vật liệu

mới, 31 dây chuyền công nghệ, 136 loại sản

phẩm là hàng hóa có thể tiêu thụ và những sản

phẩm khác như giống cây trồng, chủng nấm…

đã được thương mại hóa hàng trăm tỷ đồng

trong thời gian thực hiện Mặt khác, 384 giải pháp, quy trình công nghệ, 90 cơ sở dữ liệu/

bộ dữ liệu, 60 phần mềm các loại được ứng dụng, triển khai; nhiều phần mềm được triển khai đạt hiệu quả ngay tại các bộ, ngành và địa phương

Tại Hội nghị, các đại biểu đã cùng nhau trình bày tham luận về một số định hướng nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ;

đề xuất mô hình, cơ chế, chính sách phát triển khoa học - công nghệ; trao đổi về những định hướng cho các chương trình giai đoạn tiếp theo về khía cạnh nội dung cũng như công tác quản lý làm cơ sở để Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng chương trình trong giai đoạn tới; đồng thời, góp phần phục vụ xây dựng chiến lược về khoa học và công nghệ của Việt Nam trong những năm tiếp theo./

Các đại biểu tham quan mô hình trình diễn tại Hội nghị.

Thu Hương sưu tầm - theo nguồn báo Nhân Dân

Trang 7

Xuất phát từ chức

năng, nhiệm vụ

là cơ quan tham

mưu cho Ủy ban nhân

dân tỉnh quản lý nhà

nước về khoa học và

công nghệ, bao gồm:

Đào tạo bồi dưỡng

phát triển tiềm lực khoa

học và công nghệ; tiêu

chuẩn, đo lường, chất

lượng; sở hữu trí tuệ,

quản lý và tổ chức thực

hiện các dịch vụ công về

các lĩnh vực thuộc phạm

vi chức năng của ngành

theo quy định của pháp

luật Đồng thời chấp hành sự chỉ đạo, hướng

dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Khoa

học và Công nghệ (KH&CN) Do vậy công tác

CCHC cũng được Sở KH&CN xác định đây là

nhiệm vụ chính trị, góp phần thực hiện thắng

lợi nhiệm vụ được giao

Để đạt được những kết quả tích cực trong

triển khai thực hiện công tác CCHC, trước tiên

phải kể đến là sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo

của tập thể lãnh đạo đơn vị Đặc biệt là người đứng đầu, có vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả công tác CCHC Ngoài ra, yếu tố quyết định sự thành công của công tác CCHC là sự đồng lòng quyết tâm của cán bộ, công chức Sở KH&CN, là hoàn thiện hệ thống thể chế; sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tham mưu, giúp việc trong lĩnh vực CCHC, tiếp nhận, giải quyết hồ sơ về thủ tục hành chính lấy

Nguyễn Vũ Trang Nhung

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái.

Đồng chí Phạm Thị Mai Hương - Phó Giám đốc Sở KH&CN

Trong thời kỳ hội nhập phát triển đất nước hiện nay cải cách hành chính (CCHC) là một trong những nhiệm vụ cấp thiết để thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, lấy Nhân dân làm gốc Đối với tỉnh Yên Bái công tác CCHC cũng được các cấp các ngành thực sự quan tâm, đặc biệt là sự lãnh đạo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh cùng cả hệ thống chính trị vào cuộc,

do vậy đã tạo được sự đồng lòng nhất trí cùng chung tay cải cách hành chính.

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH YÊN BÁI

CHUNG TAY VỚI CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Trang 8

sự hài lòng của tổ chức và công dân làm mục

tiêu để thực hiện công tác CCHC Bên cạnh đó,

công tác phối hợp với các cấp các ngành tạo sự

đồng bộ trong công tác CCHC, kiểm soát chặt

chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính

theo quy định của pháp luật; công khai, minh

bạch 62 thủ tục hành chính (TTHC) trên cổng

dịch vụ công trực tuyến, hằng năm đánh giá

tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường

đối thoại giữa Nhà nước với doanh nghiệp và

Nhân dân; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị

của cá nhân, tổ chức về các quy định hành

chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các

quy định hành chính và cùng giám sát việc thực

hiện TTHC giữa các cơ quan hành chính nhà

nước các cấp Sở KH&CN đã xây dựng và ban

hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo thực hiện sát

với chủ trương, chỉ đạo của Tỉnh

Theo bà Phạm Thị Mai Hương - Phó Giám

đốc Sở KH&CN cho biết “Sở KH&CN đã chỉ

đạo và bám sát những nội dung của Nghị

quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính

phủ ban hành chương trình tổng thể CCHC

nhà nước giai đoạn 2021 - 2030; Kế hoạch số

206/KH-UBND ngày 01/9/2021 của UBND tỉnh

Yên Bái ban hành tổng thể CCHC nhà nước

giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm

2030 trên địa bàn tỉnh Yên Bái và Kế hoạch

số 237/KH-UBND ngày 22/12/2020 của Ủy

ban nhân dân tỉnh Yên Bái về triển khai công

tác CCHC nhà nước năm 2021 trên địa bàn

tỉnh Yên Bái” Theo đó, Sở KH&CN cũng đã

xây dựng Kế hoạch thực hiện công tác CCHC

năm 2021 và chỉ đạo thực hiện, đạt được kết

quả tích cực: Việc rà soát, đánh giá, cập nhật,

bổ sung, hệ thống hóa, việc công bố, công

khai cho các tổ chức, cá nhân về các TTHC,

biểu mẫu hồ sơ, thời gian giải quyết, phí và

lệ phí; việc sắp xếp tổ chức bộ máy của cơ

quan, đơn vị theo hướng tinh gọn, hoạt động

hiệu lực, hiệu quả; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành đạt kết quả khá tốt; chất lượng đội ngũ công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị ngày càng được hoàn thiện và nâng lên; 100% TTHC được công khai, minh bạch trên cổng dịch vụ công trực tuyến, 100% hồ sơ, TTHC tại Trung tâm Phục vụ hành chính công của Tỉnh, đảm bảo trước hạn và đúng hạn, không có hồ sơ giải quyết trễ hẹn, không phải viết thư xin lỗi Bên cạnh đó, Sở KH&CN còn đẩy mạnh cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức 3, mức 4 theo lộ trình, đến nay tỷ lệ số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 phát sinh hồ sơ so với tổng số dịch

vụ công trực tuyến đạt tỷ lệ 50% Ngoài ra, Sở KH&CN còn là cơ quan tham mưu cho Tỉnh hướng dẫn các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện Hệ thống quản

lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 đạt kết quả khá, làm cơ sở cho việc chấm điểm và tự chấm điểm xác định chỉ

số CCHC của tỉnh Yên Bái”

Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác CCHC, Sở KH&CN sẽ tiếp tục bám sát chỉ đạo của Chính phủ, của Tỉnh ủy và UBND tỉnh để ban hành các văn bản chỉ đạo và thực hiện đảm bảo khả thi, thiết thực và hiệu quả công tác CCHC Nhà nước; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị về

ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác CCHC; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác rà soát các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền quản lý của Sở KH&CN để tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới, nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ và tính khả thi Đồng thời kiểm tra, rà soát và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền thực hiện cắt giảm đối với những thủ tục hành chính còn

Trang 9

rườm rà, chồng chéo trên tất cả các lĩnh vực

thuộc thẩm quyền quản lý của Sở KH&CN theo

hướng đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, ít tốn

kém về thời gian Tiếp tục tạo điều kiện thuận

lợi nhất cho các tổ chức, cá nhân tiếp cận hồ

sơ và đơn vị cĩ thẩm quyền giải quyết Đẩy

mạnh việc đưa các TTHC của Sở KH&CN lên

mức độ 3, mức độ 4 theo đúng lộ trình; đồng

thời tiếp tục thực hiện tiếp nhận, thẩm định,

phê duyệt, trả kết quả tại chỗ; đẩy mạnh việc

giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính cơng

ích Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính,

đạo đức cơng vụ trong đội ngũ cán bộ, cơng chức của cơ quan, đơn vị gắn với động viên, khuyến khích cán bộ, cơng chức, viên chức hồn thành tốt nhiệm vụ Đẩy mạnh cơng tác

tự kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ CCHC Tăng cường cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên mơn nghiệp

vụ, kỹ năng cho đội ngũ cơng chức trực tiếp tham mưu, thực hiện nhiệm vụ CCHC của Sở KH&CN để đảm bảo đội ngũ ngày càng chuyên nghiệp, năng động “vừa hồng, vừa chuyên”./

N.V.T.N

KẾT QUẢ KIỂM TRA CÔNG TÁC PHÁP CHẾ

CỦA SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2019-2021.

Qua kiểm tra, Sở KH&CN được đánh giá

là một trong những đơn vị thực hiện

tốt nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức

pháp chế theo quy định tại Điều 6 Nghị định số

55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế Kết quả

nổi bật là cơng tác xây dựng văn bản quy phạm

pháp luật; cơng tác phổ biến, giáo dục pháp luật

và thi hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành

chính, cụ thể:

Về cơng tác phổ biến, giáo dục pháp luật:

Từ năm 2019 đến nay, Sở KH&CN đã tổ chức

27 Hội nghị chuyên đề và lồng ghép việc tuyên

truyền, phổ biến các quy định của pháp luật thuộc lĩnh vực: An tồn bức xạ hạt nhân; sở hữu trí tuệ; hoạt động KH&CN; tiêu chuẩn đo lường chất lượng; khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, quản

lý nhiệm vụ khoa học; chuyển giao cơng nghệ

và Cuộc cách mạng cơng nghệ 4.0; quản lý hệ thống chất lượng ISO 2001: 2015… với tổng số 1.065 người tham dự Đối tượng tham dự Hội nghị là cán bộ, cơng chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ về lĩnh vực KH&CN; các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Yên Bái Bên cạnh đĩ, để nâng cao cơng tác tuyên truyền pháp luật, các phịng chuyên mơn đã biên tập, in ấn và phát hành

Nằm trong Kế hoạch số 07/KH-UBND ngày 13/01/2021 về tổ chức thực hiện cơng tác pháp chế năm 2021 trên địa bàn tỉnh Yên Bái, vừa qua Sở Tư pháp đã tiến hành kiểm tra cơng tác pháp chế các cơ quan chuyên mơn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, trong đĩ cĩ Sở Khoa học và Cơng nghệ (KH&CN).

Nguyễn Giang

Sở Khoa học và Cơng nghệ tỉnh Yên Bái.

Trang 10

2.770 tờ rơi phục vụ công tác tuyên truyền, phổ

biến, giáo dục pháp luật về đo lường đối với

phép đo khối lượng trong thương mại bán lẻ và

hỗ trợ thực hiện kiểm định cân đối chứng, về

đo lường, chất lượng, ghi nhãn hàng hóa trong

kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng đối với các cửa

hàng bán lẻ LPG chai trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi

phạm hành chính: Sở KH&CN đã tổ chức thực

hiện 08 cuộc thanh tra chuyên ngành đối với

177 cơ sở trên các lĩnh vực: Tiêu chuẩn, đo

lường và chất lượng, nhãn hàng hóa đối với

các tổ chức và cá nhân kinh doanh xăng dầu,

khí dầu mỏ hóa lỏng, điện, điện tử, vàng trang

sức mỹ nghệ; đo lường và an toàn bức xạ trong

hoạt động chẩn đoán, khám và chữa bệnh…

Cùng với đó, Sở KH&CN đã triển khai 08 cuộc

kiểm tra đối với 109 cơ sở, kiểm tra về công tác

quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận đối

với sản phẩm chè mang nhãn hiệu chứng nhận Suối Giàng - Yên Bái; các cơ sở kinh doanh mũ bảo hiểm dùng cho người đi mô tô, xe máy; đồ chơi trẻ em

Kết thúc thời gian kiểm tra, Đoàn công tác của Sở Tư pháp đã đánh giá cao công tác pháp chế của Sở KH&CN Để có được kết quả trên, trong những năm qua Lãnh đạo Sở KH&CN luôn chú trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ Tăng cường công tác quản lý, phối hợp thực hiện hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế; thường xuyên đào tạo nâng cao kiến thức về pháp luật cho đội ngũ công chức, viên chức trong toàn ngành để

áp dụng triển khai việc thực thi pháp luật trong từng lĩnh vực chuyên môn của ngành đạt hiệu quả và đảm bảo đúng quy định./

Buổi làm việc với Đoàn kiểm tra

N.G

Trang 11

KẾT QUẢ KIỂM TRA “XÂY DỰNG, ÁP DỤNG, DUY TRÌ VÀ CẢI TIẾN HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THEO TIÊU CHUẨN TCVN ISO 9001:2015” CỦA CÁC

CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TỈNH YÊN BÁI NĂM 2021

Sở KH&CN đã tiến hành kiểm tra việc

xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến

HTQLCL theo tiêu chuẩn TCVN ISO

9001:2015 của các cơ quan HCNN tỉnh Yên

Bái năm 2021 tại 52 cơ quan, đơn vị (trong

đó: 05 sở, ban, ngành và 05 chi cục; 04 huyện

và 38 xã thuộc các huyện: Mù Cang Chải, Lục

Yên, Yên Bình và Văn Chấn) Kiểm tra gián

tiếp trên trang thông tin điện tử iso.yenbai.gov

vn đối với 161 cơ quan HCNN (Trong đó: 26

cơ quan HCNN cấp tỉnh, cấp huyện và 135 xã,

phường và thị trấn)

Qua kiểm tra trực tiếp 52 đơn vị cho thấy,

các cơ quan đã triển khai tốt hoạt động xây

dựng áp dụng, duy trì và cải tiến HTQLCL theo

tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 Đã kịp thời

kiện toàn lại Ban chỉ đạo ISO Có 50/52 cơ

quan HCNN đã xây dựng, áp dụng vào thực

tế đầy đủ các Quy trình HTQLCL theo Quyết

định 101/QĐ-BKHCN ngày 21/01/2019 của

Bộ KH&CN và 100% thủ tục hành chính được

UBND tỉnh công bố, thuộc phạm vi giải quyết

của đơn vị; 50/52 đơn vị đã đăng tải tài liệu

HTQLCL theo TCVN ISO 9001:2015 lên Trang

thông tin điện tử iso.yenbai.gov.vn Tuy nhiên,

vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục sau kiểm

tra ở một số đơn vị đó là: Việc thực hiện rà

soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật;

hồ sơ xử lý vẫn còn lưu thừa hoặc lưu thiếu, chưa bổ sung quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính vào quy trình ISO; việc đánh giá nội bộ còn chưa đầy đủ theo hướng dẫn, nội dung thực hiện đánh giá nội bộ còn chung chung, chưa đúng với thực tế, trong quá trình kiểm tra chéo giữa các bộ phận chưa theo hướng dẫn; một số cơ quan việc sắp xếp hồ

sơ, ghi các thông tin trên nhãn hồ sơ, tài liệu chưa đầy đủ các thông tin cần thiết để dễ nhìn,

dễ thấy, dễ lấy, dễ sử dụng

Kết quả kiểm tra gián tiếp trên Trang thông tin điện tử iso.yenbai.gov.vn, đối với 26 cơ quan HCNN cấp tỉnh, cấp huyện và 153 xã, phường, thị trấn cho thấy: Các đơn vị đã ban hành kế hoạch, mục tiêu chất lượng năm 2021; kiện toàn Ban chỉ đạo ISO; cập nhật các thay đổi văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xử lý công việc vào HTQLCL; rà soát, chỉnh sửa lại các quy trình HTQLCL đảm bảo 100% thủ tục hành chính đã được UBND tỉnh phê duyệt và đưa vào áp dụng tại cơ quan; thực hiện đánh giá nội bộ, khắc phục những điểm không phù hợp; thực hiện công bố lại HTQLCL theo quy định khi có sự điều chỉnh Tuy nhiên còn một số đơn vị hồ sơ đánh giá

Thực hiện Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg ngày 05/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ

về việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL) theo TCVN ISO 9001:2008 (nay là TCVN ISO 9001:2015) vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước (HCNN).

Nguyễn Thu Hằng

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái.

Trang 12

Tại đây, đồng chí Vũ Xuân Hợi, Bí thư

Đảng ủy, Giám đốc Sở KH&CN, các đồng

chí trong Ban Giám đốc và cán bộ công

chức, viên chức Sở KH&CN đã cùng với Lãnh

đạo chủ chốt xã Khánh Hòa đến thăm một số

hộ nghèo trên địa bàn xã và hướng dẫn bà con thôn Làng Nộc, áp dụng các quy trình kỹ thuật nuôi trồng nấm mộc nhĩ trên giá thể mùn cưa Đây là một trong những nội dung của nhiệm vụ

“Tập huấn, tuyên truyền, phổ biến và chuyển

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THAM GIA “NGÀY THỨ BẢY CÙNG DÂN”

TẠI XÃ KHÁNH HÒA, HUYỆN LỤC YÊN

Xuất phát từ mục đích gắn kết chặt chẽ mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và Nhân dân, tuyên truyền, vận động Nhân dân tích cực tham gia các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội Hưởng ứng phong trào “Ngày thứ bảy cùng dân” Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái đã phối hợp với Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Khánh Hòa, huyện Lục Yên thực hiện hiệu quả ngày thứ bảy cùng dân trong chuyển giao kỹ thuật xây dựng mô hình trồng nấm tại một số gia đình thuộc diện khó khăn tại thôn Làng Nộc, xã Khánh Hòa.

Hoàng Minh Tuân

Trung tâm Ứng dụng, Kỹ thuật, Thông tin KH&CN Yên Bái

nội bộ còn chưa đúng theo hướng dẫn, việc

đăng tải tài liệu lên trang ISO còn thiếu

Căn cứ vào các tài liệu kiểm chứng, Sở

KH&CN đã tiến hành đánh giá, xếp loại chấm

điểm việc xây dựng, áp dụng HTQLCL theo

TCVN ISO 9001:2015 đối với 40 cơ quan

HCNN trên địa bàn tỉnh Yên Bái theo quy

định tại Quyết định số 1628/QĐ-UBND ngày

26/8/2019 của UBND tỉnh Yên Bái Qua công

tác kiểm tra đã định lượng được việc chỉ đạo,

điều hành của các đơn vị có nhiều chuyển biến

tích cực, nhất là trong việc ban hành kế hoạch

xây dựng, áp dụng, duy trì, mục tiêu chất lượng,

chính sách chất lượng ngay từ đầu năm, với

kết quả đầu ra rõ ràng, cụ thể Bên cạnh kết

quả đạt được, vẫn còn một số cơ quan, đơn vị

do chưa quen với cách tiếp cận và giải quyết

công việc theo quy trình, nên việc xây dựng

và áp dụng HTQLCL chưa thực sự gắn kết

với hoạt động cải cách hành chính, hiệu quả

chưa cao; các văn bản quy phạm pháp luật

liên quan đến hoạt động chuyên môn thường

xuyên thay đổi cũng gây phức tạp trong việc xác định phạm vi, đối tượng xây dựng, áp dụng HTQLCL, việc đánh giá nội bộ trong quá trình kiểm tra chéo giữa các bộ phận còn chưa theo hướng dẫn… Đây là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng triển khai xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến HTQLCL tại một số các

cơ quan, đơn vị

Có thể nói, công tác kiểm tra xây dựng,

áp dụng, duy trì và cải tiến HTQLCL theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 của các cơ quan HCNN trên địa bàn tỉnh, đã đảm bảo việc duy trì và cải tiến HTQLCL theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 tại các cơ quan, đơn

vị đúng theo các quy định của Chính phủ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính; nâng cao ý thức, trách nhiệm của từng cán bộ, công chức làm việc theo hướng chuyên nghiệp, tiến tới một nền hành chính hiện đại./

N.T.H

Trang 13

giao thành tựu KH&CN trên địa bàn tỉnh Yên

Bái” năm 2021

Hoạt động này không chỉ là gần gũi, thấu

hiểu đời sống của Nhân dân, mà còn mở ra

cho người dân địa phương một hướng đi mới

trong phát triển kinh tế, giúp người dân có thêm

những kiến thức về khoa học kỹ thuật, mạnh

dạn áp dụng vào sản xuất để tạo nên giá trị kinh

tế cao trên một đơn vị diện tích Với phương

pháp xây dựng mô hình điểm trong xã, để người

dân tham quan học tập, có cơ hội thực hành các

biện pháp kỹ thuật trên thực tế, để áp dụng tại

mỗi gia đình là hướng đến trao những giá trị bền

vững, dài lâu cho người dân, giúp các hộ nghèo

có thêm động lực vươn lên trong phát triển kinh

tế từ chính kiến thức của mình

Cùng với đó, Sở KH&CN đã chỉ đạo Trung

tâm Ứng dụng, Kỹ thuật, Thông tin KH&CN, tiếp

tục chủ trì thực hiện các nội dung của nhiệm

vụ “Tập huấn, tuyên truyền, phổ biến và chuyển giao thành tựu KH&CN trên địa bàn tỉnh Yên Báí” năm 2021 tại xã Khánh Hòa bao gồm: Tổ chức lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi trồng một

số loại nấm ăn và nấm dược liệu; lựa chọn các

hộ dân tham gia xây dựng mô hình điểm trong nuôi trồng nấm Mộc nhĩ với quy mô 10.000 bịch nuôi trồng; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo điều kiện để nuôi trồng nấm; cử cán bộ kỹ thuật thường xuyên có mặt tại cơ sở để hướng dẫn bà con theo hình thức “Cầm tay chỉ việc” nhằm giúp bà con trong xã nắm vững được quy trình kỹ thuật, xác định được ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất, chủ động điều chỉnh để năng xuất chất lượng sản phẩm tốt hơn trong thời gian tới./

H.M.T

Đồng chí Vũ Xuân Hợi tham gia treo bịch nấm cùng với người dân thôn Làng Nộc, xã Khánh Hòa

Trang 14

Đoàn kiểm tra việc ghi nhãn hàng hóa trên sản phẩm vàng, vàng trang sức mỹ nghệ

Với quyết tâm thực hiện hiệu quả mục

tiêu kép “Vừa chống dịch, vừa phát

triển kinh tế” của Chính phủ Thanh

tra sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái

(KH&CN) đã tiến hành 03/04 cuộc thanh tra

chuyên ngành theo Quyết định số

176/QĐ-SKHCN ngày 11/12/2020 của Giám đốc sở KH&CN về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2021, bao gồm: Thanh tra về tiêu chuẩn,

đo lường, chất lượng (TCĐLCL) và nhãn hàng hóa trong sản xuất, kinh doanh vàng, vàng trang sức, mỹ nghệ; thanh tra chuyên ngành

THỰC HIỆN HIỆU QUẢ “MỤC TIÊU KÉP”

TRONG THANH TRA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Anh Thúy

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái.

Năm 2021, là một năm tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp, khó lường gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và mọi hoạt động về sản xuất kinh doanh trên cả nước nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng

Ngày đăng: 01/05/2022, 13:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Các đại biểu tham quan mơ hình trình diễn tại Hội nghị. - Ruot BT So KH So 4
c đại biểu tham quan mơ hình trình diễn tại Hội nghị (Trang 6)
Năm 2021, là một năm tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp, khĩ lường gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và mọi hoạt động về sản xuất kinh  doanh trên cả nước nĩi chung và tỉnh Yên Bái nĩi riêng - Ruot BT So KH So 4
m 2021, là một năm tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp, khĩ lường gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và mọi hoạt động về sản xuất kinh doanh trên cả nước nĩi chung và tỉnh Yên Bái nĩi riêng (Trang 14)
Mơ hình sản xuất rau an tồn theo tiêu chuẩn VietGap tại huyện Trấn Yên. - Ruot BT So KH So 4
h ình sản xuất rau an tồn theo tiêu chuẩn VietGap tại huyện Trấn Yên (Trang 18)
phẩm mang CDĐL Chè Shan Phình Hồ trên địa bàn huyện Trạm Tấu... - Ruot BT So KH So 4
ph ẩm mang CDĐL Chè Shan Phình Hồ trên địa bàn huyện Trạm Tấu (Trang 23)
Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Yên Bái - Ruot BT So KH So 4
i Phát thanh - Truyền hình tỉnh Yên Bái (Trang 24)
Mơ hình nuơi trồng nấm Linh chi từ nguyên liệu ngọn, cành cây keo của Trạm nghiên cứu thực nghiệm - xã Minh Bảo - Ruot BT So KH So 4
h ình nuơi trồng nấm Linh chi từ nguyên liệu ngọn, cành cây keo của Trạm nghiên cứu thực nghiệm - xã Minh Bảo (Trang 27)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w