NHÖÕNG VAÁN ÑEÀ CHUNG Baûn tin Khoa hoïc & Coâng ngheä Soá 04/2021 1 Hội nghị tổ chức nhằm đánh giá, tổng kết hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ địa phương năm 2021; triển khai các văn bản, cơ[.]
Trang 1Hội nghị tổ chức nhằm đánh giá, tổng kết
hoạt động ứng dụng, chuyển giao cơng
nghệ địa phương năm 2021; triển khai
các văn bản, cơ chế, chính sách liên quan đến
hoạt động ứng dụng, chuyển giao cơng nghệ và
cơ chế tự chủ của Trung tâm; chia sẻ, trao đổi
kinh nghiệm tăng cường năng lực chuyển giao,
đổi mới cơng nghệ cho các Trung tâm; một số kết quả ứng dụng cơng nghệ cao vào sản xuất sản phẩm nơng nghiệp; liên kết nghiên cứu chuyển giao cơng nghệ phục vụ cơng tác phịng chống dịch bệnh COVID-19 Đồng thời tăng cường thúc đẩy hoạt động ứng dụng, chuyển giao, đổi mới cơng nghệ tại địa phương
HỘI NGHỊ VỀ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG, CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ ĐỊA PHƯƠNG NĂM 2021
Phan Thu Hương
Trung tâm Ứng dụng, Kỹ thuật, Thơng tin KH&CN Yên Bái
Chiều ngày 08/12/2021, Bộ Khoa học và Cơng nghệ tổ chức Hội nghị về hoạt động ứng dụng, chuyển giao cơng nghệ địa phương năm 2021, Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến Điểm cầu chính tại trụ sở Bộ Khoa học và Cơng nghệ (KH&CN), số 113 Trần Duy Hưng, Trung Hịa, Cầu Giấy, Hà Nội tổ chức theo hình thức trực tiếp, 150 điểm cầu được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại: Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các Trung tâm cĩ chức năng ứng dụng và chuyển giao cơng nghệ; một số viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp.
Tồn cảnh Hội nghị trực tuyến tại điểm cầu Yên Bái.
Trang 2Phát biểu tại Hội nghị đồng chí Trần Văn
Tùng, Thứ trưởng Bộ KH&CN đánh giá cao
hoạt động của các Trung tâm Ứng dụng tiến
bộ KH&CN trong thời gian qua, có vai trò quan
trọng trong hoạt động tiếp nhận, đánh giá, lựa
chọn, cầu nối và ứng dụng, chuyển giao các tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất theo đặc thù của địa
phương, phục vụ đời sống dân sinh, chủ động
dịch chuyển và tăng cường hỗ trợ các doanh
nghiệp trong hoạt động ứng dụng, đổi mới công
nghệ, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương, tạo được uy tín cho
ngành KH&CN
Theo đó, đồng chí Tạ Việt Dũng, Cục trưởng
Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ đã tổng
hợp tình hình hoạt động của các Trung tâm
trong năm 2020 - 2021, đó là: Các trung tâm đã
và đang thực hiện 192 nhiệm vụ KH&CN thuộc
các lĩnh vực nông nghiệp, an toàn bức xạ, năng
lượng, công nghệ sinh học, công nghệ thực
phẩm, công nghệ thông tin, xử lý môi trường,
vật liệu xây dựng, sở hữu trí tuệ , với tổng kinh
phí 107 tỷ đồng (Trong đó có 20% là nhiệm vụ
KH&CN cấp Bộ, cấp quốc gia, 43% nhiệm vụ
cấp cơ sở, 37% nhiệm vụ cấp tỉnh) Cũng trong
giai đoạn này các Trung tâm đã làm chủ được
290 công nghệ, xây dựng được 161 mô hình
ứng dụng KH&CN với tổng kinh phí là 39 tỷ đồng
Đặc biệt, năm 2020 và 2021, trước tình hình
dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, để thích ứng
linh hoạt với những khó khăn trong hoạt động,
các Trung tâm đã chủ động hỗ trợ phòng, chống
dịch COVID-19 thông qua các hoạt động nghiên
cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ đem lại
hiệu quả thiết thực trong công tác phòng, chống
dịch COVID-19 tại các địa phương Điển hình,
Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN tỉnh Nghệ
An phối hợp triển khai nhiệm vụ “Nghiên cứu
thiết kế lắp đặt buồng khử khuẩn di động phục
vụ công tác tiệt trùng cho người và vật tại các
công sở, bệnh viện, trường học, nhà ga”; Trung
tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN thành phố Cần
Thơ liên kết thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu chế tạo hệ thống phát hiện nhanh để sàng lọc chủng virus corona mới (2019-nCoV)”; Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN tỉnh Quảng Ninh phối hợp nghiên cứu sản xuất máy phun khử khuẩn phòng, chống dịch COVID-19 các nhiệm vụ đều mang lại hiệu quả thiết thực trong phòng, chống dịch bệnh COV19
Cũng tại Hội nghị, đồng chí Tạ Việt Dũng chia sẻ về một số khó khăn của các Trung tâm trong triển khai hoạt động ứng dụng chuyển giao, thực hiện cơ chế tự chủ Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực và tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các Trung tâm đó là:
Thứ nhất: Tiếp tục đào tạo, tập huấn nhân
lực cho các Trung tâm để đảm bảo đủ nguồn lực tư vấn, hỗ trợ cho doanh nghiệp trong hoạt động đổi mới công nghệ và tiếp nhận chuyển giao công nghệ Bởi nguồn nhân lực của các Trung tâm còn hạn chế về kỹ năng về công nghệ và chuyển giao công nghệ, nhất là những lĩnh vực chuyên ngành, chuyên sâu Do đó cần thiết kế chương trình, chuyên gia theo dạng chuyên ngành, chuyên sâu cho từng vùng, từng nhóm Trung tâm tương đồng để nâng cao năng lực, tiếp thu và chuyển giao các tiến bộ KH&CN phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Thứ hai: Tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng
cho các Trung tâm đảm bảo các Trung tâm có đủ điều kiện để tư vấn, trình diễn các mô hình công nghệ mới, công nghệ tiên tiến cho doanh nghiệp
Thứ ba: Xây dựng cơ sở dữ liệu về công
nghệ, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp
và thường xuyên cung cấp thông tin, cập nhật các thông tin, dữ liệu, công nghệ mới hỗ trợ các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm kiếm và lựa chọn công nghệ
Thứ tư: Việc chủ động tiếp cận doanh nghiệp
để tư vấn, hỗ trợ trong ứng dụng, chuyển giao công nghệ và đổi mới công nghệ; khai thác hiệu quả trang thông tin điện tử của Trung tâm để
Trang 3quảng bá, trao đổi về các công nghệ, sản phẩm
của các Trung tâm sẵn sàng chuyển giao và
thương mại hóa
Thứ năm: Về vấn đề hợp tác, liên kết hình
thành mạng lưới giữa các Trung tâm, liên kết
phát triển theo chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng:
Ở một số vùng, các Trung tâm chưa xây dựng
được kế hoạch hợp tác, liên kết hợp tác định kỳ
giao lưu nhằm giới thiệu, khai thác thế mạnh lẫn
nhau, hỗ trợ và liên kết nghiên cứu ứng dụng
các thành quả nghiên cứu lẫn nhau
Theo ông Tạ Việt Dũng, để phát huy hiệu
quả tự chủ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ
phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực ứng
dụng, phát triển công nghệ và đổi mới công
nghệ, hệ thống Trung tâm cần tập trung một
số nhiệm vụ trọng tâm: Tập trung tham mưu và
triển khai hoạt động phục vụ quản lý nhà nước
trong lĩnh vực ứng dụng, phát triển công nghệ,
đổi mới công nghệ và đổi mới sáng tạo tại địa
phương Cùng với đó là đẩy mạnh việc tư vấn,
hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ và đổi
mới công nghệ cho doanh nghiệp, hình thành
mối liên kết với doanh nghiệp Tiếp theo là tăng
cường hoạt động và hình thành liên kết mạng
lưới giữa các Trung tâm với các viện, trường để
khai thác thế mạnh, hỗ trợ và liên kết nghiên cứu ứng dụng các thành quả nghiên cứu Ứng dụng
và khai thác hiệu quả trang thông tin điện tử của mạng lưới các Trung tâm để quảng bá, giới thiệu công nghệ, sản phẩm của Trung tâm sẵn sàng chuyển giao, nhất là quan tâm đầu tư ứng dụng nền tảng công nghệ thông tin để phát triển các kênh giao dịch thương mại điện tử đối với các sản phẩm công nghệ của Trung tâm, thích ứng linh hoạt với điều kiện dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp trong thời gian qua
và phù hợp với xu thế thương mại điện tử trên toàn cầu Đồng thời, thường xuyên tổ chức các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, khảo sát thực tế; tổ chức hội thảo, hội nghị phổ biến, hướng dẫn về các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động ứng dụng, đổi mới và chuyển giao công nghệ, đồng thời giới thiệu mô hình ứng dụng, chuyển giao công nghệ thành công để các Trung tâm chia sẻ, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Liên kết với các viện, trường và các chuyên gia độc lập để cùng hợp tác nghiên cứu gắn với hoạt động đào tạo, phát triển nguồn nhân lực KH&CN của Trung tâm./
P.T.H
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế, công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ 4, những thay đổi và thành tựu của KH&CN đã tác động đến sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị,
Phát triển để thích ứng với bối cảnh mới: Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và Đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngày càng khẳng định được vai trò, vị trí là quốc sách hàng đầu và đã trở thành động lực trực tiếp, là nhân tố quyết định sự tăng trưởng, phát triển của kinh tế - xã hội Qua 35 năm đổi mới đất nước, KH&CN đã từng bước khẳng định vai trò, động lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc
TRUYỀN CẢM HỨNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC DỰA VÀO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Trang 4tạo ra đột phá rõ rệt trong mọi lĩnh vực của cuộc
sống; đồng thời, cũng tác động lớn đến cách
giao tiếp, trao đổi và tiếp cận thông tin, tri thức
Trong bối cảnh đó, truyền thông KH&CN có sứ
mệnh quan trọng, là một trong những yếu tố
quyết định cho sự phát triển của các quốc gia
cũng như sự tiến bộ của xã hội Ở các nước
có nền KH&CN phát triển, ngoài việc xây dựng
hành lang pháp lý, đầu tư và phát triển các
nguồn lực, công tác truyền thông KH&CN rất
được chú trọng
Ở Việt Nam, trong thập kỷ vừa qua đã nỗ lực
nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và
cơ sở hạ tầng KH&CN, đồng thời tăng cường
hiểu biết, nâng cao nhận thức và sự quan tâm
của công chúng đối với KH&CN và ĐMST Lãnh
đạo Bộ KH&CN qua các thời kỳ đã sớm có
chủ trương phát triển hoạt động truyền thông
KH&CN, trong đó có việc thành lập Trung tâm
Nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN
(STC) vào năm 2008 Đây được coi là điểm
mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển của
hoạt động truyền thông KH&CN ở Việt Nam
Công tác truyền thông KH&CN và ĐMST đã
có những bước chuyển biến lớn, ngày càng
khẳng định được vai trò quan trọng góp phần giới thiệu những thành tựu nổi bật của KH&CN trong nước và thế giới; tham mưu, tư vấn, phản biện cho các chủ trương, chính sách góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước; tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, các quy định của pháp luật về KH&CN đến với Nhân dân, phổ biến tri thức, nâng cao nhận thức của xã hội
về vai trò, vị trí của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng; là cầu nối kết nối giữa cung - cầu công nghệ; góp phần đẩy mạnh ứng dụng KH&CN vào sản xuất và đời sống Đặc biệt, đã hướng đến việc mở rộng văn hóa khoa học, đó là cung cấp các kiến thức
và cơ hội trải nghiệm khoa học, kĩ thuật tiên tiến; truyền cảm hứng, chắp cánh, kết nối tình yêu khoa học giữa các nhà nghiên cứu với thế
hệ trẻ
Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 đã xác định hoạt động tuyên truyền, phổ biến KH&CN là một trong 6 giải pháp chủ yếu Luật KH&CN năm 2013 đã dành riêng một điều (Điều 48) về truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN Tại buổi làm việc với Bộ KH&CN mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính
đã chỉ đạo nhiều nội dung quan trọng ngành KH&CN cần thực hiện, trong đó có nhiệm vụ đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách liên quan đến KH&CN, truyền cảm hứng, tôn vinh trí thức, nhà khoa học Trong thư chúc mừng Ngày KH&CN Việt Nam (18/5/2021), Bộ trưởng Bộ KH&CN Huỳnh Thành Đạt khẳng định: “Công tác truyền thông KH&CN cần trở
Lực lượng các nhà báo, phóng viên đã đóng góp lớn trong việc
chuyển tải thông tin, tri thức KH&CN đến với công chúng
Trang 5thành cầu nối hữu dụng hơn nữa, đưa tri thức
và tiến bộ KH&CN đến nhanh hơn với quảng
đại quần chúng và đời sống sản xuất, xã hội;
khơi dậy, truyền cảm hứng và khát vọng sáng
tạo trong cộng đồng; góp phần hình thành văn
hóa ĐMST và nuôi dưỡng tình yêu khoa học
trong giới trẻ, giúp tạo ra một xã hội tôn trọng
khoa học và có tư duy sáng tạo vì đây là nhân
tố quan trọng để duy trì một xã hội phát triển
bền vững”
Có thể nói, hơn 10 năm gần đây, hoạt động
truyền thông KH&CN được nhấn mạnh sâu
sắc trong các văn bản, chỉ đạo điều hành và
các diễn đàn KH&CN Đây là kết quả của sự
nỗ lực đưa truyền thông KH&CN vào đúng vị
trí để thực hiện sứ mệnh cầu nối thông tin của
nhiều thế hệ lãnh đạo Bộ KH&CN qua các thời
kỳ; đồng thời, khẳng định hướng đi tất yếu, phù
hợp với xu thế phát triển của xã hội hiện nay
Không thể phủ nhận vai trò của báo chí là
cánh tay nối dài đưa khoa KH&CN đến với công chúng Tuy nhiên, con đường đưa báo chí, truyền thông trở thành cầu nối không dễ dàng, bởi khi tiếp cận lĩnh vực này, đòi hỏi các nhà báo cần có hiểu biết chuyên sâu về KH&CN để chuyển tải những nội dung vốn khô khan trở nên dễ hiểu, hấp dẫn với độc giả Hơn nữa, mạng lưới truyền thông KH&CN còn mỏng, chưa có sự kết nối giữa các tổ chức, địa phương, tiềm lực, nhân lực, nội dung, hình thức truyền thông Đây là một trong những thách thức của truyền thông KH&CN trên con đường thực hiện sứ mệnh của mình Vì lẽ đó, ngành KH&CN cần có một kế hoạch lâu dài cho hoạt động truyền thông KH&CN để truyền thông KH&CN phát huy vai trò quan trọng trong việc công bố kiến thức mới, truyền bá tri thức, phổ biến ra xã hội./
Phan Thu Hương - TTUDKTTT KH&CN Yên Bái Sưu tầm (theo nguồn: https://www.most.gov.vn)
Trong giai đoạn 2016-2020, hệ thống các
chương trình khoa học và công nghệ
trọng điểm cấp quốc gia có 7 chương
trình, bao gồm 6 chương trình thuộc lĩnh vực
khoa học - công nghệ (chương trình KC) và 1
chương trình thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và
nhân văn (chương trình KX.01/16-20)
Trong đó, các chương trình được triển khai
bởi hơn 9.700 cán bộ nghiên cứu, các nhà
khoa học đầu ngành đến từ 155 đơn vị chủ trì, hàng trăm tổ chức trong và ngoài nước phối hợp nghiên cứu với tổng kinh phí 2.145
tỷ đồng (trong đó từ ngân sách nhà nước là 1.533 tỷ đồng)
Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng ngay vào thực tiễn phục vụ cho ngành, địa phương, doanh nghiệp, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; nhiều kết quả có giá trị khoa
HÀNG TRĂM SẢN PHẨM TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Ngày 13/12, Văn phòng các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức Hội nghị tổng kết các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia, giai đoạn 2016 - 2020.
Trang 6học cao ngang tầm khu vực và quốc tế; góp
phần tích cực cho đào tạo và phát triển nhân
lực khoa học - công nghệ cho đất nước
Đến nay, 97% các nhiệm vụ khoa học và
công nghệ của các chương trình đã được
đánh giá nghiệm thu với 206 nhiệm vụ có kết
quả đạt và 40 nhiệm vụ có kết quả xuất sắc
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
Trần Văn Tùng nhấn mạnh, nhiều báo cáo kiến
nghị, chắt lọc từ kết quả nghiên cứu của nhiệm
vụ đã được gửi tới các cơ quan, ban, ngành
của Đảng, Chính phủ và Quốc hội Các kết quả
nghiên cứu đã có 469 loại sản phẩm dạng 1;
trong đó, có 103 loại máy móc, 85 loại vật liệu
mới, 31 dây chuyền công nghệ, 136 loại sản
phẩm là hàng hóa có thể tiêu thụ và những sản
phẩm khác như giống cây trồng, chủng nấm…
đã được thương mại hóa hàng trăm tỷ đồng
trong thời gian thực hiện Mặt khác, 384 giải pháp, quy trình công nghệ, 90 cơ sở dữ liệu/
bộ dữ liệu, 60 phần mềm các loại được ứng dụng, triển khai; nhiều phần mềm được triển khai đạt hiệu quả ngay tại các bộ, ngành và địa phương
Tại Hội nghị, các đại biểu đã cùng nhau trình bày tham luận về một số định hướng nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ;
đề xuất mô hình, cơ chế, chính sách phát triển khoa học - công nghệ; trao đổi về những định hướng cho các chương trình giai đoạn tiếp theo về khía cạnh nội dung cũng như công tác quản lý làm cơ sở để Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng chương trình trong giai đoạn tới; đồng thời, góp phần phục vụ xây dựng chiến lược về khoa học và công nghệ của Việt Nam trong những năm tiếp theo./
Các đại biểu tham quan mô hình trình diễn tại Hội nghị.
Thu Hương sưu tầm - theo nguồn báo Nhân Dân
Trang 7Xuất phát từ chức
năng, nhiệm vụ
là cơ quan tham
mưu cho Ủy ban nhân
dân tỉnh quản lý nhà
nước về khoa học và
công nghệ, bao gồm:
Đào tạo bồi dưỡng
phát triển tiềm lực khoa
học và công nghệ; tiêu
chuẩn, đo lường, chất
lượng; sở hữu trí tuệ,
quản lý và tổ chức thực
hiện các dịch vụ công về
các lĩnh vực thuộc phạm
vi chức năng của ngành
theo quy định của pháp
luật Đồng thời chấp hành sự chỉ đạo, hướng
dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Khoa
học và Công nghệ (KH&CN) Do vậy công tác
CCHC cũng được Sở KH&CN xác định đây là
nhiệm vụ chính trị, góp phần thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ được giao
Để đạt được những kết quả tích cực trong
triển khai thực hiện công tác CCHC, trước tiên
phải kể đến là sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo
của tập thể lãnh đạo đơn vị Đặc biệt là người đứng đầu, có vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả công tác CCHC Ngoài ra, yếu tố quyết định sự thành công của công tác CCHC là sự đồng lòng quyết tâm của cán bộ, công chức Sở KH&CN, là hoàn thiện hệ thống thể chế; sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tham mưu, giúp việc trong lĩnh vực CCHC, tiếp nhận, giải quyết hồ sơ về thủ tục hành chính lấy
Nguyễn Vũ Trang Nhung
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái.
Đồng chí Phạm Thị Mai Hương - Phó Giám đốc Sở KH&CN
Trong thời kỳ hội nhập phát triển đất nước hiện nay cải cách hành chính (CCHC) là một trong những nhiệm vụ cấp thiết để thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, lấy Nhân dân làm gốc Đối với tỉnh Yên Bái công tác CCHC cũng được các cấp các ngành thực sự quan tâm, đặc biệt là sự lãnh đạo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh cùng cả hệ thống chính trị vào cuộc,
do vậy đã tạo được sự đồng lòng nhất trí cùng chung tay cải cách hành chính.
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH YÊN BÁI
CHUNG TAY VỚI CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Trang 8sự hài lòng của tổ chức và công dân làm mục
tiêu để thực hiện công tác CCHC Bên cạnh đó,
công tác phối hợp với các cấp các ngành tạo sự
đồng bộ trong công tác CCHC, kiểm soát chặt
chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính
theo quy định của pháp luật; công khai, minh
bạch 62 thủ tục hành chính (TTHC) trên cổng
dịch vụ công trực tuyến, hằng năm đánh giá
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường
đối thoại giữa Nhà nước với doanh nghiệp và
Nhân dân; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị
của cá nhân, tổ chức về các quy định hành
chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các
quy định hành chính và cùng giám sát việc thực
hiện TTHC giữa các cơ quan hành chính nhà
nước các cấp Sở KH&CN đã xây dựng và ban
hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo thực hiện sát
với chủ trương, chỉ đạo của Tỉnh
Theo bà Phạm Thị Mai Hương - Phó Giám
đốc Sở KH&CN cho biết “Sở KH&CN đã chỉ
đạo và bám sát những nội dung của Nghị
quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính
phủ ban hành chương trình tổng thể CCHC
nhà nước giai đoạn 2021 - 2030; Kế hoạch số
206/KH-UBND ngày 01/9/2021 của UBND tỉnh
Yên Bái ban hành tổng thể CCHC nhà nước
giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm
2030 trên địa bàn tỉnh Yên Bái và Kế hoạch
số 237/KH-UBND ngày 22/12/2020 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Yên Bái về triển khai công
tác CCHC nhà nước năm 2021 trên địa bàn
tỉnh Yên Bái” Theo đó, Sở KH&CN cũng đã
xây dựng Kế hoạch thực hiện công tác CCHC
năm 2021 và chỉ đạo thực hiện, đạt được kết
quả tích cực: Việc rà soát, đánh giá, cập nhật,
bổ sung, hệ thống hóa, việc công bố, công
khai cho các tổ chức, cá nhân về các TTHC,
biểu mẫu hồ sơ, thời gian giải quyết, phí và
lệ phí; việc sắp xếp tổ chức bộ máy của cơ
quan, đơn vị theo hướng tinh gọn, hoạt động
hiệu lực, hiệu quả; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành đạt kết quả khá tốt; chất lượng đội ngũ công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị ngày càng được hoàn thiện và nâng lên; 100% TTHC được công khai, minh bạch trên cổng dịch vụ công trực tuyến, 100% hồ sơ, TTHC tại Trung tâm Phục vụ hành chính công của Tỉnh, đảm bảo trước hạn và đúng hạn, không có hồ sơ giải quyết trễ hẹn, không phải viết thư xin lỗi Bên cạnh đó, Sở KH&CN còn đẩy mạnh cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức 3, mức 4 theo lộ trình, đến nay tỷ lệ số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 phát sinh hồ sơ so với tổng số dịch
vụ công trực tuyến đạt tỷ lệ 50% Ngoài ra, Sở KH&CN còn là cơ quan tham mưu cho Tỉnh hướng dẫn các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện Hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 đạt kết quả khá, làm cơ sở cho việc chấm điểm và tự chấm điểm xác định chỉ
số CCHC của tỉnh Yên Bái”
Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác CCHC, Sở KH&CN sẽ tiếp tục bám sát chỉ đạo của Chính phủ, của Tỉnh ủy và UBND tỉnh để ban hành các văn bản chỉ đạo và thực hiện đảm bảo khả thi, thiết thực và hiệu quả công tác CCHC Nhà nước; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị về
ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác CCHC; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác rà soát các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền quản lý của Sở KH&CN để tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới, nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ và tính khả thi Đồng thời kiểm tra, rà soát và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền thực hiện cắt giảm đối với những thủ tục hành chính còn
Trang 9rườm rà, chồng chéo trên tất cả các lĩnh vực
thuộc thẩm quyền quản lý của Sở KH&CN theo
hướng đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, ít tốn
kém về thời gian Tiếp tục tạo điều kiện thuận
lợi nhất cho các tổ chức, cá nhân tiếp cận hồ
sơ và đơn vị cĩ thẩm quyền giải quyết Đẩy
mạnh việc đưa các TTHC của Sở KH&CN lên
mức độ 3, mức độ 4 theo đúng lộ trình; đồng
thời tiếp tục thực hiện tiếp nhận, thẩm định,
phê duyệt, trả kết quả tại chỗ; đẩy mạnh việc
giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính cơng
ích Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính,
đạo đức cơng vụ trong đội ngũ cán bộ, cơng chức của cơ quan, đơn vị gắn với động viên, khuyến khích cán bộ, cơng chức, viên chức hồn thành tốt nhiệm vụ Đẩy mạnh cơng tác
tự kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ CCHC Tăng cường cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên mơn nghiệp
vụ, kỹ năng cho đội ngũ cơng chức trực tiếp tham mưu, thực hiện nhiệm vụ CCHC của Sở KH&CN để đảm bảo đội ngũ ngày càng chuyên nghiệp, năng động “vừa hồng, vừa chuyên”./
N.V.T.N
KẾT QUẢ KIỂM TRA CÔNG TÁC PHÁP CHẾ
CỦA SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2019-2021.
Qua kiểm tra, Sở KH&CN được đánh giá
là một trong những đơn vị thực hiện
tốt nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức
pháp chế theo quy định tại Điều 6 Nghị định số
55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế Kết quả
nổi bật là cơng tác xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật; cơng tác phổ biến, giáo dục pháp luật
và thi hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính, cụ thể:
Về cơng tác phổ biến, giáo dục pháp luật:
Từ năm 2019 đến nay, Sở KH&CN đã tổ chức
27 Hội nghị chuyên đề và lồng ghép việc tuyên
truyền, phổ biến các quy định của pháp luật thuộc lĩnh vực: An tồn bức xạ hạt nhân; sở hữu trí tuệ; hoạt động KH&CN; tiêu chuẩn đo lường chất lượng; khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, quản
lý nhiệm vụ khoa học; chuyển giao cơng nghệ
và Cuộc cách mạng cơng nghệ 4.0; quản lý hệ thống chất lượng ISO 2001: 2015… với tổng số 1.065 người tham dự Đối tượng tham dự Hội nghị là cán bộ, cơng chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ về lĩnh vực KH&CN; các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Yên Bái Bên cạnh đĩ, để nâng cao cơng tác tuyên truyền pháp luật, các phịng chuyên mơn đã biên tập, in ấn và phát hành
Nằm trong Kế hoạch số 07/KH-UBND ngày 13/01/2021 về tổ chức thực hiện cơng tác pháp chế năm 2021 trên địa bàn tỉnh Yên Bái, vừa qua Sở Tư pháp đã tiến hành kiểm tra cơng tác pháp chế các cơ quan chuyên mơn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, trong đĩ cĩ Sở Khoa học và Cơng nghệ (KH&CN).
Nguyễn Giang
Sở Khoa học và Cơng nghệ tỉnh Yên Bái.
Trang 102.770 tờ rơi phục vụ công tác tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật về đo lường đối với
phép đo khối lượng trong thương mại bán lẻ và
hỗ trợ thực hiện kiểm định cân đối chứng, về
đo lường, chất lượng, ghi nhãn hàng hóa trong
kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng đối với các cửa
hàng bán lẻ LPG chai trên địa bàn tỉnh Yên Bái
Về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính: Sở KH&CN đã tổ chức thực
hiện 08 cuộc thanh tra chuyên ngành đối với
177 cơ sở trên các lĩnh vực: Tiêu chuẩn, đo
lường và chất lượng, nhãn hàng hóa đối với
các tổ chức và cá nhân kinh doanh xăng dầu,
khí dầu mỏ hóa lỏng, điện, điện tử, vàng trang
sức mỹ nghệ; đo lường và an toàn bức xạ trong
hoạt động chẩn đoán, khám và chữa bệnh…
Cùng với đó, Sở KH&CN đã triển khai 08 cuộc
kiểm tra đối với 109 cơ sở, kiểm tra về công tác
quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận đối
với sản phẩm chè mang nhãn hiệu chứng nhận Suối Giàng - Yên Bái; các cơ sở kinh doanh mũ bảo hiểm dùng cho người đi mô tô, xe máy; đồ chơi trẻ em
Kết thúc thời gian kiểm tra, Đoàn công tác của Sở Tư pháp đã đánh giá cao công tác pháp chế của Sở KH&CN Để có được kết quả trên, trong những năm qua Lãnh đạo Sở KH&CN luôn chú trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ Tăng cường công tác quản lý, phối hợp thực hiện hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế; thường xuyên đào tạo nâng cao kiến thức về pháp luật cho đội ngũ công chức, viên chức trong toàn ngành để
áp dụng triển khai việc thực thi pháp luật trong từng lĩnh vực chuyên môn của ngành đạt hiệu quả và đảm bảo đúng quy định./
Buổi làm việc với Đoàn kiểm tra
N.G
Trang 11KẾT QUẢ KIỂM TRA “XÂY DỰNG, ÁP DỤNG, DUY TRÌ VÀ CẢI TIẾN HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THEO TIÊU CHUẨN TCVN ISO 9001:2015” CỦA CÁC
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TỈNH YÊN BÁI NĂM 2021
Sở KH&CN đã tiến hành kiểm tra việc
xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến
HTQLCL theo tiêu chuẩn TCVN ISO
9001:2015 của các cơ quan HCNN tỉnh Yên
Bái năm 2021 tại 52 cơ quan, đơn vị (trong
đó: 05 sở, ban, ngành và 05 chi cục; 04 huyện
và 38 xã thuộc các huyện: Mù Cang Chải, Lục
Yên, Yên Bình và Văn Chấn) Kiểm tra gián
tiếp trên trang thông tin điện tử iso.yenbai.gov
vn đối với 161 cơ quan HCNN (Trong đó: 26
cơ quan HCNN cấp tỉnh, cấp huyện và 135 xã,
phường và thị trấn)
Qua kiểm tra trực tiếp 52 đơn vị cho thấy,
các cơ quan đã triển khai tốt hoạt động xây
dựng áp dụng, duy trì và cải tiến HTQLCL theo
tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 Đã kịp thời
kiện toàn lại Ban chỉ đạo ISO Có 50/52 cơ
quan HCNN đã xây dựng, áp dụng vào thực
tế đầy đủ các Quy trình HTQLCL theo Quyết
định 101/QĐ-BKHCN ngày 21/01/2019 của
Bộ KH&CN và 100% thủ tục hành chính được
UBND tỉnh công bố, thuộc phạm vi giải quyết
của đơn vị; 50/52 đơn vị đã đăng tải tài liệu
HTQLCL theo TCVN ISO 9001:2015 lên Trang
thông tin điện tử iso.yenbai.gov.vn Tuy nhiên,
vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục sau kiểm
tra ở một số đơn vị đó là: Việc thực hiện rà
soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật;
hồ sơ xử lý vẫn còn lưu thừa hoặc lưu thiếu, chưa bổ sung quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính vào quy trình ISO; việc đánh giá nội bộ còn chưa đầy đủ theo hướng dẫn, nội dung thực hiện đánh giá nội bộ còn chung chung, chưa đúng với thực tế, trong quá trình kiểm tra chéo giữa các bộ phận chưa theo hướng dẫn; một số cơ quan việc sắp xếp hồ
sơ, ghi các thông tin trên nhãn hồ sơ, tài liệu chưa đầy đủ các thông tin cần thiết để dễ nhìn,
dễ thấy, dễ lấy, dễ sử dụng
Kết quả kiểm tra gián tiếp trên Trang thông tin điện tử iso.yenbai.gov.vn, đối với 26 cơ quan HCNN cấp tỉnh, cấp huyện và 153 xã, phường, thị trấn cho thấy: Các đơn vị đã ban hành kế hoạch, mục tiêu chất lượng năm 2021; kiện toàn Ban chỉ đạo ISO; cập nhật các thay đổi văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xử lý công việc vào HTQLCL; rà soát, chỉnh sửa lại các quy trình HTQLCL đảm bảo 100% thủ tục hành chính đã được UBND tỉnh phê duyệt và đưa vào áp dụng tại cơ quan; thực hiện đánh giá nội bộ, khắc phục những điểm không phù hợp; thực hiện công bố lại HTQLCL theo quy định khi có sự điều chỉnh Tuy nhiên còn một số đơn vị hồ sơ đánh giá
Thực hiện Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg ngày 05/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ
về việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL) theo TCVN ISO 9001:2008 (nay là TCVN ISO 9001:2015) vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước (HCNN).
Nguyễn Thu Hằng
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái.
Trang 12Tại đây, đồng chí Vũ Xuân Hợi, Bí thư
Đảng ủy, Giám đốc Sở KH&CN, các đồng
chí trong Ban Giám đốc và cán bộ công
chức, viên chức Sở KH&CN đã cùng với Lãnh
đạo chủ chốt xã Khánh Hòa đến thăm một số
hộ nghèo trên địa bàn xã và hướng dẫn bà con thôn Làng Nộc, áp dụng các quy trình kỹ thuật nuôi trồng nấm mộc nhĩ trên giá thể mùn cưa Đây là một trong những nội dung của nhiệm vụ
“Tập huấn, tuyên truyền, phổ biến và chuyển
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THAM GIA “NGÀY THỨ BẢY CÙNG DÂN”
TẠI XÃ KHÁNH HÒA, HUYỆN LỤC YÊN
Xuất phát từ mục đích gắn kết chặt chẽ mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và Nhân dân, tuyên truyền, vận động Nhân dân tích cực tham gia các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội Hưởng ứng phong trào “Ngày thứ bảy cùng dân” Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái đã phối hợp với Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Khánh Hòa, huyện Lục Yên thực hiện hiệu quả ngày thứ bảy cùng dân trong chuyển giao kỹ thuật xây dựng mô hình trồng nấm tại một số gia đình thuộc diện khó khăn tại thôn Làng Nộc, xã Khánh Hòa.
Hoàng Minh Tuân
Trung tâm Ứng dụng, Kỹ thuật, Thông tin KH&CN Yên Bái
nội bộ còn chưa đúng theo hướng dẫn, việc
đăng tải tài liệu lên trang ISO còn thiếu
Căn cứ vào các tài liệu kiểm chứng, Sở
KH&CN đã tiến hành đánh giá, xếp loại chấm
điểm việc xây dựng, áp dụng HTQLCL theo
TCVN ISO 9001:2015 đối với 40 cơ quan
HCNN trên địa bàn tỉnh Yên Bái theo quy
định tại Quyết định số 1628/QĐ-UBND ngày
26/8/2019 của UBND tỉnh Yên Bái Qua công
tác kiểm tra đã định lượng được việc chỉ đạo,
điều hành của các đơn vị có nhiều chuyển biến
tích cực, nhất là trong việc ban hành kế hoạch
xây dựng, áp dụng, duy trì, mục tiêu chất lượng,
chính sách chất lượng ngay từ đầu năm, với
kết quả đầu ra rõ ràng, cụ thể Bên cạnh kết
quả đạt được, vẫn còn một số cơ quan, đơn vị
do chưa quen với cách tiếp cận và giải quyết
công việc theo quy trình, nên việc xây dựng
và áp dụng HTQLCL chưa thực sự gắn kết
với hoạt động cải cách hành chính, hiệu quả
chưa cao; các văn bản quy phạm pháp luật
liên quan đến hoạt động chuyên môn thường
xuyên thay đổi cũng gây phức tạp trong việc xác định phạm vi, đối tượng xây dựng, áp dụng HTQLCL, việc đánh giá nội bộ trong quá trình kiểm tra chéo giữa các bộ phận còn chưa theo hướng dẫn… Đây là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng triển khai xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến HTQLCL tại một số các
cơ quan, đơn vị
Có thể nói, công tác kiểm tra xây dựng,
áp dụng, duy trì và cải tiến HTQLCL theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 của các cơ quan HCNN trên địa bàn tỉnh, đã đảm bảo việc duy trì và cải tiến HTQLCL theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 tại các cơ quan, đơn
vị đúng theo các quy định của Chính phủ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính; nâng cao ý thức, trách nhiệm của từng cán bộ, công chức làm việc theo hướng chuyên nghiệp, tiến tới một nền hành chính hiện đại./
N.T.H
Trang 13giao thành tựu KH&CN trên địa bàn tỉnh Yên
Bái” năm 2021
Hoạt động này không chỉ là gần gũi, thấu
hiểu đời sống của Nhân dân, mà còn mở ra
cho người dân địa phương một hướng đi mới
trong phát triển kinh tế, giúp người dân có thêm
những kiến thức về khoa học kỹ thuật, mạnh
dạn áp dụng vào sản xuất để tạo nên giá trị kinh
tế cao trên một đơn vị diện tích Với phương
pháp xây dựng mô hình điểm trong xã, để người
dân tham quan học tập, có cơ hội thực hành các
biện pháp kỹ thuật trên thực tế, để áp dụng tại
mỗi gia đình là hướng đến trao những giá trị bền
vững, dài lâu cho người dân, giúp các hộ nghèo
có thêm động lực vươn lên trong phát triển kinh
tế từ chính kiến thức của mình
Cùng với đó, Sở KH&CN đã chỉ đạo Trung
tâm Ứng dụng, Kỹ thuật, Thông tin KH&CN, tiếp
tục chủ trì thực hiện các nội dung của nhiệm
vụ “Tập huấn, tuyên truyền, phổ biến và chuyển giao thành tựu KH&CN trên địa bàn tỉnh Yên Báí” năm 2021 tại xã Khánh Hòa bao gồm: Tổ chức lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi trồng một
số loại nấm ăn và nấm dược liệu; lựa chọn các
hộ dân tham gia xây dựng mô hình điểm trong nuôi trồng nấm Mộc nhĩ với quy mô 10.000 bịch nuôi trồng; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo điều kiện để nuôi trồng nấm; cử cán bộ kỹ thuật thường xuyên có mặt tại cơ sở để hướng dẫn bà con theo hình thức “Cầm tay chỉ việc” nhằm giúp bà con trong xã nắm vững được quy trình kỹ thuật, xác định được ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất, chủ động điều chỉnh để năng xuất chất lượng sản phẩm tốt hơn trong thời gian tới./
H.M.T
Đồng chí Vũ Xuân Hợi tham gia treo bịch nấm cùng với người dân thôn Làng Nộc, xã Khánh Hòa
Trang 14Đoàn kiểm tra việc ghi nhãn hàng hóa trên sản phẩm vàng, vàng trang sức mỹ nghệ
Với quyết tâm thực hiện hiệu quả mục
tiêu kép “Vừa chống dịch, vừa phát
triển kinh tế” của Chính phủ Thanh
tra sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái
(KH&CN) đã tiến hành 03/04 cuộc thanh tra
chuyên ngành theo Quyết định số
176/QĐ-SKHCN ngày 11/12/2020 của Giám đốc sở KH&CN về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2021, bao gồm: Thanh tra về tiêu chuẩn,
đo lường, chất lượng (TCĐLCL) và nhãn hàng hóa trong sản xuất, kinh doanh vàng, vàng trang sức, mỹ nghệ; thanh tra chuyên ngành
THỰC HIỆN HIỆU QUẢ “MỤC TIÊU KÉP”
TRONG THANH TRA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Anh Thúy
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái.
Năm 2021, là một năm tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp, khó lường gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và mọi hoạt động về sản xuất kinh doanh trên cả nước nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng