Năm thứ ba mươi tư 24 Xã hội học, số 3 (135), 2016 BẢN QUYỀN THUỘC VIỆN XÃ HỘI HỌC | ios vass gov vn TÍNH CỘNG ĐỒNG Ở NÔNG THÔN TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM CHUYỂN ĐỔI NHÌN TỪ MỐI LIÊN KẾT SẢN XUẤT, KINH D[.]
Trang 124 Xã hội học, số 3 (135), 2016
TÍNH CỘNG ĐỒNG Ở NÔNG THÔN TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM CHUYỂN ĐỔI: NHÌN TỪ MỐI LIÊN KẾT SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH TẠI HAI XÃ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
NGUYỄN ĐỨC CHIỆN*
Tóm tắt: Tính cộng đồng là đề tài thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu khoa học xã
hội nhiều thập kỷ qua Tuy nhiên, trong khi các học giả phương Tây thường xem xét tính cộng đồng trong trạng thái động thì giới nghiên cứu trong nước có xu hướng giải thích tính cộng đồng trong trạng thái tĩnh, gắn tính cộng đồng với sự tồn tại và sắc thái riêng biệt của mỗi làng xã với đặc trưng là duy cảm và tự trị Dựa vào nguồn dữ liệu thực nghiệm của đề tài “Ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn hiện nay”, khảo sát tại xã Liên Bão và Ninh Hiệp, bài viết tìm hiểu và phân tích về những động thái mới của tính cộng đồng ở làng xã đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh nông thôn Việt Nam chuyển đổi và hội nhập
Từ khóa: nông thôn, tính cộng đồng, liên kết kinh doanh, đồng bằng sông Hồng
1 Dẫn nhập
“Tính cộng đồng” là một thuật ngữ được thảo luận khá sớm trong giới xã hội học phương Tây Trong tác phẩm bàn về “Cộng đồng và xã hội”, Tonnies (1887) đã chỉ ra rằng cộng đồng là những mối quan hệ gần gũi, tình cảm, mặt đối mặt, gắn chặt với nơi chốn, vị thế xã hội quy gán và thuần nhất Marshall (2010: 122) thì khẳng định rằng cộng đồng là những mối quan hệ được thiết lập một cách đặt thù dựa trên những cái mà thành viên cùng có chung - một cảm quan chung về bản sắc Về mặt lý thuyết, các học giả phương Tây thường đặt vấn đề tính cộng đồng trong sự biến chuyển của quá trình hiện đại hóa; đó là sự biến đổi của các xã hội từ “cổ truyền” sang “hiện đại” mà một trong những đặc trưng là duy lý hóa với nghĩa là sự chuyển đổi từ những quan hệ dựa trên tình cảm sang những quan hệ dựa trên sự tính toán duy lý (Tonnies, 1887, dẫn theo Gordon Marshall, 2010: 123)
Ở Việt Nam, trong nhiều thập kỷ qua, “Tính cộng đồng” là đề tài thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu khoa học xã hội Điểm đáng lưu ý là các nhà nghiên cứu thường khẳng định tính độc lập của mỗi cộng đồng, gắn tính cộng đồng với sự tồn tại và sắc thái riêng biệt của mỗi làng xã Nguyễn Văn Huyên (2003: 829) cho rằng: “Trong sự tương quan với quốc gia, làng Việt truyền thống giống như một quốc gia trong một quốc gia”
*Viện Xã h ội học
Trang 2Nguyễn Đức Chiện 25
Tác giả Nguyễn Hồng Phong (1978: 464) khẳng định: “Mỗi làng có lãnh thổ riêng, bao gồm đất ở, đồi, hồ, gò đồng Hương ước truyền thống định rõ ranh giới của làng và dân làng phải có nghĩa vụ bảo vệ lãnh thổ chống lại sự xâm lấn của các làng khác Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu (1996: 297), “Làng được cấu trúc chặt chẽ, đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hàng ngày và có thể đối phó với những tình huống khó khăn như thiên tai, trộm cướp hay chiến tranh Mọi người dân trong làng có thể dựa vào thiết chế làng, tinh thần cộng đồng làng, tình cảm làng để sống mà không phải vươn ra ngoài ranh giới của làng”
Tính cộng đồng được bàn rõ hơn trong nghiên cứu của Đỗ Long và Trần Hiệp Hai tác giả này cho rằng “Tính cộng đồng là một đặc trưng tâm lý xã hội của nhóm, thể hiện năng lực phối hợp, kết hợp ở sự thống nhất của các thành viên trong hành động làm cho các quan
hệ qua lại của hoạt động diễn ra một cách nhịp nhàng nhất” (Đỗ Long và Trần Hiệp, 2000: 47) Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm thì khẳng định, đặc trưng số một của làng xã Việt Nam
là tính cộng đồng Ông nhấn mạnh rằng những người sống gần nhau có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau và sản phẩm của lối liên kết này là làng, xóm: “Thứ nhất, để đáp ứng nhu cầu đối phó với môi trường tự nhiên, nhu cầu của nghề trồng lúa nước mang tính thời vụ cần đông người, người dân Việt Nam truyền thống không chỉ đẻ nhiều mà còn cần liên kết chặt chẽ với nhau (làm đổi công) Thứ hai, để đối phó với môi trường xã hội (nạn trộm cướp…) cả làng phải hợp sức mới có hiệu quả” (Trần Ngọc Thêm, 2001: 180-183)
Một số nghiên cứu xã hội học gần đây tiếp tục bàn luận về tính cộng đồng, đặc biệt đi sâu tìm hiểu tính cộng đồng của gia đình, dòng họ ở nông thôn Trong nghiên cứu “Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng”, tác giả Mai Văn Hai (2000) đã mô tả mối liên kết cộng đồng của các gia đình trong cùng dòng họ thông qua các hoạt động tương trợ sản xuất, chia sẻ tình cảm, động viên tinh thần lẫn nhau mỗi khi gia đình thành viên trong dòng họ có công việc cưới xin, tang ma và ốm đau Nghiên cứu của Mai Huy Bích về “Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng” cũng cho thấy: “Tính cộng đồng, tức cơ cấu chặt chẽ đặc biệt của gia đình, buộc các thành viên cá thể phải đặt lợi ích của tập thể gia đình ở vị trí tối cao, hy sinh mọi lợi ích riêng nếu nó trái với lợi ích chung của cả tập thể gia đình Tính cộng đồng của gia đình Việt Nam là sản phẩm của lịch sử xa xưa và có quan hệ mật thiết với tính cộng đồng của xã hội Việt Nam” (Mai Huy Bích, 1993: 7)
Như vậy, có thể thấy “Tính cộng đồng” là chủ đề thu hút sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước Ở phương Tây, thuật ngữ này luôn gây tranh luận sôi nổi trong giới học thuật và đến nay vẫn chưa ngã ngũ Tại Việt Nam, các bàn luận về tính cộng đồng thường gắn với đặc điểm và tiêu chí chung như: một đơn vị hành chính, một không gian
cư trú, một cộng đồng kinh tế, văn hóa, tôn giáo, v.v Mỗi làng xã có một sắc thái mang tính cộng đồng văn hóa riêng, khép kín, tự trị, tự quản về hành chính, tự cấp, tự túc về kinh tế Vấn đề là ở chỗ còn ít nghiên cứu bàn sâu về tính cộng đồng trong gia đình, dòng
họ, làng xã, với những động thái và diễn biến của nó, gắn với một nền kinh tế và xã hội nông thôn đang biến động theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Trang 3Nguyễn Đức Chiện 26
2 Câu hỏi nghiên cứu và nguồn số liệu
Nghiên cứu này tập trung làm rõ tính cộng đồng của gia đình trong hoạt động kinh
tế nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau: Các mối liên kết sản xuất, kinh doanh của
hộ gia đình đang biểu hiện như thế nào? Loại hình và không gian của các tương tác trong sản xuất, kinh doanh còn mang tính truyền thống (đóng, khép kín, cố kết bền chặt, tin tưởng lẫn nhau) dựa vào mối quan hệ gia đình, dòng họ, phường hội, xóm làng hay là nó đang trong quá trình thay đổi, mở rộng phạm vi và loại hình tương tác dựa trên quan hệ lợi ích và các quan hệ này đang vượt qua khỏi ranh giới không gian làng xã để liên kết với các đối tác bên ngoài?
Nguồn dữ liệu của bài viết trích từ bộ số liệu của một khảo sát định lượng 600 hộ gia đình tại hai xã Liên Bão và Ninh Hiệp do tác giả và một nhóm nghiên cứu thực hiện, thuộc
đề tài “Ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn hiện nay” (2015-2016) Nhóm nghiên cứu đã tiến hành chọn mẫu tại 2 xã Ninh Hiệp và Liên Bão thuộc vùng đồng bằng sông Hồng của Việt Nam Xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, cách thủ đô Hà Nội 35 km về phía Bắc, là một xã có hướng phát triển kinh
tế hỗn hợp, kết hợp nhiều ngành nghề (nông nghiệp, chế biến, tiểu thủ công, kinh doanh, dịch vụ) Xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 15 km về phía Bắc, là xã có cơ cấu ngành nghề phi nông nghiệp phát triển mạnh (tiểu thủ công, chế biến lâm sản, dược liệu làm thuốc Bắc, kinh doanh vải, quần áo thời trang, dịch vụ) Hai xã này đều nằm ở phía Bắc của vùng đồng bằng, đại diện cho mức độ phát triển khác nhau của các làng xã ở đồng bằng sông Hồng Trong khi Liên Bão được xem là điểm nghiên cứu đặc trưng cho làng xã còn đậm màu sắc của kinh tế nông nghiệp, kết hợp với kinh doanh, buôn bán nhỏ, thì Ninh Hiệp là xã điển hình về phát triển tiểu thủ công, chế biến lâm sản và kinh doanh, dịch vụ (Nguyễn Đức Chiện, 2015)
Để làm rõ tính cộng đồng của hộ gia đình nông thôn trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi, bài viết giới hạn vào 3 nội dung sau: 1) Loại hình quan hệ, phạm vi/không gian liên kết sản xuất, kinh doanh của các nhóm hộ gia đình; 2) Niềm tin và tính gắn bó của các mối liên kết/ hợp tác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các nhóm hộ gia đình; 3) Phần cuối cùng dành thảo luận về tính cộng đồng của gia đình trong liên kết sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh nông thôn Việt Nam chuyển đổi và hội nhập
3 Kết quả phân tích
3.1 Loại hình và không gian liên kết sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình nông thôn
Làng xã Việt Nam là một phức hợp của nhiều tổ chức xã hội mà trước hết là dòng họ, các mối liên kết nghề nghiệp tín ngưỡng tôn giáo, địa vực láng giềng, xó m, giáp, đơn vị hành chính làng xã (Phan Đại Doãn, 2006: 7) Sống trong cộng đồng làng
xã, mỗi người dân, hộ gia đình phải tuân theo những quy tắc, chuẩn mực, giá trị, thiết chế xã hội đã tồn tại từ lâu đời Chính những chuẩn mực, thiết thế này đã làm cho những gia đình sống ở nông thôn tin tưởng, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong sinh hoạt và trong lao động sản xuất
Trang 4Nguyễn Đức Chiện 27
Câu hỏi đặt ra là phạm vi và không gian liên kết của các cá nhân và các gia đình trong làng xã hiện nay như thế nào? Kết quả khảo sát tại Liên Bão và Ninh Hiệp đã cho thấy mạng lưới xã hội đa dạng bao gồm mạng lưới quan hệ trong cộng đồng và mạng lưới ngoài cộng đồng, mạng lưới chính thức (mạng lưới chính quyền, đoàn thể, công ty) và mạng lưới phi chính thức (hội, câu lạc bộ) (Nguyễn Đức Chiện, 2015: 4) Để có thể thu thập được thông tin về quan hệ liên kết sản xuất của hộ gia đình tại hai xã, chúng tôi đã đặt câu hỏi: Hộ gia đình ông/bà liên kết với ai ở các khâu của hoạt động sản xuất, kinh doanh của gia đình trong năm qua? Bảng 1 dưới đây cho thấy tính cộng đồng thể hiện trong các khâu của hoạt động sản xuất, kinh doanh của nông hộ
Bảng 1 Các liên kết trong sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình
Đơn vị: %
Bố mẹ, anh chị em ruột của vợ và chồng
Họ hàng nội ngoại
Hàng xóm, người làng
Bạn bè, hội tự nguyện,
sở thích
Chính quyền, hội, đoàn thể, hợp tác xã
Người ngoài làng
Người nước ngoài
I Hoạt động nông nghiệp
2 Giúp đỡ vốn khởi
3 Mua giống cây, con,
4 Làm đất, chăm sóc, thu
II Hoạt động chế biến, tiểu thủ công nghiệp
2 Giúp đỡ vốn khởi
4 Chế biến, nhân công
III Hoạt động kinh doanh, dịch vụ
1 Tư vấn hướng kinh
2 Giúp đỡ vốn khởi
Nguồn: Kết quả khảo sát tại xã Liên Bão và Ninh Hiệp năm 2015
Ở Bảng 1, kết quả khảo sát hai xã cho thấy mối liên kết của các nhóm (hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, hộ gia đình tiểu thủ công và chế biến, hộ gia đình kinh doanh dịch vụ) rất đa dạng Số liệu phản ánh khá rõ phạm vi và không gian liên kết sản xuất, kinh doanh của các hộ gia đình ở Liên Bão và Ninh Hiệp trong bối cảnh hiện nay
Trang 5Nguyễn Đức Chiện 28
Liên kết trong sản xuất nông nghiệp
Hộ gia đình hai xã đã khai thác triệt để các kênh quan hệ ở cộng đồng vào các khâu/hoạt động sản xuất nông nghiệp (tư vấn hướng sản xuất; giúp đỡ vốn khởi nghiệp; mua giống cây con, phân bón, thức ăn; giúp đỡ vốn khởi nghiệp; mua giống cây con; làm đất, chăm sóc, thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm) Tuy nhiên, số liệu cho thấy mức độ quan tâm và xu hướng liên kết với các kênh quan hệ là rất khác nhau Kênh liên kết của hộ gia đình với bố mẹ, anh chị em ruột, họ hàng nội ngoại, hàng xóm và tổ chức chính quyền địa phương vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong các khâu của hoạt động sản xuất nông nghiệp Mặt khác, có tỷ lệ khá cao hộ gia đình mở rộng phạm vi/không gian liên kết trong các khâu sản xuất nông nghiệp Chẳng hạn, tỷ lệ liên kết với người ngoài làng: khâu tiêu thụ sản phẩm là 44,3%; khâu mua giống cây con, phân bón, thức ăn là 34,6% Đặc biệt khâu làm đất, chăm sóc, thu hoạch là khâu trước đây chỉ giới hạn phạm vi trao đổi trong cộng đồng thì nay có đến 51,8% ý kiến trả lời đang thực hiện liên kết hoạt động sản xuất này với người bên ngoài làng xã Có thể nói, các con số này chứng tỏ rằng phạm vi liên kết trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình ở hai xã đang ngày càng được
mở rộng Hiện nay, các mối quan hệ liên kết này không chỉ giới hạn trong phạm vi không gian truyền thống (gia đình, dòng họ, xóm làng) mà còn mở rộng vượt qua khỏi không gian làng xã
Liên kết hoạt động chế biến, tiểu thủ công
Số liệu cũng cho thấy, quan hệ liên kết trong hoạt động chế biến, tiểu thủ công tại hai địa phương khảo sát rất đa dạng Các hình thức liên kết kiểu truyền thống (gia đình, dòng họ, làng xóm) vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong các khâu của hoạt động chế biến, tiểu thủ công (tư vấn hướng sản xuất, giúp đỡ vốn khởi nghiệp, nguyên liệu đầu vào; chế biến, nhân công lao động; tiêu thụ sản phẩm) Nếu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, liên kết của hộ gia đình với các tổ chức chính quyền địa phương có ý nghĩa quan trọng, thì ở hoạt động chế biến, tiểu thủ công, mức độ liên kết giữa hộ gia đình và các tổ chức chính quyền địa phương rất thấp Điểm đáng lưu ý là các hình thức liên kết của hộ gia đình với các mạng lưới bên ngoài cộng đồng (người ngoài làng, người nước ngoài) rất phát triển, nhất là đối với khâu nguyên liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm Điều này phản ánh phạm vi liên kết của hộ gia đình trong hoạt động chế biến, tiểu thủ công đã mở rộng, vượt ra khỏi không gian làng xã, thậm chí cả biên giới quốc gia
Liên kết hoạt động kinh doanh, dịch vụ
Điều đáng quan tâm là mức độ liên kết của hộ gia đình hai xã trong các khâu của hoạt động kinh doanh, dịch vụ được trải rộng ở tất cả các mối quan hệ ở cộng đồng hiện nay, tuy nhiên mức độ hợp tác của hộ gia đình trong các khâu là rất khác nhau Chẳng hạn, các mối liên kết trong phạm vi gia đình, dòng họ vẫn giữ vai trò quan trọng trong khâu giúp đỡ vốn khởi nghiệp, hỗ trợ nhân công lao động, nguồn hàng đầu vào Các mối quan hệ trong phạm vi bạn bè, xóm làng cũng đóng vai trò quan trọng trong các khâu liên kết nguồn hàng đầu vào và tiêu thụ hàng hóa Điều ngạc nhiên là có tỷ lệ rất cao hộ gia đình trong mẫu khảo sát đang liên kết với người ngoài làng và người nước ngoài trong
Trang 6Nguyễn Đức Chiện 29
khâu hàng hóa đầu vào và tiêu thụ hàng Kết quả này phản ánh hoạt động kinh doanh, dịch vụ ở Liên Bão và Ninh Hiệp rất đa dạng và xu hướng ngày càng mở rộng ra khỏi ranh giới địa phương (huyện, tỉnh), thậm chí mối quan hệ vượt khỏi lãnh thổ quốc gia đang rất phát triển
Khác biệt mức độ liên kết trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh giữa hai xã
Các số liệu và phân tích trên đã cho thấy phạm vi và hình thức liên kết trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình ở Liên Bão và Ninh Hiệp, số liệu trong Bảng 2 dưới đây tiếp tục cho thấy khác biệt về mức độ liên kết trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở hai xã hiện nay
Trong Bảng 2, số liệu khảo sát cho thấy rõ một số nét tương đồng và khác biệt của các hình thức liên kết trong sản xuất, kinh doanh ở hai địa phương Đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, các nông hộ có mức độ liên kết mạnh với các kênh trong cộng đồng (gia đình, dòng họ, các tổ chức chính quyền, hợp tác xã) để thực hiện các khâu sản xuất: chọn giống, dịch vụ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thủy lợi nội đồng và bảo vệ mùa màng) Điều này phản ánh các nhóm, tổ chức này trong cộng đồng vẫn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp ở hai xã Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa hai điểm nghiên cứu Do ở Ninh Hiệp sản xuất nông nghiệp giữ vai trò thứ yếu nên các liên kết của hộ gia đình với các nhóm trong cộng đồng, thậm chí cả tổ chức chính quyền, hợp tác xã rất yếu Trong khi đó ở Liên Bão, các mối liên hệ truyền thống của hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp tiếp tục được duy trì, và hơn thế họ còn mở rộng phạm vi liên kết vượt khỏi phạm vi làng xã, huyện, tỉnh Nhóm hộ làm trang trại đang
mở rộng hợp tác với công ty, đại lý lớn ở các tỉnh, huyện khác nhằm phát triển hướng sản xuất của hộ gia đình
Liên quan tới hoạt động chế biến, tiểu thủ công nghiệp, số liệu cũng cho thấy điểm giống và khác nhau giữa Liên Bão và Ninh Hiệp trong liên kết chế biến, tiểu thủ công Điểm giống nhau là mối liên kết chính của hộ gia đình với người bên ngoài cộng đồng (người ngoài làng) giữ vai trò quan trọng trong các khâu liên quan đến hoạt động sản xuất chế biến, tiểu thủ công Tổ chức chính quyền, hợp tác xã không có ảnh hưởng liên quan đến sản xuất chế biến, tiểu thủ công của hộ gia đình ở hai xã Tuy nhiên, điểm khác biệt là hoạt động chế biến, tiểu thủ công nghiệp ở Ninh Hiệp được chú trọng hơn nên mức độ của các mối liên kết trong sản xuất của các hộ gia đình ở đây mở rộng và đa dạng hơn so với Liên Bão
Tương tự như hoạt động chế biến, tiểu thủ công, các tổ chức chính quyền, hợp tác
xã không có ảnh hưởng đối với hoạt động kinh doanh, dịch vụ của các hộ gia đình ở hai địa phương trong các hoạt động kinh doanh, dịch vụ Các mối liên kết trong gia đình, bên ngoài cộng đồng (người ngoài làng, người nước ngoài) đóng vai trò rất quan trọng đối với khâu đầu vào và đầu ra trong hoạt động kinh doanh của các hộ gia đình
Trang 730 Xã hội học, số 3 (135), 2016
Bảng 2 Khác biệt trong liên kết sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình hai xã Liên Bão và Ninh Hiệp
Đơn vị: %
Bố mẹ, anh chị
em ruột của vợ
và chồng
Họ hàng nội ngoại
Hàng xóm, người làng
Bạn bè, hội tự nguyện, sở thích
Chính quyền, hợp tác xã
Người ngoài làng
Người nước ngoài
I Hoạt động sản xuất nông nghiệp
1 Tư vấn hướng sản xuất 50,2 27,0 44,2 20,6 48,7 25,4 25,3 9,5 74,0 39,7 15,2 4,8 0,0 0,0
2.Giúp đỡ vốn khởi nghiệp 42,4 30,2 49,3 42,9 14,5 7,9 14,1 20,6 33,1 27,0 6,3 3,2 0,0 0,0
3.Mua giống cây, con, phân bón, thức ăn 34,9 36,5 33,1 34,9 45,0 54,0 30,1 15,9 79,2 60,3 31,2 49,2 0,0 0,0
4 Làm đất, chăm sóc, thu hoạch 45,0 31,7 23,9 31,7 33,1 55,6 16,0 9,5 61,0 28,6 50,2 58,7 0,0 0,0
5 Tiêu thụ sản phẩm 35,7 31,7 19,3 36,5 35,7 28,6 14,1 28,6 12,3 27,0 45,0 41,3 0,0 0,0
II Hoạt động chế biến, tiểu thủ công
4.Chế biến, nhân công lao động 36,4 29,6 27,3 22,2 27,3 22,2 12,1 9,3 3,0 1,9 24,2 51,9 3,7
III Hoạt động kinh doanh, dịch vụ
Nguồn: Kết quả khảo sát tại xã Liên Bão và Ninh Hiệp năm 2015
Trang 8Nguyễn Đức Chiện 31
Sự khác biệt trong hoạt động kinh doanh, dịch vụ cũng thể hiện khá rõ tại hai xã Ở Liên Bão, mối liên kết trong gia đình đóng vai trò quan trọng đối với việc giúp đỡ vốn khởi nghiệp kinh doanh của hộ gia đình; trong khâu đầu vào liên quan đến nhập nguồn hàng, hộ gia đình chủ yếu liên kết với cá nhân, tổ chức bên ngoài làng xã (các đại lý, công ty); còn khâu tiêu thụ hàng, liên kết của các hộ chủ yếu được thực hiện với những người dân sống trong cùng cộng đồng Về nhân công lao động, ở Liên Bão chủ yếu là các hộ tự làm, nếu có thuê mướn thì chọn anh chị em trong gia đình Trong khi đó tại Ninh Hiệp, các liên kết mạng lưới trong phát triển kinh doanh, dịch vụ được mở rộng cả về quy mô
và số lượng Các mối liên kết trong mạng lưới gia đình, nhất là bố mẹ, anh chị em ruột của vợ chồng hoạt động rất mạnh, thể hiện trong khâu nhập hàng hóa đầu vào Mạng lưới liên kết họ hàng nội ngoại có thể hiện nhưng không đóng vai trò quan trọng Nguồn hàng đầu vào chủ yếu mà các hộ tại Ninh Hiệp nhập là ở nước ngoài, chính vì thế mà mức độ liên kết với mạng lưới người nước ngoài ở đây rất phát triển Các mạng lưới liên kết khác như họ hàng nội ngoại, hàng xóm người làng, bạn bè cùng hội tự nguyện, sở thích có vai trò đáng kể trong liên kết với những mạng lưới này để nhập hàng hóa
3.2 Niềm tin trong liên kết sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình nông thôn
Các dẫn chứng và phân tích trên cho thấy rõ tính cộng đồng được thể hiện qua sự
mở rộng về phạm vi/không gian, khâu liên kết trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các nhóm hộ gia đình tại hai xã Liên Bão và Ninh Hiệp Trong phần này, nghiên cứu tiếp tục đi vào làm rõ hơn tính cộng đồng của gia đình nông thôn được thể hiện qua niềm tin trong các mối liên kết sản xuất, kinh doanh mà gia đình tham gia hợp tác
Câu hỏi đặt ra và cần làm rõ ở đây là trong bối cảnh phạm vi/ không gian liên kết trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và xu hướng ngày càng mở rộng hơn vượt khỏi phạm vi làng xã, huyện, tỉnh, thậm chí cả biên giới quốc gia thì niềm tin và tính cố kết của người dân nông thôn về các mối liên kết này như thế nào? Câu hỏi chúng tôi đưa ra
để thu thập thông tin là: Ông/bà cho biết mức độ tin tưởng của mối liên kết trong sản xuất, kinh doanh mà gia đình ta tham gia trong năm qua? Phân tích dưới đây sẽ cho thấy
rõ niềm tin trong các mối liên kết của hộ gia đình nông thôn trong bối cảnh hiện nay Biểu đồ 1 thể hiện các mức độ tin tưởng và không tin tưởng trong các kênh/hình thức liên kết sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình hai xã Liên Bão và Ninh Hiệp Kết quả
cho thấy trong 7 hình thức liên kết của hộ gia đình thì mối liên kết của hộ gia đình với bố
mẹ, anh chị em ruột của vợ và chồng, với họ hàng nội ngoại và chính quyền, hợp tác xã
có mức độ “rất tin tưởng” và “tin tưởng” cao nhất Tiếp đến là các mối liên kết của hộ gia
đình với hàng xóm, người làng và bạn bè, hội tự nguyện Điều đáng lưu ý là có tỷ lệ đáng
kể hộ gia đình trong mẫu khảo sát cho biết “rất không tin tưởng” hoặc “không tin tưởng” trong các mối liên kết với các kênh quan hệ liên kết truyền thống này trong cộng đồng hiện nay Bên cạnh đó, hộ gia đình trong mẫu khảo sát cũng thể hiện mức độ “rất không tin tưởng” và “không tin tưởng” vào quan hệ liên kết mới trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình với người ngoài làng, người nước ngoài Điều này cho thấy trong bối cảnh chuyển đổi và hội nhập hiện nay, các mối quan hệ sản xuất kinh doanh của hộ gia đình đang có nhiều biến động Mặc dù các kênh liên kết truyền thống (gia đình, dòng
Trang 9Nguyễn Đức Chiện 32
họ, xóm làng, chính quyền) vẫn đóng vai trò quan trọng mang lại niềm tin tưởng trong liên kết sản xuất, kinh tế nhưng các mối liên kết này cũng đang có dấu hiệu của sự mất niềm tin, sự “bất tín” trong quan hệ Điều này sẽ ảnh hưởng đến tính cộng đồng, hợp tác, tương trợ, cố kết phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập hiện nay Các mối quan hệ mới bên ngoài cộng đồng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh đã mở rộng nhưng chưa mang lại niềm tin tưởng hoàn toàn cho người dân hai xã Liên Bão và Ninh Hiệp
Hình 1 Niềm tin trong liên kết sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình
Đơn vị: %
Nguồn: Kết quả khảo sát tại Liên Bão và Ninh Hiệp năm 2015
Khác biệt về niềm tin trong liên kết sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình hai xã
Liên Bão và Ninh Hiệp là hai địa phương có tốc độ phát triển kinh tế và chuyển đổi
cơ cấu nghề nghiệp rất khác nhau Vậy niềm tin của người dân về các kênh quan hệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh đang diễn ra như thế nào? Kết quả phân tích dưới đây tiếp tục làm rõ hơn về tương đồng và khác biệt giữa hai xã
Bảng 3 cho thấy sự khác biệt đáng kể và rõ rệt giữa hai địa phương về sự tin tưởng
và không tin tưởng trong các mối liên kết sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình Sự khác biệt không đáng kể về niềm tin thể hiện ở hình thức liên kết của hộ gia đình với bố mẹ, anh chị em ruột của vợ chồng, với họ hàng nội ngoại Cụ thể, ở kênh liên kết của hộ gia đình với bố mẹ, anh chị em ruột của vợ chồng, tỷ lệ trả lời ở Liên Bão là: 67,0% rất tin tưởng; 29,3% tin tưởng; 0,3% rất không tin tưởng; 1,0% không tin tưởng; 2,4% không biết/không trả lời Tỷ lệ trả lời phương án này ở Ninh Hiệp là: 72,9% rất tin tưởng; 24,2% tin tưởng; 0,0% rất không tin tương; 1,3% không tin tưởng; 1,6% không biết/không trả lời Mức độ khác biệt rõ rệt về niềm tin trong liên kết sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình tại hai xã thể hiện trong các hình thức liên kết như với hàng xóm, người làng; bạn
bè, hội tự nguyện, sở thích; chính quyền, hợp tác xã; người ngoài làng; người nước ngoài
Cụ thể, ở kênh liên kết của hộ gia đình với hàng xóm, người làng, tỷ lệ trả lời ở Liên Bão
Trang 10Nguyễn Đức Chiện 33
là: 3,1% rất tin tưởng; 80,6% tin tưởng; 7,8% rất không tin tưởng; 4,8% không tin tưởng; 3,7% không biết/không trả lời Tỷ lệ trả lời phương án này ở Ninh Hiệp là: 8,2 rất tin tưởng; 39,5% tin tưởng; 26,5% rất không tin tưởng; 5,6% không tin tưởng; 20,3% không biết/không trả lời
Bảng 3: Khác biệt niềm tin trong liên kết sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình
Đơn vị: %
Rất tin tưởng Tin tưởng Không tin
tưởng Rất không tin tưởng Không trả lời/ KB
Bố mẹ, anh chị em ruột của
Họ hàng nội ngoại 46,3 42,5 47,6 42,5 2,0 0,7 1,0 3.3 3,1 3,3
Hàng xóm, người làng 3,1 8,2 80,6 39,5 7,8 26,5 4,8 5,6 3,7 20,3
Bạn bè, hội tự nguyện, sở thích 5,1 3,6 72,4 52,6 8,8 12,4 3,7 5,6 9,9 25,8
Chính quyền, hợp tác xã 13,9 2,3 74,5 50,7 5,1 14,7 2,0 9,5 4,4 22,9
Người ngoài làng 1,0 1,0 36,1 22,2 35,0 39,5 5,8 9,2 22,1 28,1
Người nước ngoài 0,0 0,0 3,4 10,5 18,4 28,4 11,6 3,9 66,7 57,7
Nguồn: Kết quả khảo sát tại Liên Bão và Ninh Hiệp năm 2015
Ở các hình thức liên kết trong sản xuất, kinh doanh tiếp theo của hộ gia đình tiếp tục cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai xã Điều quan trọng hơn là các con số này minh chứng rằng tốc độ phát triển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, mở rộng phạm vi/không gian liên kết sản xuất, kinh doanh đã tác động đến niềm tin tưởng và tính cố kết trong các liên kết làm ăn, kinh doanh của hộ gia đình hai xã hiện nay Người dân ở cả hai xã đều có mức độ tin tưởng cao vào mối quan hệ liên kết trong sản xuất, kinh doanh với người thân trong gia đình, dòng họ Tuy nhiên, với các kênh như xóm làng, tổ chức chính quyền thì mức độ tin tưởng hay không tin tưởng của hộ gia đình tại hai địa phương khác nhau Chẳng hạn, người dân ở Ninh Hiệp có mức độ tin tưởng vào các mối liên kết này thấp hơn rất nhiều so với Liên Bão Bên cạnh đó, số liệu cũng cho thấy có một tỷ lệ đáng kể ý kiến người dân Ninh Hiệp thể hiện mức độ không tin tưởng vào tổ chức chính quyền Có thể nói, các dẫn liệu này cho thấy những dấu hiệu cơ bản về niềm tin và những khác biệt liên quan đến tính cố kết trong cộng đồng xã hội nông thôn hiện nay
4 Bàn luận
Các dẫn chứng và phân tích trên đã cho thấy mối liên kết trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình ở hai xã Liên Bão và Ninh Hiệp - hai địa phương đại diện cho trình độ phát triển khác nhau ở nông thôn đồng bằng sông Hồng, Việt Nam Điều quan trọng là các bằng chứng khảo sát thực địa ở hai xã đã phần nào phác họa được những khía cạnh liên quan đến tính cộng đồng trong hoạt động kinh tế của hộ gia đình trong quá trình chuyển đổi và hội nhập quốc tế