ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN ĐĂK HÀ Độc lập Tự do Hạnh phúc Số /BC UBND Đăk Hà, ngày tháng năm BÁO CÁO Kết quả 14 năm thực hiện mối liên kết 4 Nhà “Nhà nước Nhà nông Nhà do[.]
Trang 1HUYỆN ĐĂK HÀ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /BC-UBND Đăk Hà, ngày tháng năm
BÁO CÁO Kết quả 14 năm thực hiện mối liên kết 4 Nhà “Nhà nước - Nhà nông -
Nhà doanh nghiệp - Nhà khoa học” trên địa bàn huyện
I TÌNH HÌNH CHUNG
Huyện Đăk Hà được thành lập vào ngày 24/3/1994 Có 10 xã và 01 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 84.572,42ha, trong đó tổng diện tích gieo trồng
hiện nay là 24.171,87ha (cây hàng năm: 7.439,09ha, cây lâu năm: 16.732,78ha); dân số hiện nay khoảng 74.200 người Kinh tế - xã hội của huyện
trong những năm qua luôn ổn định và phát triển; tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt trên 15%; thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 40,2 triệu đồng/người/năm Là huyện có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế; toàn huyện có hơn 9.100 ha cây cà phê, hơn 7.000
ha cây cao su và 2.500 ha cây sắn, đặc biệt huyện đã hình thành và phát triển được các cánh đồng chuyên canh cây tập trung quy mô lớn, như: 13 cánh đồng cây cà phê, 06 cánh đồng lúa, 01 cánh đồng cây cao su và 01 cánh đồng trồng rau, hoa Đây là điều kiện rất thuận lợi để kêu gọi, thu hút đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến sâu Ngoài ra, hiện nay trên địa bàn huyện đã và đang triển khai đầu tư xây dựng 03 công trình thủy điện vừa và nhỏ; có hệ thống sông suối, kênh mương, hồ đập đa dạng, phong phú là điều kiện thuận lợi để đầu tư phát triển ngành nuôi trồng thủy sản gắn với phát triển du lịch sông nước và phát triển năng lượng sạch
Nhận thức được tiềm năng, thế mạnh của huyện, trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền huyện Đăk Hà đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt mối liên kết "4 Nhà", nhằm khuyến khích các nhà khoa học, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế gắn kết với nông dân; tăng cường liên kết để chuyển giao công nghệ, nhất là công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, bao tiêu và tìm đầu ra cho sản phẩm, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ hàng hóa nông sản góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm, phục vụ phát triển nông nghiệp sạch, ổn định và bền vững
II KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1 Công tác triển khai
- Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa III nhiệm kỳ 2005 -
2010, UBND huyện đã chọn ngày 09/01 Âm lịch hàng năm tổ chức Hội
thảo/Hội nghị liên kết "4 Nhà" (Nhà nước - Nhà nông - Nhà doanh nghiệp - Nhà Khoa học) và duy trì đều đặn từ năm 2005 - 2014 Tuy nhiên, để kịp thời động
viên và phát huy vai trò của các thành phần kinh tế; từ năm 2015 đến nay huyện gắn việc tổ chức Hội nghị liên kết “4 nhà” với việc gặp mặt doanh nghiệp nhân
Trang 2ngày Doanh nhân Việt Nam nên đã chuyển việc tổ chức Hội nghị vào giữa tháng
10 hàng năm và luôn duy trì nhiệm vụ đánh giá mối liên kết "4 Nhà" định kỳ hàng năm Qua đó, thu hút các nhà khoa học, cơ sở khoa học trong nước đến tìm hiểu tiềm năng và lợi thế; định hướng cho địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển giao công nghệ, liên kết đào tạo nghề cho lao động nông thôn; vận động nông dân liên kết thành các tổ hợp tác, huy động nguồn lực đầu
tư, ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến
- Để phát huy vai trò kiến tạo của cơ quan Nhà nước, Ủy ban nhân dân huyện
đã cụ thể hóa các chủ trương, Nghị quyết của cấp ủy, HĐND huyện(1) bằng các Kế hoạch, Chương trình, Phương án cụ thể(2) nhằm hình thành, xây dựng chuỗi liên kết
"4 Nhà" Chỉ đạo các ngành liên quan chủ động đề xuất, xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm, khảo nghiệm giống mới có năng suất, chất lượng đưa vào sản xuất, chăn nuôi trên địa bàn; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hướng dẫn thủ tục đầu tư, tích cực kêu gọi, thu hút đầu tư các cơ sở sản xuất, chế biến hàng nông sản, nhất là các sản phẩm chủ lực của huyện như: cà phê, cao su, sắn, ; vận động nông dân nhân rộng các mô hình có hiệu quả; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển bền vững, ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất, chế biến, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
- Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, huyện đã xây dựng kế hoạch thực hiện các nội dung đã ký kết chương trình hợp tác, liên kết với huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, qua đó đã tạo điều kiện cho nông dân, doanh nghiệp có cơ hội hợp tác, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; mặt khác, làm thay đổi tư duy, nhận thức mạnh dạn lựa chọn, áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến thúc đẩy sản xuất bền vững nhằm nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm và
tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động
2 Kết quả thực hiện mối liên kết “4 nhà” trên địa bàn
2.1 Kết quả liên kết trong sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm
Các tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cà phê trên địa bàn huyện đã vận động nông dân liên kết, tham gia các tổ hợp tác sản xuất cà phê bền vững, cà phê sạch theo tiêu chuẩn Châu Âu; liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước chủ động tìm kiếm thị trường, ký kết bao tiêu toàn bộ sản phẩm cho nông dân tham gia các tổ hợp tác (THT) sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn châu Âu Qua đó, các doanh nghiệp mở rộng quy mô, đổi mới dây chuyền công nghệ sản xuất cà phê bột nguyên chất và cà phê hòa tan Đến nay, Công ty cà phê Đăk Uy đã mở rộng thị trường tiêu thụ sang thị trường Hoa
1 Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 01/11/2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đăk Hà về ứng dựng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện trên cơ sở chủ trương, đường lối của Trung ương, của tỉnh; Nghị quyết số 16/2012/NQ-HĐND ngày 17/12/2012 của HĐND huyện về việc phê duyệt Đề án ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn 2011 – 2015; Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 01/11/2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đăk Hà về ứng dựng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện; Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 30/6/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Chương trình số 36-CTr/HU của Ban Thường vụ Huyện ủy ĐăkHà ngày 24/10/2016 về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh,
2 UBND huyện ban hành 29 văn bản (kế hoạch, Chương trình, Phương án, Đề án)
Trang 3Kỳ, Singapo(3); sản phẩm cà phê bột Đăk Hà, thương hiệu “Vị đắng Bắc Tây Nguyên” của Công ty xuất nhập khẩu cà phê Đăk Hà được người tiêu dùng tin
cậy(4) Công ty TNHH MTV Nguyên Huy Hùng đã chủ động tham gia các Hội chợ quốc tế, Hội thảo, Festival đồng thời, mở rộng giao lưu, tìm kiếm thị trường, hàng năm ký hợp đồng xuất khẩu trực tiếp qua 4 kênh thương mại quốc
tế với 7 quốc gia và vùng lãnh thổ(5); cung ứng sản phẩm ra thị trường(6) và đi vào áp dụng quản lý theo hệ thống chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm (ATVSTP) theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 và ISO 2000: 2007
Năm 2014, huyện đã thu hút đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tinh bột sắn, liên kết với doanh nghiệp hỗ trợ giống mới cho nông dân sản xuất Hiện nay, nhà máy đi vào hoạt động ổn định, giải quyết được đầu ra cho cây sắn, tạo việc làm cho lao động địa phương, sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu ra thị trường quốc tế(7)
Số lượng hợp tác xã (HTX) kiểu mới được hình thành và phát triển cả về số lượng và đa dạng trong ngành nghề hoạt động Hợp tác xã sản xuất Nông nghiệp
và Thương mại Sáu Nhung, Hải Tình, Tân Sang Hoàng, đã đầu tư nhà xưởng, thiết bị chế biến cà phê bột đi vào hoạt động sản xuất; mở rộng cơ sở kinh doanh, liên kết với các Hợp tác xã trong và ngoài tỉnh để tìm đầu ra cho sản phẩm; tổ chức giới thiệu, cung ứng các sản phẩm đến tay người tiêu dùng Tạo điều kiện cho hợp tác xã liên kết, hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ dân sản xuất các loại nấm ăn và nấm dược liệu; HTX Cựu Quân Nhân áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất nấm như: sấy, ủ, cấy meo; tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nhiều hộ dân và đến nay đã ổn định thị trường tiêu thụ(8)
Số lượng cơ sở kinh doanh ngành thủy sản tăng, từng bước đáp ứng nhu cầu tư vấn kỹ thuật, bước đầu tổ chức thử nghiệm ươm các giống cá chất lượng(9) thành công phục vụ nhu cầu con giống và tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm; nhờ quan tâm phát triển mạnh mô hình nuôi cá lồng(10) nên chất lượng cá thương phẩm được nâng lên Nổi bật trong liên kết sản xuất, Trung tâm cá giống
Tá Tiến đã tạo điều kiện đầu tư con giống, thức ăn, bao tiêu sản phẩm cá thương phẩm cho nông dân, trung bình hàng năm bao tiêu trên 2.000 tấn cá thịt Từ năm
3 Tính từ năm 2008 đến nay, Công ty XNK cà phê Đăk Hà đã cung ứng ra thị trường 11.750 tấn cà phê nhân, trong đó xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ và Singapo 950 tấn; 110 tấn sản phẩm cà phê bột và 46 tấn sản phẩm
cà phê hòa tan thương hiệu Đăk Hà
4 Người tiêu dùng bình chọn TOP 500 sản phẩm - dịch vụ hàng đầu tại Việt Nam, hàng Việt Nam chất lượng cao phù hợp tiêu chuẩn, TOP 20 sản phẩm người tiêu dùng tin cậy và CUP vàng tiêu biểu vì sức khỏe cộng đồng, đầu năm 2014 sản phẩm đã chính thức được công nhận đạt chuẩn UTZ Certified và được bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia năm 2017
5 Kênh thương mại công bằng Faitrde, 4C, UTZ, RFA thông qua 7 quốc gia và vùng lãnh thổ gồm có Đức, Pháp, Mehico, Bỉ, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha và đặc biệt là cả thị trường khó tính như Mỹ
6 Tính từ năm 2012 đến nay, Công ty TNHH Nguyên Huy Hùng đã cung ứng ra thị trường 17,850 tấn sản phẩm cà phê bột và 48,7 tấn sản phẩm Cà phê hòa tan thương hiệu Đăk Mark, doanh thu của đơn vị đạt trên 1.031 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ xuất khẩu đạt gần 242 tỷ đồng
7 Công ty TNHH tinh bột sắn Tây Nguyên- Đăk Hà xuất khẩu sản phẩm tinh bột sắn sang thị trường Trung Quốc
8 Các loại nấm ăn (nấm sò, nấm mèo); nấm dược liệu: linh chi Hàn Quốc, Nhật Bản Mỗi ngày, HTX cung cấp 40-50kg nấm sạch cho chợ đầu mối các huyện, thành phố trên địa bàn và cung ứng cho địa bàn các tỉnh, thành lân cận, như Đà Nẵng, Phú Yên
9 Cá rô phi đơn tính, cá diêu hồng,
10 Năm 2013 với số lượng 6 lồng từ mô hình thí điểm, đến nay toàn huyện phát triển gần 250 lồng.
Trang 42014 đến nay, Trung tâm đã liên kết với Công ty xuất khẩu thủy sản EU xuất ra thị trường nước ngoài, bước đầu đã giải quyết đầu ra cho cá nước ngọt
Đã tập trung quy hoạch vùng sản xuất các sản phẩm chủ lực của huyện, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung và các cánh đồng lớn(11) gắn sản xuất với thị trường Đến nay, đã triển khai cánh đồng lớn sản xuất lúa thơm tại xã Đăk La với quy mô 32 ha, thực hiện theo hướng liên kết "4 Nhà" và thực hiện đảm bảo "2 cùng" (12); vận động hình thành THT và đã nâng lên HTX sản xuất lúa thơm tại xã Đăk La, giúp bao tiêu sản phẩm cho thành viên
2.2 Kết quả liên kết gắn với đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trong sản xuất
Từ các đề án, phương án và kế hoạch cụ thể, UBND huyện đã bố trí kinh phí và thu hút các nguồn vốn hỗ trợ các giống cây, con chất lượng và có giá trị kinh tế cao, hỗ trợ sản xuất lúa giống(13); liên kết với các tổ chức, trung tâm, nhà khoa học và nông dân thực hiện các mô hình thử nghiệm các giống lúa đạt năng suất cao(14), giống lúa cạn(15), giống ngô(16), các giống cây thuộc họ đậu(17), khoai tây, chanh dây, sắn cao sản(18), cao su ; sản xuất thử nghiệm các giống hoa có giá trị kinh tế cao(19), các giống rau chất lượng cao(20) và các giống cá có hiệu quả kinh tế cao(21); hỗ trợ trồng cây phân tán 437.678 cây các loại(22); hỗ trợ giống triển khai mô hình trồng gừng trong bao(23) Kết quả, phần lớn các mô hình được triển khai đều đạt hiệu quả kinh tế, tăng thêm nhiều loại giống mới thích nghi tốt với đều kiện tự nhiên, cho năng suất cao, chất lượng tốt, góp phần
tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác
Đã triển khai hỗ trợ máy cắt thức ăn cho gia súc, gia cầm với số lượng 30
máy/30 nhóm hộ (trong đó 15 máy gia súc, 15 máy gia cầm); hỗ trợ cho nhân
dân vay cây giống, liên kết với các cơ sở khoa học hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác cao su theo Đề án phát triển cây cao su hộ gia đình(24);
11 Huyện đã đăng ký quy hoạch cánh đồng lớn lên tỉnh dự kiến giai đoạn 2015-2020 có 21 cánh đồng lớn; gồm các cánh đồng cà phê (13 cánh đồng), lúa (6 cánh đồng), cao su (1 cánh đồng) và 01 cánh đồng rau hoa.
12 Cùng thời vụ và áp dụng chung quy trình kỹ thuật thâm canh
13 NSNN hỗ trợ 20% giá trị giống HT1 và từ 20-30% giá trị phân bón thực hiện 47,7ha
14 Sơn Lâm 1 đạt 7 tấn/ha; Sơn Lâm 2 đạt 7,75 tấn/ha; HT1 đạt 8-9 tấn/ha; CXT30 đạt 5,7 tấn/ha; Japonica đạt 5,5 tấn/ha (chất lượng gạo rất thơm, ngon); Thủ Đô, Vĩnh phúc 1, Vĩnh phúc 2 đạt đạt 6,5 tấn/ha
15 LC 93-4, LC 93-1 với diện tích 100ha/300 hộ nghèo, ĐBDTTS, năng suất bình quân 3 tấn/ha tại các xã Đăk La; xã Đăk Hring; xã Đăk Ui; thị trấn Đăk Hà và xã Đăk Pxi
16 VND 95-20, VN10, CP888, CP898, SK100, MX2
17 Đậu đen, đậu xanh với diện tích 53,9 ha năng suất 1-1,5 tấn/ha; đậu tương (DT 84, DT95, DT2008, DT99) với diện tích 31 ha, năng suất đạt 1,5-1,8 tấn/ha Riêng với đậu tương chịu hạn DT2008 năng suất cao hơn 2,2-2,5 tấn/ha
18 KM98, KM94, KM97,KM410, KM419
19 Mô hình Hoa lily 7.800 cây/2 hộ; hoa Tu lip 7.992 cây/2 hộ; hoa Lan Hồ điệp 800 cây/02 hộ; hoa đồng tiền Hà Lan 3.000 cây/05 hộ; mô hình hoa cúc 20.000 cây/08 hộ; hoa cát tường 7.000 cây giống/2 hộ
20 Mô hình Măng tây xanh với quy mô 1000 m 2 ; Giống cây dền đỏ 40.500 cây/2.700m 2 /07 hộ tham gia; hành tây 152.000 cây/3.800m 2 /9 hộ tham gia; cây bí đỏ Hàn Quốc 160 gói hạt giống/8.000m 2 /9 hộ tham gia; cây ớt ngọt 2.000 cây/500 m 2 /02 hộ tham gia, cây ớt năng suất cao 25 gói hạt giống/5.000m 2 /05 hộ tham gia; cây cà chua ghép 5.400 cây/2.000m 2 /6 hộ, dưa lê Hàn Quốc 20.000 hạt giống/8.000m 2 /10 hộ; khoai tây với tổng diện tích 1,86 ha/12 hộ
21 Cá rô phi đơn tính, cá Diêu hồng, cá chép, cá mè, cá trê lai, cá lóc, ếch, cá lăng và thác lát cườm
22 Cây xoan; muồng đen; hông; xà cừ; sao xanh; bời lời; huỳnh đàn
23 Hỗ trợ giống trồng 30.000bao/0,81ha/03 hộ tại thôn 1A, xã Đăk La; năng suất đạt 20 tấn/ha
24 Từ năm 2007 đến nay toàn huyện đã phát triển trồng mới 3.089,42 ha cao su hộ gia đình/2.901 hộ thực hiện, nâng tổng diện tích cây cao su toàn huyện đến nay là 7.200 ha
Trang 5huy động nguồn lực đầu tư ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp(25) Vận động nông dân sử dụng chế phẩm sinh học trên các loại cây trồng, từ năm
2012 đến nay đã thực hiện 4.149,2 ha/13.685 hộ trên 20 loại chế phẩm, trong đó UBND huyện liên kết với các tổ chức kinh tế, nhà khoa học triển khai mô hình
hỗ trợ chế phẩm sinh học Thanh Hà thực hiện trên cây cà phê, cây sắn, cây lúa nước với diện tích là 2.758,2 ha/13.057 hộ(26) với tổng kinh phí thực hiện 4.996,362 triệu đồng Việc hỗ trợ chế phẩm sinh học sử dụng trên các loại cây trồng từng bước thay thế và giảm sử dụng phân hoá học, cải tạo môi trường sinh thái, tăng độ ẩm cho đất; năng suất cây cà phê tăng 3,08 tấn tươi/ha; năng suất cây lúa tăng từ 1,2 - 1,5 tấn/ha; cây sắn năng suất tăng 2 tấn sắn khô/01ha
Triển khai thực hiện Đề án chuyển đổi trồng sắn trên diện tích 90,44 ha/94,84
ha đất lúa bị hạn thiếu nước(27)
2.3 Kết quả liên kết gắn đầu tư cơ sở hạ tầng; gia công, bảo quản, sơ chế, chế biến: Đã tranh thủ các nguồn vốn từ các chương trình, dự án của Trung
ương, Tỉnh và huy động nguồn vốn của doanh nghiệp, nhân dân để đầu tư và
hoàn thiện hạ tầng, nhất là đầu tư hệ thống giao thông, hệ thống điện phục vụ
sản xuất, đảm bảo đủ điều kiện cho các nhà máy chế biến nông sản hoạt động với quy mô công suất lớn và tạo ra sản phẩm có giá trị cao Cụ thể:
- Triển khai thực hiện chủ trương của huyện và lồng ghép với thực hiện Quyết định số 991 của UBND tỉnh, từ năm 2014 đến nay đã thực hiện tổng số 75,763 km đường bê tông xi măng trên địa bàn huyện; làm sạch không lầy lội 12,868km đường ngõ xóm; nâng cấp, sửa chữa 125,971km đường trục thôn, xóm; cứng hóa 1,5km đường nội đồng; kiên cố hóa 200km kênh mương; sửa chữa hồ đập đảm bảo tưới tiêu và làm cầu tràn đảm bảo đi lại phục vụ sản xuất(28)
- Phân bổ nguồn vốn ngân sách và huy động các nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất văn hóa(29); lắp đặt 1.400 m đường điện chiếu sáng công lộ xã Ngọk Wang
(400m) và xã Đăk Hring (1.000 m); đặt 185 bể thu gom vỏ, bao bì thuốc bảo vệ
thực vật ở khu sản xuất; hỗ trợ xây mới 123 công trình nhà ở dân cư và sửa chữa
20 căn nhà bị tốc mái do mưa, bão Đồng thời, vận động nhân dân đóng góp tiền
và công lao động xây dựng 03 cổng chào, sửa chữa 07 cụm loa truyền thanh
không dây, xây dựng 80m tường rào (trụ bê tông, kéo lưới B40), đổ bê tông
200m2 đường đi và sân nhà văn hóa thôn (thôn Đăk Xuân, xã Đăk Ngọk) Đã
thống nhất chủ trương để doanh nghiệp phối hợp với các Tổ hợp tác sản xuất cà
25 Toàn huyện hiện có khoảng 4 ha đầu tư nhà bạt trồng rau, hoa Trong đó nhà nước hỗ trợ đầu tư 3.475m2/4 hộ
tham gia (NSNN hỗ trợ 50% và nhân dân đối ứng 50% giá trị nhà bạt); hỗ trợ ống tưới nước tiết kiệm (tưới nhỏ
giọt và tưới phun mưa) cho 15 hộ dân sử dụng trên diện tích 1,725ha sản xuất trồng rau, hoa
26 361 ha cà phê/186 hộ; 2.322,2 ha lúa nước/12.760 hộ; 03ha/3 hộ cao su, 72 ha sắn/108 hộ (trong đó: dự án cấp
Bộ hỗ trợ chế phẩm sử dụng cho 100 ha cà phê/2 vụ 2016-2017)
27 Có 521 hộ dân tham gia Kết quả có 51,44 ha sinh trưởng và phát triển; 39 ha đã chết
28 Sửa chữa đập Jơng thôn 10 xã Đăk La; làm 02 đập tạm tại thôn 1 và thôn 6, xã Đăk Ui; làm đập bằng rọ đá rộng 2m, dài 6m tại thôn Kon Đao Jốp, xã Đăk Long; làm cầu tràn bằng rọ đá: rộng 5m, dài 20m tại thôn Kon Kơ Lốc,
xã Đăk Mar; làm cầu dân sinh tại thôn Tua Ria Yốp, xã Đăk Hring, làm mới công trình thủy lợi Đăk Lôi với tổng kinh phí 413 triệu
29 44 công trình, trong đó: đầu tư xây mới 25 công trình (01 nhà văn hóa xã, 07 nhà rông thôn, 13 sân thể thao
thôn, 01 khu vui chơi giải trí thôn 3, xã Hà Mòn, làm mới 01 sân bê tông nhà rông thôn Kon Hnông Pêng, xã Đăk Hring, xây dựng 02 sân thể thao xã), sửa chữa 21 công trình (01 trụ sở xã; 01 nhà văn hóa xã; 19 nhà văn hóa, nhà Rông thôn)
Trang 6phê đầu tư xây dựng 3 nhà văn hóa và bê tông hóa 300m đường giao thông, với tổng kinh phí khoảng 2,7 tỷ đồng từ nguồn vốn quỹ phúc lợi cộng đồng của các
THT Thu hút nguồn vốn tín dụng chuyên ngành JICA SPLG (Nhật Bản), huy
động vốn đối ứng của nhân dân triển khai dự án công trình cấp nước sinh hoạt thị trấn Đăk Hà; chuyển đổi mô hình xã hội hóa quản lý, khai thác bến xe Đăk Hà; thu hút doanh nghiệp đầu tư và đưa vào sử dụng chợ tổ dân phố 4b, thu hút đầu
tư chợ thôn 5, xã Hà Mòn (huyện đang làm thủ tục thu hồi đất) Hiện nay, trên
địa bàn có 01 chợ loại 3 và Bến xe huyện do doanh nghiệp đầu tư và khai thác
- Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai Dự án VnSAT tại địa bàn(30); qua đó, các hợp phần của dự án hỗ trợ đầu tư, nâng cấp
vườn ươm (vườn ươm Quý Hà); hỗ trợ các tổ chức nông dân (HTX, THT)(31) đầu tư
04 đoạn đường giao thông đi khu sản xuất cà phê, 04 sân phơi và 04 nhà kho bảo quản cà phê sau thu hoạch(32)
- Vận động các doanh nghiệp, HTX kiểu mới và các hộ dân đầu tư thiết bị,
xây dựng 13 lò sấy cà phê (tận dụng nguyên liệu phế phẩm trong nông nghiệp-
vỏ cà phê để sấy)(33); mạnh dạn đầu tư hệ thống thiết bị, ứng dụng mô hình nhà kính trong nông nghiệp(34) để phơi sấy cà phê tươi
- Đã chủ động khảo sát, lựa chọn và đề xuất các ngành của tỉnh quan tâm đầu tư, hỗ trợ các cơ sở sản xuất xây dựng mô hình sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, lắp đặt hệ thống dây chuyền máy ran xay cà phê, đóng gói cà phê hòa tan, thiết bị sản xuất mộc mỹ nghệ và sản xuất máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, máy chế biến thức ăn cho cá và xây dựng lò sấy nấm dược liệu
2.4 Kết quả liên kết gắn với chuyển giao khoa học công nghệ
- Đã liên kết với các Nhà khoa học, huy động nguồn lực của các tổ chức kinh tế đầu tư lắp đặt Trạm quản lý khí hậu- thời tiết tự động IMetos nhằm khai thác thông tin để cung cấp thông tin về khí hậu, thời tiết, dịch bệnh cho nhân dân trên địa bàn biết, chủ động ứng phó
- Chủ động đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ; phối hợp
với các Trường, Nhà khoa học hoàn thành đưa vào ứng dụng các đề tài:“Nghiên cứu, phát triển hệ thống cảnh báo sớm lũ quét trên địa bàn huyện Đăk Hà” và
"Hệ thống giám sát và cảnh báo cháy rừng thời gian thực ứng dụng công nghệ mạng cảm biến không dây” Đã tiến hành nghiệm thu đánh giá cấp tỉnh đối với
đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống xử lý nước thải khu giết mổ gia súc tập trung tại làng nghề công nghiệp, TTCN thị trấn Đăk Hà”; liên kết với các cơ sở
30 Diện tích cà phê thực hiện dự án là 1.581ha/1.213 hộ tham gia trên địa bàn xã Đăk Ngọk, Ngọk Wang, Hà Mòn, Đăk Mar, Đăk Hring, Đăk La và thị trấn Đăk Hà
31 02 THT sản xuất cà phê bền vững thôn Quyết Thắng và thôn Bình Minh - xã Hà Mòn; 02 THT sản xuất cà phê bền vũng thôn 7 - xã Ngọk Wang
32 Dự toán kinh phí đầu tư là 25,010 tỷ đồng Trong đó: vốn dự án và Ngân sách tỉnh: 24,163 tỷ đồng; vốn đối ứng của tổ chức nông dân là 0,847 tỷ đồng
33 Công ty NTHH MTV Nguyên Huy Hùng 04 cái; HTX kiểu mới sản xuất NN&DV Thương mại Hải Tình – Đăk Ngọk 01 cái; Hợp tác xã kiểu mới NN&DVTM công bằng Nông trại Pô Kô - thị trấn Đăk Hà 03 cái; hộ gia đình bà Thúy - thôn 3 Đăk Mar 01 cái; hộ ông Bùi Xuân Hoạt và bà Trương Thị Mỹ Lệ thôn ĐăkBình, xã Đăk Ngọk 02 cái Hộ ông Phạm Văn Sơn thôn 3 và ông Lê Ngọc Phương thôn Tân Lập B, xã Đăk Hring 02 cái
34 Hợp tác xã KM NN&DV TMCB Nông trại Pô Kô - thị trấn Đăk Hà đầu tư 1.260 m 2 nhà kính
Trang 7nghiên cứu, tổ chức kinh tế thực hiện Dự án: “Xây dựng mô hình nâng cao thu nhập của người dân thông qua liên kết tổ chức ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật cải tạo thâm canh để kéo dài chu kỳ kinh doanh cây cà phê tại
2 xã xây dựng nông thôn mới: Đăk Mar, Hà Mòn và Thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum Liên kết với các đơn vị cung ứng sản phẩm tổ chức 245
lớp tập huấn cho 12.250 lượt hộ dân tham gia về kỹ thuật thâm canh cây trồng cạn như sắn, đậu đỗ, lúa cạn, ngô lai và cây công nghiệp như cao su, bời lời, cây điều Phát 50.000 bộ quy trình kỹ thuật trồng cây công nghiệp và cây trồng cạn cho nhân dân; tổ chức 07 buổi tập huấn kỹ thuật và 47 buổi Hội thảo trình diễn đầu bờ về sử dụng các loại phân bón sinh học cho 1.108 lượt nông dân tham gia
Tổ chức cho 10 hộ nông dân đi học tập, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại huyện Đơn Dương - tỉnh Lâm Đồng
- Triển khai hỗ trợ nông dân áp dụng công nghệ tưới nước tiết kiệm bằng phương pháp nhỏ giọt, phun mưa(35) và xây dựng nhà bạt trồng rau, hoa chất lượng cao(36); ứng dụng công nghệ sinh học trong chăn nuôi(37) Các mô hình trên
đã góp phần giảm ô nhiễm môi trường, hạn chế bệnh ở cây trồng, gia súc, phát triển nông nghiệp bền vững
- Đã phối hợp triển khai có hiệu quả Dự án VNSAT Đến nay, đã tổ chức
18 lớp tập huấn đào tạo về sản xuất cà phê bền vững cho 913 nông dân/1.382ha; triển khai 07 lớp đào tạo về tái canh cà phê bền vững cho 300 nông dân với diện tích 199 ha Phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng và Dịch vụ KH&CN
tỉnh triển dự án “Ứng dụng công nghệ vi sinh sản xuất chế phẩm vi sinh vật đa chức năng để xử lý phế phẩm nông nghiệp làm phân bón” tại các xã và thị trấn
Đăk Hà Qua đó đã tổ chức hỗ trợ 1.680kg chế phẩm vi sinh cho nông dân xử lý
vỏ cà phê làm phân bón vi sinh phục vụ sản xuất cà phê và các cây trồng khác
2.5 Kết quả công tác thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã, trang trại nhằm liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Đã thành lập được 71 THT, trong đó có 15 THT sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn quốc tế với 667 hộ tham gia Các Tổ hợp tác sản xuất cà phê sạch có sự liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế quốc tế, Nhà khoa học để tiếp nhận thông tin, kỹ thuật canh tác cà phê bền vững; sản phẩm cà phê của thành viên các tổ hợp tác sản xuất đảm bảo theo quy trình kỹ thuật và được chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế; các THT ngày càng phát triển số lượng thành viên và đã đi vào hoạt động có hiệu quả, tạo ra quỹ phúc lợi để đầu tư làm đường giao thông, trạm y
tế, nhà văn hóa phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống của thành viên và dân cư trong vùng Trong quá trình hoạt động, đến nay có 01 THT sản xuất cà phê đã nâng lên thành lập Hợp tác xã(38)
35 Mô hình lắp đặt hệ thống tưới nước tiết kiệm, trong đó mô hình tưới nước phun mưa với quy mô 111 cuộn/27.750m 2 /16 hộ tham gia và mô hình tưới nước nhỏ giọt quy mô 1.000m 2 /1 hộ tham gia
36 Mô hình nhà bạt trồng rau sạch chất lượng cao, quy mô khoảng 3.400m 2/4hộ
37 Tính từ năm 2008 đến nay với nhiều nguồn vốn huyện hỗ trợ và kết hợp vốn đối ứng của Nhân dân đã lắp đặt được 51 bể biogas/51 hộ tham gia; triển khai mô hình sử dụng công nghệ đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn trên địa bàn, với tổng quy mô 5.000 m 2
38 HTX Kiểu mới Nông nghiệp & Dịch vụ thương mại công bằng Nông trại Pô Kô Quá trình hoạt odojng, HTX bao tiêu sản phẩm và thu mua với giá cao hơn giá thị trường từ 200 đồng - 300 đ/kg cà phê nhân khô
Trang 8Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển các hình thức sản xuất, kinh tế HTX, kinh tế trang trại và nhóm hộ, tổ hợp tác, trong đó chú trọng xây dựng, phát triển các hợp tác xã, tổ hợp tác dịch vụ cung ứng vật tư cho sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ hàng nông sản Hiện nay, trên địa bàn huyện có 84 công
ty, chi nhánh, văn phòng đại diện, doanh nghiệp tư nhân; 14 HTX (12 HTX huyện quản lý và 01 HTX tỉnh quản lý), trong đó có 09 HTX đang hoạt động hiệu
quả theo Luật HTX năm 2012(39); 71 THT/2.845 tổ viên, 17 Nhóm hộ đang hoạt động, trong đó có 51 Tổ hợp tác, 17 nhóm hộ đã đăng ký hoạt động với chính quyền xã, thị trấn và 35 trang trại đạt tiêu chí trang trại mới theo Thông tư số
27/2011/TT-BNNPTNT (31 trang trại được cấp giấy Chứng nhận kinh tế trang trại)
2.6 Kết quả liên kết đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đã liên kết với các Trường Cao đẳng, Đại học đào tạo mở các lớp trung cấp, cao đẳng nghề cho người lao động trên địa bàn; phối hợp với các doanh nghiệp chế biến gỗ, cung ứng meo nấm để đào tạo nghề gắn với sản xuất Từ năm 2008 đến nay đã tổ chức đào tạo 196 lớp (40) với 6.024 học viên (trong đó
đã xét tốt nghiệp và cấp chứng chỉ cho 5.683 học viên sơ cấp nghề và nghề thường xuyên với kinh phí thực hiện là trên 6,9 tỷ đồng) Bên cạnh đó, một số
nông dân đã chủ động tự liên hệ với các cơ sở đào tạo tham gia tập huấn kỹ thuật trồng cây ăn trái, nuôi cá nước ngọt để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và thu nhập
2.7 Thực hiện cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp
Đã tranh thủ nhiều nguồn vốn từ nhiều chương trình để hỗ trợ cho nhân dân đầu tư máy móc, thiết bị sử dụng trong sản xuất nông nghiệp; bên cạnh đó nhiều
hộ dân đã đầu tư nhiều loại máy móc, công nghệ mới phục vụ sản xuất nông nghiệp Đến nay, các địa bàn thuận lợi sử dụng máy cày rạch hàng trong vườn cây cà phê, cây cao su, dùng máy đập cỏ, máy cày làm đất, máy gặt đập liên hoàn, máy phun thuốc, lắp đặt hệ thống tưới cà phê theo phương pháp tưới phun mưa tiết kiệm nước và nhiều thiết bị ứng dụng công nghệ vào trong sản xuất(41)
Tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp phát triển(42), góp phần giảm lao động thủ công, giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho người dân và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
3 Triển khai chính sách hỗ trợ của Nhà nước gắn thực hiện mối liên kết "4 Nhà"
39 HTX Lộc Phát, HTX Hải Tình, HTX Kiểu mới Nông trại PôKô; HTX Nông nghiệp Trọng Phát; HTX nông nghiệp, thương mại và dịch vụ Cựu quân nhân; HTX nông nghiệp, thương mại và sản xuất Sáu Nhung, HTX kiểu
mới Tân Hoàng Sang, HTX Thành Nhân; Quỹ tín dụng nhân dân 04 HTX ngừng hoạt động (HTX nông, lâm
nghiệp, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ du lịch Hương Nguyên , HTX Toàn Thắng; HTX Hợp Nhất; HTX 19/5)
HTX Laduvi xin tạm ngừng hoạt động
40 Gồm: 167 lớp đào tạo nghề nông nghiệp; 29 lớp đào tạo nghề phi nông nghiệp như vận hành sửa chữa máy nông nghiệp, nề hoàn thiện và mộc dân dụng
41 Toàn huyện có 1.663 thiết bị tưới nước, trên 2.878 máy bơm nước, trên 1.031 máy phun thuốc, có 15 máy gặt đập liên hoàn, có trên 574 máy kéo các loại, máy cắt thức ăn cho gia súc, gia cầm với số lượng 30 máy, và nhiều máy tuốt lúa loại trung, nhỏ
42 Tỷ lệ các các công đoạn được cơ giới hóa: làm đất và bơm nước 100%; gieo cấy 45%; thu hoạch 98%; sấy, tuốt, đập, tách hạt 70%; vận chuyển 98%
Trang 9Hàng năm, huyện triển khai chính sách hỗ trợ khuyến công, khuyến nông
và chương trình xúc tiến thương mại và khoa học công nghệ của tỉnh đến cơ sở
và các tổ chức, cá nhân sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh thương mại trên địa bàn Trong 9 năm gần đây, đã phối hợp triển khai chương trình hỗ trợ khuyến công cho 11 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với tổng kinh phí hỗ trợ là 1.310 tỷ đồng (43) Giới thiệu 04 doanh nghiệp, HTX để tỉnh hỗ trợ chương trình xúc tiến thương mại, tham gia Hội chợ thương mại khu vực và Quốc tế; tạo điều kiện bố trí mặt bằng, thu hút doanh nghiệp ngoài tỉnh tổ chức Hội chợ thương mại hàng năm
Gắn với các chương trình mục tiêu của Trung ương và chính sách của tỉnh, huyện bố trí kinh phí hỗ trợ giống, phân bón và để triển khai các mô hình thử nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ lãi suất để hộ nghèo vay trồng cây cao su, sản xuất lúa giống Đặc biệt, năm 2014-2018 huyện có chủ trương khuyến khích phát triển nông nghiệp trong vùng đồng bào DTTS(44)
Phối hợp với Sở Công thương vận động tiểu thương xã hội hóa xây dựng
mô hình chợ đảm bảo an toàn thực phẩm, thu hút doanh nghiệp thực hiện Chương trình đưa hàng Việt về nông thôn Từ năm 2011 đến nay, huyện đã phối hợp tổ chức được 10 đợt đưa hàng Việt về nông thôn, tạo điều kiện cho người đồng bào DTTS tham gia mua sắm hàng Việt có chất lượng Tham gia chương trình, các doanh nghiệp đã được tỉnh cho vay ưu đãi để triển khai đưa hàng về nông thôn, bán hàng bình ổn giá có giá cả phù hợp tạo được sự đồng tình của người dân, đảm bảo an sinh xã hội trong vùng đồng bào DTTS; đồng thời góp phần ngăn chặng việc đầu cơ găm hàng, tăng giá quá mức của các cơ sở kinh doanh tạp hóa, hàng thiết yếu trong vùng nông thôn vùng sâu, vùng xa
Đã xây dựng Phương án trình HĐND huyện ra Nghị quyết phê duyệt thí điểm làm đường giao thông nông thôn với phương châm Nhà nước hỗ trợ 200 tấn xi măng/km đường bê tông xi măng, phần còn lại địa phương huy động nhân dân và doanh nghiệp liên kết đầu tư (45)
Đã triển khai chương trình bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp huyện năm 2016 và phối hợp với Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh hướng dẫn các doanh nghiệp hoàn chỉnh hồ sơ và gửi sản phẩm tham gia bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh, khu vực và cấp quốc gia nhằm từng bước tạo được vị thế, thương hiệu cho
43 Cơ sở Tiến thành: 80 triệu đồng để đầu tư thiết bị sản xuất máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp; Công ty XNK cà phê: 150 triệu đồng đầu tư dây chuyền ản xuất cà phê bột; cơ sở mộc Quang: 80 triệu đồng đầu tư thiết
bị sản xuất đồ mỹ nghệ; cơ sở sơ chế chanh dây tại Cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp làng nghề thị trấn:
80 triệu đồng để đầu tư khi làm lạnh sản phẩm sơ chế; Công ty TNHH Nguyên Huy Hùng: 160 triệu đồng để xây dựng mô hình sản xuất sạch hơn trong công nghiệp chế biến nông sản; HTX cựu quân nhân Đăk Hring: 50 triệu đồng để xây dựng lò sấy nấm dược liệu; HTX Hợp Nhất: 90 triệu đồng để đầu tư máy chế biến thức ăn cho cá; HTX sản xuất Nông nghiệp và Thương mại Sáu Nhung: 120 triệu đồng để đầu tư dây chuyền đóng gói sản phẩm
cà phê; HTX Hải Tình 200 triệu để đầu tư máy chế biến cà phê bột; HTX Pô Kô 100 triệu đồng; HTX NN&TM Lộc phát - xã Hà Mòn được hỗ trợ 200 triệu đồng
44 Hỗ trợ 100% giá trị chế phẩm sinh học cho người đồng bào DTTS thuộc đối tượng người nghèo, cận nghèo sử dụng trên cây lúa, cây sắn và hỗ trợ 50% cho đối tượng không thuộc hộ nghèo
45 Tính từ năm 2014 đến nay tổng số km đường bê tông xi măng thực hiện được trên địa bàn theo phương châm
"Nhà nước hỗ trợ, doanh nghiệp và nhân dân đóng góp" thực hiện được là 75,763km
Trang 10các sản phẩm trên địa bàn Kết quả có 5/5 sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh(46); 03 sản phẩm tham gia đạt giải sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp khu vực(47); 02 sản phẩm tham gia đạt giải sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia(48)
Để xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý Đăk Hà cho sản phẩm cà phê, góp phần truy xuất nguồn gốc và duy trì danh tiếng của sản phẩm, nâng cao đời sống cho người dân trong vùng sản xuất, kinh doanh sản phẩm cà phê, huyện đã chủ động đăng ký nhiệm vụ, bố trí kinh phí đối ứng và đang phối hợp với Viện Thổ Nhưỡng Nông hóa triển khi thực hiện Dự án “Xây dựng chỉ dẫn địa lý Đăk Hà
cho sản phẩm cà phê huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum” (thực hiện từ 2018-2020)
4 Đánh giá chung
4.1 Ưu điểm
Huyện luôn quan tâm triển khai thực hiện tốt Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg, ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ; hàng năm duy trì đánh giá việc thực hiện mối liên kết “4 Nhà” Đồng thời, quán triệt và thực hiện tốt phương châm
“huy động nội lực tại chỗ là chính”; coi trọng vai trò làm chủ của người dân, từ đó
thu hút sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp, tạo sự đồng thuận cao trong hệ thống chính trị để thực hiện tốt mối liên kết ”4 Nhà” Đã chủ động xây dựng mối liên kết, mời gọi các cơ sở khoa học, viện nghiên cứu trên cả nước, các tổ chức khoa học trong tỉnh kịp thời chuyển giao ứng dụng kỹ thuật cho nông dân; tạo điều kiện và triển khai các chính sách ưu đãi để thu hút các nhà đầu tư, các thành phần kinh tế đầu tư vào địa bàn huyện, nhất là lĩnh vực sản xuất, chế biến nông sản Các Trung tâm, nhà khoa học đã tạo điều kiện và phối hợp với địa phương sản xuất thử nghiệm tạo ra nhiều giống cây, con mới có giá trị kinh tế cao; không ngừng nghiên cứu, xây dựng quy trình canh tác nông nghiệp, kịp thời chuyển giao ứng dụng kỹ thuật mới cho nông dân Các thành phần kinh tế, doanh nghiệp nâng dần trách nhiệm xã hội, liên kết với nông dân
để thành lập các tổ hợp tác sản xuất; ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực hiện sản xuất sạch hơn trong nông nghiệp và công nghiệp, làm cơ sở cho việc phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, bao tiêu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Một bộ phận nông dân trên địa bàn đã chủ động liên kết với các cơ sở đào tạo nghề, Trung tâm chuyển giao khoa học để tiếp cận khoa học kỹ thuật, nâng dần trình độ canh tác; lựa chọn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, từng bước thành công trong các mô hình thử nghiệm, phát triển sản xuất
Nhờ có sự liên kết chặt chẽ, phối hợp đồng bộ và có sự chủ động của các ngành, những năm qua huyện đã triển khai và đạt nhiều kết quả nhất định Diện tích cây cà phê-cây chủ lực(49) và sản phẩm chủ lực của huyện như cà phê, sắn,
46 Sản phẩm được công nhận cấp tỉnh: Cà phê bột Đăk Hà của Công ty XNK cà phê Đăk Hà, Cà phê bột ĐakMark và cà phê túi lọc Chồn của Công ty TNHHMTV cà phê Nguyên Huy Hùng, Cà phê đặc biệt Sáu Nhung của HTX Sáu Nhung, cà phê bột Hải Tình
47 Sản phẩm được công nhận cấp khu vực: cà phê bột Đăk Hà; cà phê bột Đăk Mark và cà phê túi lọc Chồn
48 Sản sản phẩm được công nhận cấp Quốc gia: cà phê bột Đăk Hà và cà phê túi lọc Chồn
49 Diện tích cà phê 6.993ha (năm 2005) tăng lên 9.975,91ha (năm 2018); năng suất từ 18,26tạ nhân khô/ha (năm
2005) tăng lên 30,81 tạ nhân khô/ha (năm 2017); cây cao su năm 2008 diện tích 4.320,6ha đến nay tăng lên