3 pdf 4 pdf 5 pdf 6 7 pdf 8 pdf 9 pdf 10 12 pdf 13 15 pdf 16 pdf 17 pdf 18 22 pdf 23 25 pdf 26 27 pdf 28 pdf 29 pdf 30 31 pdf 32 33 pdf 34 pdf 35 pdf 36 pdf 37 pdf 38 pdf 39 pdf 40 41 pdf 42 pdf 43 pd[.]
Trang 1Nhà su Khất Si
cố NI TRƯỞNG THÍCH NỨ BẠDHIIÊN
ĐỆ NHỊ TRƯỞNG NI GIỚI HỆ PHÁI KHẤT SĨ VIỆT NAM
Cố Ni trưởng TN Bạch Liên thế danh Võ Nhờ vào tình thương trong sáng
Thị Hiến, sanh tháng 11 năm 1924 (Giáp lý) và thiện lành của cha mẹ, nhờ tinh
tại Láng Cò, nay là ấp 4, xa Mỹ An, quận Thủ thân giáo dưỡng con cái rất mực kỷ
Thừa, tỉnh Long An cương, nên tự thuở còn thơ Ni trưởng
Ni trưởng là trưởng nữ trong một gia đình đã thể hiện nhiều đức tánh cao quý:
thâm nho, đạo đức, làm nông nghiệp lâu đời thông minh, hiếu thuận, hiển thục,
Thân phụ là cụ ông Võ Văn Tý và thân mẫu là đoan trang, gánh vác mọi công việc
cụ bà Ngô Thị Đường, pháp danh Truyền Ngọc lao nhọc chẳng nại hà, được người
Ông bà cụ có tất cả 9 người con: 4 trai, 5 gái người mến phục thương yêu
128
Trang 2Nhà sư Khất Sĩ
II THỜI KỲ XUẤT GIA HÀNH ĐẠO
HOANG PHAP LỢI SANH
1 Tu theo Bắc Tông
Năm Ni trưởng 18 tuổi (1942), căn cơ
chín muồi, phước duyên hội đủ, tại Sắc Tứ
Long Hội (còn gọi chùa Xóm Chuối) làng
Tân Hòa Thành, quận Châu Thành, tỉnh
Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), Ni trưởng
được Hòa thượng Viện chủ Thích Hoằng
Thông tế độ xuất gia truyền sa di giới, pháp
danh Nhuận Cung, tự Diệu Phùng Cùng
được xuất gia với Ni trưởng là Ni sư Tam,
pháp danh Nhuận Đắc, tự Diệu Lực
2 Tu theo Khất Sĩ
Năm 1946, khi Đức Tôn sư Minh Đăng
Quang, Tổ sư sáng lập Hệ phái Khất Sĩ Việt
Nam, về hoằng pháp tại chùa Linh Bửu, làng
Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, Ni trưởng cùng Ni sư
Tam được phép Bổn Sư đến cầu pháp nơi Đức
Tổ sư Minh Đăng Quang Cùng cầu pháp với
hai vị là cố Ni trưởng Thích nữ Huỳnh Liên
Cả ba vị đã được Tổ sư chứng minh truyền y
bát, cụ túc giới Khất sĩ và thọ ký pháp danh
là Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên vào
mùng 1 tháng 4 năm Đinh Hợi (194?) tại chùa
Linh Bửu Ni trưởng là đệ tử Ni thứ hai của
Tổ sư Cả ba vị đều được thừa truyền mạng
mạch Phật pháp, nối gót Tổ sư tu học, tiếp
độ chúng Ni, hoằng truyền Phật Pháp
3 Hoằng dương chánh pháp
Ý thức trách nhiệm thượng cầu hạ hóa, là
sứ giả Như Lai, Ni trưởng phát từ tâm, trương
bi nguyện, nguyện dồn chướng nghiệp,
nguyện vượt trở ngăn, nguyện lãnh nghiệp
chúng sanh, chứng thành Phật quả qua bài
thơ “Bốn mươi tám lời nguyện” của Ni trưởng
sáng tác Do sở nguyện đó, Ni trưởng càng
gặp nhiều gian nan và tai nạn, bịnh khổ cứ
dập dồn suốt lộ trình tu học và hành đạo
Mùng 1 tháng 2 năm Giáp Ngọ (1954),
Đức Tổ sư Minh Đăng Quang thọ nạn và vắng
bóng, Khất Sĩ như con thuyền không lái bập
bẻnh giữa biển cả sóng to Nhưng Ni trưởng
đã trương đại bi tâm, sát cánh cố Ni trưởng
Huỳnh Liên nghiêng vai gánh gồng Phật sự,
lèo lái con thuyền Giáo hội Ni giới Khất Sĩ
song song với con thuyền Giáo hội Tang Gia,
truyền thừa Phật Pháp rộng sâu trong quan chúng nhân dân Thuyền Giáo hội ngược dòng rẽ sóng đến các tỉnh thành quận huyện, khi trung thổ, lúc sơn xuyên, xuôi ngược sông Tiền, sông Hậu, thiết lập đạo tràng, tiếp
độ và lanh đạo chúng Ni, cứu khổ chúng sanh không mòn mỏi Ở Miền Nam, thành quả vẻ
vang của Ni trưởng đáng được ghi nhận, tuyên dương là công khai thác rừng hoang ở
Tha Dau Một để thành lập Tịnh xá Ngọc Bình vào năm 1954 và khai thác đất núi thật gian nan ở Bãi Dâu (Vũng Tàu) để dựng xây
tịnh xá Ngọc Bích năm 1959
Điểm nổi bật nhất của Ni trưởng là kể từ năm 1958 đến nay, ôm hoài bão tiếp chúng
độ sanh miền Trung, Ni trưởng đã đõng mãnh giong thuyền giác, chuyển pháp khai tâm khắp sơn khê, nông thôn, phố thị từ Thuận Hải đến Cam Lộ, Quảng Trị, Thừa Thiên, không nơi nào không có dấu chân
hành đạo của Ni trưởng
Got vang thodn thodt du phuong
lâm kừnh nở giữa tinh thuong van lodi
Từ đó các Tịnh xá hình bát giác lai thi
đua dựng lên trên khắp nơi, song song với công hạnh cố Ni trưởng Thích nữ Huỳnh Liên trên khắp miền duyên hải, miền Đông
và đồng bằng Nam Bộ
Năm 1972, Ni trưởng làm lễ đặt viên đá dau tiên xây dựng đạo tràng tịnh xá Ngọc Ninh thị xã Phan Rang, nơi mang nhiều ấn
tích và công hạnh lớn lao của Ni trưởng Sau
nhiều lần trùng tu tái thiết, mãi đến năm 1993
mới thật sự hoàn thành Ni trưởng ra đi khi mọi việc đã tròn xong
Ôi, tỉnh thần hoằng dương chánh pháp,
báo Phật thâm ân của Ni trưởng thật rộng khơi và đi vào vô tận!
4 Tu tập và giáo huấn môn sanh, gương lành hạnh quý
Hàng tứ chúng không sao quên được
những tháng ngày nhọc nhằn, gian lao của
Ni trưởng khi khai rừng phá rẫy noi déo Dt
Di dé lap nông trang suốt 17 năm dài sau
129
Trang 3ngày giải phóng Ni trưởng tự thân mình
cùng với chúng Ni cần mẫn lao động trên
24 mẫu đất giữa rừng núi xanh ngát, để có
tiền nuôi chúng, giáo dưỡng cô nhỉ và giúp
người khốn khổ, không kể thân sơ, không
phân lương giáo
Về hạnh tu, ngoài những thời khóa công
phu thiền định, ban đêm Ni trưởng còn dành
nhiều thời giờ nghiên cứu kinh điển, viết bài,
dạy chúng, nêu gương sách tấn Ni trưởng
cũng rất nghiêm túc về giới luật kỷ cương
Ngài là Ni sư phó, kiêm Trưởng ban Trị sự
Ni giới Hệ phái Khất Sĩ Việt Nam trước
ngày giải phóng Từ năm 1987, sau khi Ni
trưởng Huỳnh Liên viên tịch, Ni trưởng
được Ni giới nhất tâm suy cử lên ngôi vị
Đệ nhị Trưởng Ni giới Hệ phái Khất Sĩ cho
đến ngày viên tịch
Bên cạnh việc tu hành phạm hạnh, lãnh
đạo chúng Nị, trong giờ lao động hay khi tiếp
xúc với mọi người, Ni trưởng còn sáng tác
thơ văn, đặc biệt là khả năng “xuất khẩu thành
tho” Ni truéng da lưu lại cho đời một số bài
thơ Đường, bát cú dạng ngẫu hứng và một
số bài loại song thất lục bát, thấtngôn trường
thiên, phú, vè, văn tế, v.v Văn nghĩa rõ ràng,
giản đơn dé hiểu, gởi gắm bổn hoài, gắn bó
tâm hồn cùng Đạo pháp và quê hương Dân
Nhà sư Khat Si
tộc Ni trưởng cũng rất chú trọng đến việc
đào tạo nhân tài mai hậu, ủng hộ thường xuyên việc thành lập trường Phật học ở Phan
Rang và nhiều nơi khác
Thế rồi, một thoáng vô thường chợt đến, dâu khô, đèn tắt, vào lúc 21 giờ 30 phút ngày
17 tháng 11 năm Binh Ty (26.12.1996), Ni
trưởng đã thu thản thị tịch, xả bỏ báo thân, hưởng thọ 73 tuổi, hạ lạp 53
Than tu dai da hoàn nguyên 0è tứ đại,
Cõi Tây phương rày tự tai voi Tây phương Năm mươi ba năm với công huân giong thuyền lướt sóng, vững tay chèo xuôi ngược, vượt trở ngại gian lao, Ni trưởng đã nêu cao gương hạnh, hội nhập vào lòng người, là
mạch sống rạt rào giới đức và bi trí tuyệt vời
trong tâm khảm của mọi người
Ngẫm lại, hơn 11 lần xuân hạ thu đông, thời gian không đợi, không gian biến dịch,
công đức và đạo hạnh của Ni trưởng sinh thời
đã cống hiến cho Đạo Pháp và chúng sanh vẫn sống mãi trong tâm tư, trong ký ức của
những người con Phật Quả thật:
Bach thanh m6ét céi long chon tinh
Liên héa sen vang chắp cánh bay
Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha
Tát, tác đại chứng minh